phân tích ảnh hưởng của giải pháp kích cầu tiêu dùng đến cầu tiêu dùng sản phẩm bánh, kẹo của công ty tnhh chế biến thực phẩm đức hạnh trên thị trường nội địa trong thời gian qua - Pdf 24

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
phân tích ảnh hưởng của giải pháp kích cầu tiêu dùng đến cầu tiêu dùng sản phẩm
bánh, kẹo của công ty TNHH chế biến thực phẩm Đức Hạnh trên thị trường nội
địa trong thời gian qua
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua tình hình kinh thế thế giới biến động mạnh theo chiều hướng
suy thoái từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây xáo trộn lớn về kinh tế
-xã hội nhiều nước nhất là những nước đang phát triển và kém phát triển trong đó
có Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ và cũng có những dấu
hiệu suy thoái mạnh. Kinh tế - xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình
hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường.Giá dầu thô,
giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hóa khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong
những tháng đầu năm và giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các
mặt hàng trong nước, lạm phát cao và duy trì trong một thời gian dài, giá vàng
tăng đột biến, lãi suất trên thị trường tài chính điều chỉnh liên tục cùng với sự giảm
sút mạnh trên thị trường chứng khoán. Từ tình trạng lạm phát cao, thế giới phải
đối đầu với nguy cơ suy giảm tăng trưởng sâu, đi cùng với tình trạng giảm mạnh
giá dầu, giá lương thực và các loại nguyên liệu thô khác, điều này đã tác động rất
lớn đến tình hình kinh tế nước ta.
Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trong năm qua đã làm giảm tốc độ tăng
trưởng của Việt Nam từ 8,5% (năm 2007) xuống chỉ còn 6,2 % (năm 2008). Một
thực tế đang diễn ra là ở Việt Nam suy thoái kinh tế khiến cho nhiều doanh nghiệp
phải thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm nhân công để giảm thiểu chi phí, điều này
đồng nghĩa với việc có hàng nghìn người mất việc làm, thu nhập của những người
lao động ngày càng giảm sút trong khi đó giá cả của nhiều loại hàng hóa lại tăng
khá cao. Có thể nói suy thoái kinh tế đang làm nghèo hóa hàng triệu người Việt
Nam, trong tình thế này người tiêu dùng buộc phải thắt chặt chi tiêu khiến cầu về
hàng hóa tiêu dùng giảm mạnh. Theo kết quả của một cuộc điểu tra gần đây của

nguồn nhân lực cho tương lai… Hơn nữa, góp phần vào công cuộc thực hiện chính
sách phát triển nền kinh tế theo hướng định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục con
đường phát triển và hội nhập.
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ những vấn đề mang tính cấp thiết trên những nội dung chính của
đề tài là phân tích ảnh hưởng của giải pháp kích cầu tiêu dùng đến cầu tiêu dùng
sản phẩm bánh, kẹo của công ty TNHH chế biến thực phẩm Đức Hạnh trên thị
trường nội địa trong thời gian qua.Quá trình nghiên cứu những ảnh hưởng này sẽ
làm cơ sở để xây dựng các giải pháp kích cầu tiêu dùng trong bối cảnh giảm phát
hiện nay.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Nghiên cứu về thị trường bánh kẹo hiện nay
- Nêu tổng quan về thị trường bánh kẹo nội địa
- Nêu một số kiến nghị với các doanh nghiệp bánh kẹo trong nước.
1.3.2. Nghiên cứu về thị trường bánh kẹo của công ty TNHH chế biến thực
phẩm Đức Hạnh
- Nêu đánh giá tổng quan về tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH
chế biến thực phẩm Đức Hạnh
- Phân tích những dữ liệu thu thập được từ công ty
- Nêu một vài kiến nghị đối với công ty
1.3.3. Nghiên cứu về các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến việc tiêu dùng
sản phẩm bánh kẹo trên thị trường nội địa của công ty TNHH chế biến thực
phẩm Đức Hạnh
- Ảnh hưởng của môi trường vĩ mô
- Ảnh hưởng của môi trường vi mô
1.4. Phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Không gian
Đề tài nghiên cứu, tìm hiểu và giải quyết ảnh hưởng của các giải pháp kích cầu

