BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TỐC ĐỘ DÒNG CHẢY ĐỘNG MẠCH
TRUNG TÂM VÕNG MẠC BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER
MỤC LỤC
Đặt vấn đề
Chương1: Tổng quan tài liệu
1.1 .Giải phấu gai thị, mạch máu nuôi dưỡng gai thị và động mạch trung tâm võng mạc
1.1.1. Giải phẫu gai thị và mạch máu nuôi dưỡng gai thị
1.1.2. Giải phẫu động mạch trung tâm võng mạc
1.2. Những thay đổi của gai thị trong glôcôm
1.2.1. Thay đổi lớp lá sàng
1.2.2. Thay đổi thành phần thần kinh đệm
1.2.3. Thay đổi sợi trục thần kinh
1.2.4. Thay dổi dòng bào tương sợi trục (Axonat transport)
1.3. Cơ chế tổn hại gai thị trong glôcôm
1.3.1. Thuyết cơ học
1.3.2. Thuyết truyền máu
1.3.3. Cơ chế tự điều chỉnh dòng máu
1.3.4. Cơ chế của sự tự điều chỉnh dòng máu
1.4. Các phường pháp nghiên cứu tốc độ dòng chảy của mạch máu
1.4.1. Siêu âm Doppler màu qua sọ
1.4.2. Siêu âm Doppler màu
1.4.2.1. Lịch sử phát triển của siêu âm y học và siêu âm Doppler
1.4.2.2. Nguyên lí chung của hiệu ứng Doppler
1.4.2.3. Lịch sử nghiên cứu ĐMTTVM bằng siêu âm Doppler màu trên thế giới và ở Việt
Nam
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiện cứu
2.1.1. Nhóm bệnh nhân glôcôm
2.1.2. Nhóm chứng
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Loại hình nghiên cứu
3.2.5. Tình trạng huyết động ĐMTTVM sau điều trị
3.2.5.1. Thay đổi huyết động ĐMTTVM của nhóm bệnh nhân glôcôm sau điều trị
3.2.5.2. Sự thay đổi huyết động ĐMTTVM theo hình thái glôcôm
3.2.5.3. Sự thay đổi huyết động ĐMTTVM theo giai đoạn tiến triển của bệnh
3.2.5.4. Sự thay đổi huyết động ĐMTTVM theo mức dộ tổn hại gai thị
3.2.5.5. So sánh các chỉ số huyết động của ĐMTTVM giữa mắt giai đoạn tiềm tàng và
mắt đã có biểu hiện glôcôm trên cùng bệnh nhân
Chương 4: Bàn luận
4.1. Nhận xét về đặc điểm bệnh nhân
4.2. Nhận xét tình trạng huyết động của ĐMTTVM
4.2.1. Nhận xét về các chỉ số huyết động ĐMTTVM của nhóm người bình thường
4.2.2. Nhận xét về các chỉ số huyết động ĐMTTVM của nhóm bệnh nhân glôcôm so với
nhóm ngườn bình thường
4.2.3. Nhận xét thay đổi huyết động ĐMTTVM theo hình thái glôcôm
4.2.4. Nhận xét thay đổi huyết động ĐMTTVM theo giai đoạn tiến triển của bệnh vàmức
độ tổn hại thị trường
4.2.5. Nhận xét thay đổi huyết động ĐMTTVM theo mức độ tổn hại gai thị
4.2.6. So sánh các chỉ số huyết động giữa mắt ở giai đoạn tiềm tàng và mắt đã có biểu hiện
glôcôm trên cùng bệnh nhân
Kết luận
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐMTTVM : Động mạch trung tâm võng mạc
Vs : Tốc độ đỉnh tâm thu (Velocity systolic)
Vd : Tốc độ cuối tâm trương (Velocity diastolic)
RI : Chỉ số cản (Reistance index)
ST : Sáng tối
ĐNT : Đếm ngón tay
L/D : Tỉ lệ giữa đường kính lõm đĩa và dường kính gai thị
TL : Thị lực
TT : Thị trường
Đĩa thị là một tổ chức bao gồm: tổ chức thần kinh, tổ chức thần kinh đệm,
collagen và mạch máu. Đĩa thị do khoảng 1,2 triệu sợi trục thần kinh tạo thành,
các sợi trục được các tế bào hình sao bao bọc. Nhân của các sợi trục thần kinh
này nằm ở lớp tế bào hạch võng mạc. Đường kính của đĩa thị khoảng 1,5mm.
Đĩa thị chia làm 4 lớp: lớp sợi thần kinh, lớp trước lá sàng, lớp lá sàng và
lớp sau lá sàng.
2.1.2.Giải phẫu động mạch trung tâm võng mạc
Động mạch trung tâm võng mạc (ĐMTTVM) là nhánh bên của động mạch
mắt, tách ra từ chỗ động mạch mắt đi vào hốc mắt.
ĐMTTVM được chia làm 4 đoạn: 1.Đoạn trong hốc mắt. 2. Đoạn trong
màng cứng.3. Đoạn trong thị thần