và dịch vụ sản xuất ở ngoài nước được các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ
mua, tức nhập khẩu (IM).
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
• Kích cầu
Kích cầu là biện pháp mà chính phủ sử dụng các công cụ, chính sách để kích
thích sản lượng của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tháo gỡ khó khăn và
tạo nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước, kích thích sự bùng phát
của cả nền kinh tế.
• Lý thuyết về kích cầu
Khi nền kinh tế của một nước ở trong tình trạng bất ổn thì chính phủ của các
nước đó thường nhận lãnh trách nhiệm thúc đẩy và cải thiện phúc lợi kinh tế. Để
hoàn thành nhiệm vụ này, thì ngoài việc can thiệp vào các thị trường cụ thể để cải
thiện kết cục của chúng, chính phủ còn tìm cách ổn định hoạt động của nền kinh tế
với tư cách là một tổng thể. Các công cụ để ổn định nền kinh tế vĩ mô được chính
phủ sử dụng là các chính sách vĩ mô, trong đó trọng tâm là chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ.
Trên quan điểm đó, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái làm cho tổng cầu của nền
kinh tế sụt giảm mạnh, lúc này chính phủ cũng sẽ sử dụng công cụ chính sách vĩ
mô là chính sách tiền tệ mở và chính sách tài khóa mở để kích thích cho tổng cầu
tăng lên.
1.5.2. Phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn tình hình kinh tế nước ta, nhìn nhận những hạn chế của
các công trình nghiên cứu về vấn đề này trong thời gian qua đồng thời cũng trên
cơ sở thực tiễn hoạt động kinh doang của công ty đề tài của em tập trung nghiên
cứu ảnh hưởng của các giải pháp kích cầu đối với cầu tiêu dùng của công ty.
Khi nghiên cứu về giải pháp kích cầu đối với cầu tiêu dùng của công ty đề tài
tập chung vào giải pháp kích cầu với mặt hàng bánh kẹo của công ty. Bởi vì cầu
đối với mặt hàng này sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty.
Cơ sở để đưa ra các giải pháp kích cầu tiêu dùng về phía nhà nước là sự tác

0
AD
2
E
2
AD
1
E
1
∆G AD
0
E
0

0 Y
0
Y
1
Y
2
Y
Hình 1.1 : Tác động của việc tăng chi tiêu đến tổng cầu và sản lượng cân bằng
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
Tuy nhiên đây chưa phải toàn bộ tác động của sự thay đổi chi tiêu của chính
phủ đối với tổng cầu. Bởi vì một sự gia tăng chi tiêu ∆G của chính phủ trực tiếp
làm tăng GDP một lượng tương ứng. Các doanh nghiệp thuê công nhân để sản
xuất mức sản lượng tăng thêm này, do đó tiền lương và lợi nhuận tăng và như vậy
là thu nhập tăng lên một lượng tương ứng. Điều này làm tăng tiêu dùng bổ sung
bằng MPC.∆G

n
= ∆G + MPC.∆G + MPC
2
.∆G + …+ MPC
n
.∆G
= ( 1 + MPC + MPC
2
+ … + MPC
n
).∆G
Vì biểu thức trong ngoặc là cấp số nhân với công bội bằng MPC và MPC<1, nên
ta có thể rút ra công thức tính tổng mức tăng của cầu (∆AD) như sau:
∆AD = 1.∆G/(1- MPC). Trong đó 1/(1 – MPC) được gọi là số nhân chi tiêu.
Như vậy có thể thấy rằng khi chính phủ tăng chi tiêu sẽ có tác dụng kích thích
tổng cầu của nền kinh tế, tuy nhiên mức tăng của tổng cầu còn phụ thuộc vào độ
lớn của số nhân chi tiêu, khi MPC càng lớn thì số nhân chi tiêu càng lớn và tổng
mức tăng của tổng cầu càng lớn và ngược lại.
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
*Tác động của việc chính phủ cắt giảm thuế đến tổng cầu( giả sử thuế là một số
cố định)
Khi chính phủ thay đổi thuế thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển. Tuy nhiên
chính sách thuế của chính phủ không trực tiếp tác động với tổng cầu mà nó gián
tiếp làm thay đổi tổng cầu thông qua việc làm thay đổi hành vi của khu vực tư
nhân.
Khi chính phủ giảm thuế thì tác động đầu tiên của nó là làm thay đổi thu nhập
khả dụng của mọi người. Thu nhập khả dụng YD = Y – T, nếu chính phủ giảm
thuế một lượng bằng (-∆T), thì thu nhập khả dụng sẽ phải tăng một lượng đúng
bằng ∆T.

2
Y
Hình 1.2 : Tác động của việc giảm thuế đến tổng cầu và sản lượng cân bằng
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
Giống như các chính sách chi tiêu, sự thay đổi ban đầu của tiêu dùng do chính
sách thuế gây ra cũng làm tăng tổng cầu, sản lượng và thu nhập. Những thay đổi
này đến lượt chúng lại tiếp tục làm tăng chi tiêu cho tiêu dùng thông qua các tác
động của nhân tử chi tiêu. Tương tự như trong phần phân tích tác động của việc
tăng chi tiêu của chính phủ, ta cũng có thể tính được mức tăng tổng cầu khi mà
chính phủ giảm thuế một lượng (-∆T) bằng công thức:
∆AD =(-MPC.∆T).1/(1 – MPC )
Biểu thức –MPC/(1-MPC) được gọi là số nhân thuế.
Khi đó đường tổng cầu dịch chuyển từ AD
1
đến AD
2
như hình vẽ.
Việc giảm thuế của chính phủ đã gián tiếp làm tăng tổng cầu AD thông qua việc
làm thay đổi hành vi của khu vực tư nhân. Tuy nhiên mức tăng của tổng cầu còn
phụ thuộc vào độ lớn của số nhân thuế, khi MPC càng lớn thì số nhân thuế càng
lớn và tổng mức tăng tổng cầu càng lớn và ngược lại.
• Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng đến tổng cầu.
Khi nền kinh tế bị áp lực suy thoái do tổng cầu suy giảm, muốn chống suy
thoái ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, nghĩa là gia tăng
cung ứng tiền tệ. Thực hiện chính sách này có thể thông qua các công cụ như mua
chứng khoán trên thị trường mở, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất triết
khấu, tăng lãi suất tiền gửi sử dụng séc. Khi đó lượng cung tiền trên thị trường sẽ
tăng lên, điều này sẽ tác động đến tổng cầu thông qua sự thay đổi của đầu tư như
sau:

2

E
2

E
1
AD
1

0 Y
1
Y
2
Y
Hình 1.3 : Tác động của việc tăng cung tiền đến tổng cầu và sản lượng cân bằng
Khi cung tiền tăng từ M
1
lên M
2
làm đường cung tiền dịch chuyển song song ra
phía ngoài từ MS
1
tới MS
2
. Do lượng cung tiền tăng lãi suất sẽ điều chỉnh giảm
xuống tới i
2
để cân bằng cung cầu về tiền. Khi lãi suất giảm, nhu cầu đầu tư và tiêu
dùng lại tăng tại mọi mức giá. Đầu tư tăng lên từ I

trong nền kinh tế thị trường luôn định hướng theo nhu cầu, nên khi thấy nhu cầu
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
tăng lên, họ sản xuất nhiều hơn. Giả định mức tăng sản lượng đúng bằng mức tăng
tổng cầu, ta có : ∆Y = ∆AD
0
= ∆I.∆
Khi sản lượng tăng lên, thu nhập cảu mọi người cũng tăng lên ở mức tương ứng.
Sự gia tăng thu nhập này lại kích thích cho chi tiêu nhiều hơn cho tiêu dùng. Với
khuynh hướng tiêu dùng cận biên bằng MPC, ta tính được mức tiêu dùng ∆C như
sau: ∆C = MPC.∆Y = MPC.∆I
Mức tăng tiêu dùng này sẽ lại làm tăng tổng cầu và sản lượng, làm cho thu nhập
và tiêu dùng tiếp tục tăng thêm nữa. Quá trình này tiếp diễn qua nhiều thời kỳ, nó
chỉ dừng lại khi ∆C = 0.
Có thể tóm tắt sự gia tăng của tổng cầu, bắt dầu từ khi có sự gia tăng của nhu cầu
đầu tư (=∆I) và trải qua nhiều thời kỳ như sau:
Mức tăng tổng cầu ban đầu = mức tăng đầu tư : ∆AD
0
= ∆I
Mức tăng tiêu dùng trong thời kỳ 1: ∆AD
1
= MPC.∆I
Mức tăng tiêu dùng trong thời kỳ 2: ∆AD
2
= MPC
2
.∆I
……
Mức tăng tiêu dùng trong thời kỳ n:∆AD
n

tăng của tổng cầu còn phụ thuộc vào độ lớn của số nhân chi tiêu, khi MPC càng
lớn thì số nhân chi tiêu càng lớn và tổng mức tăng tổng cầu càng lớn và ngược lại.
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
CHƯƠNG II : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG KÍCH CẦU TIÊU DÙNG ĐẾN CẦU TIÊU DÙNG SẢN
PHẨM BÁNH KẸO TẠI THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA CÔNG TY TNHH
CHẾ BIẾN THỰC PHẨM ĐỨC HẠNH
2.1. Phương pháp nghiên cứu vấn đề
2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong quá trình tìm kiếm thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu, em đã thu thập
dữ liệu bằng các cách sau:
* Thu thập dữ liệu sơ cấp: từ điều tra, phỏng vấn các cán bộ quản lý và kinh doanh
tại công ty, các chuyên gia nghiên cứu trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
Các đối tượng trong công ty được chọn điều tra đều là những cán bộ quản lý đã
công tác lâu năm, hầu hết đều làm trong bộ phận kinh doanh và phát triển thị
trường nên có nhiều kinh nghiệm về phân tích và đưa ra những ý kiến đóng góp
phục vụ hữu ích cho việc nghiên cứu. Đồng thời để có thêm những nguồn thông
tin đảm bảo tính khách quan, toàn diện hơn em cũng tiến hành điều tra lấy ý kiến
của các cán bộ quản lý kinh doanh bên ngoài công ty hoạt động ở lĩnh vực có liên
quan; các chuyên gia nghiên cứu về tình hình thị trường. Nội dung các câu hỏi
được lựa chọn và tập trung làm rõ cho vấn đề nghiên cứu.
*Thu thập dữ liệu thứ cấp từ :
- Các nguồn báo cáo tài chính, báo cáo tổng hợp kết quả kinh doanh của công ty
trong giai đoạn 2006 – 2008.
- Các bài báo cáo và phân tích tình hình kinh tế Việt Nam và thế giới.
- Các bài phân tích và dự báo sự phát triển của ngành bán lẻ.
2.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích dữ liệu của em sử dụng trong đề tài này là phân tích
thống kê, so sánh.

Chi phí quản lý
doanh nghiệp
38.464 70.500 276.850
3 Lợi nhuận sau thuế 34.683 112.881 236.919
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
Doanh thu của công ty đã tăng liên tục qua các năm với mức tăng trưởng cao và
năm sau cao hơn năm trước. Năm 2006 doanh thu là 4.491.516 ngàn đồng, sang
năm 2007 là 7.112.520 ngàn đồng và năm 2008 là 8.564.188 ngàn đồng. Điều này
hứa hẹn một tương lai phát triển cho công ty TNHH chế biến thực phẩm Đức
Hạnh trong những năm tới.
Về lợi nhuận sau thuế thì ta dễ dàng nhận thấy công ty có tốc độ tăng trưởng
cao. Cụ thể là năm 2007 là 112.881 ngàn đồng tăng 227,5 % so với năm 2006 là
34.683 ngàn đồng, năm 2008 tăng 109,9 % so với năm 2007.
Mặt hàng bánh kẹo của công ty bao gồm các loại : Bánh, kẹo cứng, kẹo mềm,
bánh Snack.
Bảng 2.1 Cơ cấu mặt hàng bánh kẹo của công ty TNHH chế biến thực phẩm
Đức Hạnh
Sản phẩm
Tỷ lệ %
2006 2007 2008
Bánh 24,2 25,8 26,9
Kẹo cứng 19,9 17,6 16,2
Kẹo mềm 26,4 25,7 25,1
Bánh Snack 29,5 30,9 31,8
(Nguồn: Phòng Marketing bán hàng)
Bảng trên cho chúng ta biết về cơ cấu mặt hàng bánh kẹo của công ty TNHH chế
biến thực phẩm Đức Hạnh theo tỷ lệ đóng góp vào doanh thu từ năm 2006 –
2008. Doanh thu từ hoạt động bán hàng của công ty trên thị trường nội địa liên
tục tăng trong các năm qua. Cùng với sự gia tăng về doanh thu thì cơ cấu mặt

nguy cơ khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực. Những tháng đầu năm
và giữa năm giá cả hầu hết các mặt hàng tăng cao, đặc biệt là lương thực và dầu
mỏ, gây ra lạm phát chi phí đẩy trên phạm vi toàn thế giới. Từ tháng 9 trở đi,
khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ đã lan rộng sang hầu hết các nước và mang tính toàn
cầu. Khủng hoảng có xu hướng ngày càng trầm trọng và lan truyền từ khu tài
chính sang khu vực kinh tế dẫn tới một số nền kinh tế lớn suy thoái. Từ tình trạng
lạm phát cao, thế giới phải đối đầu với nguy cơ suy giảm tăng trưởng sâu, đi cùng
tình trạng giảm mạnh giá dầu, giá lương thực và các loại nguyên liệu thô khác.
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
* Lạm phát tăng cao những tháng đầu năm, nhưng cuối năm lại có dấu hiệu giảm
phát
Tình hình kinh tế thế giới tác động mạnh mẽ đến kinh tế nước ta, một nền kinh
tế vốn yếu kém trong cơ cấu và hiệu quả đầu tư tích tụ từ nhiều năm cộng với
những thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra, làm cho lạm phát tăng cao trong quý
I, và đi liền với nó, kinh tế vĩ mô bị đe dọa nghiêm trọng. Giá tiêu dùng quý
IV/2007 tăng 5%, tháng 1 -2007 tăng 2,38% tháng 2 tăng 2,36%, tháng 3 tăng
2,99%. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế từ tháng 3 trở đi suy giảm rõ rệt.
Giá tiêu dùng của năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp,
khác thường so với xu hướng giá tiêu dùng của các năm trước. Giá tăng cao ngay
từ quý I và liên tục tăng trong quý II, III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm
( so với tháng trước, tháng 10 giảm 0,19%, tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm
0,86% ) nên giá tiêu dùng của tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng
19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97% ( nguồn : Tổng cục
thống kê)
b. Ảnh hưởng của môi trường vi mô
- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp bánh kẹo khác.Thị trường bánh kẹo rất
phóng phú cả về chủng loại và giá cả, sự cạnh tranh sẽ chỉ diễn ra giữa những nhà
sản xuất lớn và sản phẩm của các nhà sản xuất nhỏ sẽ khó tiêu thụ.Ngoài ra sự
xâm nhập của bán kẹo ngoại có sự đa dạng về mẫu mã sản phẩm khiến cho các

(Đơn vị : ngàn đồng)
T
T
Chỉ tiêu
Năm Mức tăng các năm
2006 2007 2008
2007/2006 2008/2007
Giá trị % Giá trị %
1 Doanh thu thuần
4.491.516 7.112.520 8.564.188 2.621.004 58,35 1.451.668 20,41
2
Giá vốn bán
hàng
4.380.158 6.850.240 7.856.760 2470.082 56,39 1.006.520 14,69
3
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
38.464 70.500 276.850 32.036 83,29 206.350 22,7
4 Chi phí tài chính
240.721 35.000 105.685 -205.721
-
85,46
70685 201,9
5 Lợi nhuận thuần
48.171 156.780 315.893 108.609 225,4 159.113 101,5
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
từ hoạt động
kinh doanh
6 Lãi khác

- Chi phí quản lý doanh nghiệp đã gia tăng liên tiếp qua các năm :năm 2006 chi
phí quản lý doanh nghiệp là 38.464 ngàn đồng đến năm 2007 là 70.500 ngàn đồng,
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
tăng 83,29% so với năm 2006; năm 2008 là 276.850 ngàn đồng, tăng 292,7 % so
với năm 2007.
- Chi phí tài chính của doanh nghiệp có sự biến động lớn qua các năm:Năm
2006 là 240.721 ngàn đồng; năm 2007 là 35.000 ngàn đồng giảm 85,46 % so với
năm 2006; năm 2008 là 105.685 ngàn đồng tăng 201,9 % so với năm 2007.
- Lợi nhuận sau thuế của công ty tăng liên tiếp qua các năm: Năm 2006 là
34.683 ngàn đồng; năm 2007 là 112.881 ngàn đồng tăng 227,5 % so vơi năm
2006; năm 2008 là 236.919 ngàn đồng tăng 109,9 % so với năm 2007.
2.3.2. Phân tích kết quả kinh doanh mặt hàng bánh kẹotheo quý của công ty
(2006 – 2008)
Bảng 2.3 Kết quả kinh doanh mặt hàng bánh kẹo theo quý của công ty trên
thị trường nội địa.
(Đơn vị : ngàn đồng)
Quý
Doanh thu các năm
2006 2007 2008
Giá trị
Tỷ Trọng
%
Giá trị
Tỷ trọng
%
Giá trị
Tỷ trọng
%
I 1.324.997 29,5 1.948.830 27,4 2.320.896 27,1

hàng với sản phẩm của công ty. Đồng thời công ty cũng có thêm nhiều khách hàng
mới.
* Quảng cáo: Do tính cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường, khách hàng ngày
càng có nhiều sản phẩm để lựa chọn vì thế công ty luôn thu hút khách hàng bằng
hình thức giới thiệu sản phẩm của công ty qua các catalog, tài liệu, trang web của
công ty…với dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt như dịch vụ vận chuyển, tư vấn
miễn phí về lựa chọn…
* Khuyến mãi: Đây được xem là biện pháp chủ yếu nhất và cũng phát huy được
hiệu quả nhất trong thời gian qua ủa công ty nhằm thu hút khác hàng.Trong bối
cảnh người tiêu dùng cắt giảm và trì hoãn việc chi tiêu mua sắm, công ty đã sử
dụng các hình thức khuyến mãi như: giảm giá thành sản phẩm, tằng quà kèm theo
các hóa đơn thanh toán lớn….
b. Chính sách giá cả
Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu tác động đến lượng tiêu thụ
hàng hóa về nhu cầu mua sắm. Do đó việc xác định giá đúng sẽ đảm bảo khả năng
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
tiêu thụ và thu được lợi nhuận, tránh được ứ đọng hàng hóa, hạn chế thua lỗ đồng
thời kích thích nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, công ty đã định giá các sản phẩm trên cơ sở
chi phí tức là: Giá bán = giá mua + thặng số thương mại
Trong đó thặng số thương mại là khoảng 20 đến 25% giá bán.
Trong năm 2007, 2008 tình hình giá cả hàng hóa tiêu dùng biến động bất
thường vì vậy công ty đã liên tục phải điểu chỉnh các nhóm mặt hàng của mình để
phù hợp với tình hình thị trường và cũng nhằm để tăng sản lượng tiêu thụ.
c. Chính sách giá cả
Một trong những yếu tố cơ bản để thu hút khách hàng và tạo nên uy tín cho công
ty đó là chất lượng và sự đa dạng của các chủng loại sản phẩm. Trong bối cảnh
trên thị trường có sự đa dạng của nhiều nhà cung ứng sản phẩm hơn nữa thì tình
hình hàng giả, hàng nhái tràn lan do sự hạn chế trong quản lý thị trường thì việc có

năm trước mà chỉ tăng 20,41% so với năm 2007 nên chỉ đạt 8.564.188 ngàn đồng.
Cũng từ bảng tổng hợp kết quả kinh doanh của công ty, ta thấy chi phí quản lý
doanh nghiệp của công ty tăng đều qua các năm. Năm 2006 chi phí quản lý doanh
nghiệp là 38.464 ngàn đồng đến năm 2007 là 70.500 ngàn đồng, tăng 83,29% so
với năm 2006 cũng có thể dễ hiểu do công ty mở rộng thêm đại lý bán lẻ và địa
bàn phân phối. Nhưng đến năm 2008, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn
cầu, giá hàng hóa cũng tăng cao đồng thời chi phí quản lý doanh nghiêp cũng tăng
cao là 276.850 ngàn đồng, tăng 292,7 % so với năm 2007.
Chính sự gia tăng cao trong chi phí quản lý doanh nghiệp trong khi doanh thu và
lợi nhuận không tăng tương ứng nên đã làm cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh của công ty qua các năm cũng thay đổi mạnh. Năm 2006 là 34.683 ngàn
đồng; năm 2007 là 112.881 ngàn đồng tăng 227,5 % so vơi năm 2006. Nhưng đến
năm 2008 chỉ tăng tăng 109,9 % so với năm 2007.
Kết luận: trong bối cảnh kinh tế suy thoái, tình hình gái cả hàng hóa khong ổn
định, đời sống khó khăn hơn đã ảnh hưởng rất lớn đến cầu về hàng hóa của người
dân.Đa số có tâm lý chung là cắt giảm chi tiêu, chỉ mua sắm những hàng hóa thiết
yếu như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng nhanh và giảm chi tiêu cho những
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa kinh tÕ
hàng hóa khác như đồ điện tử, hàng thời trang, mỹ phẩm và kì vọng ở một mực
giá thấp hơn nữa.
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của giải pháp kích cầu tiêu dùng
a. Thuận lợi
Chính phủ đã sử dụng chính sách tài khóa mở và tiền tệ mở để làm tăng tổng
cầu mà trực tiếp làm tăng tiêu dùng (C) và đầu tư (I) thông qua viêc :
- Giảm thuế đối với một số hàng hóa nhằm kích thích tiêu dùng.
- Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm kích cầu đầu tư cũng như cầu tiêu
dùng thông qua việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh.
- Chính phủ thực hiện giải pháp tiền tệ linh hoạt thông qua giảm lãi suất cơ
bản.

dùng (C) bằng việc:
* Giảm thuế:
- Giảm thuế, giãn thời gian nộp thuế thu nhập cá nhân.
- Giảm thuế đối với các hàng hóa đề hạ giá bán nhằm kích thích tiêu dùng.
- Thực hiện việc giảm và giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho các
doanh nghiệp.
Việc nới lỏng gánh nặng cho các doanh nghiệp bằng cách giảm thuế, kể cả thuế
suất thuế thu nhập doanh nghiệp và giá trị gia tăng thì giảm thuế được xem là giải
pháp trọng tâm để kích cầu đầu tư cũng như kích cầu tiêu dùng thông qua giảm chi
phí sản xuất kinh doanh, giảm giá tương xứng đảm bảo tăng tiêu dùng thực tế của
người dân.
*Tăng chi tiêu của chính phủ (G) bằng các biện pháp như đầu tư vào cơ sở hạ
tầng, giáo dục, y tế, tăng lương cho cán bộ công nhân viên, và tăng trợ cấp cho dân
chúng…
Đối với chính sách tiền tệ thì chính phủ cần thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng
nhằm tác động đến tiêu dùng ( C) và đầu tư (I):
Ng« V¨n Lîi Líp: K42F5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status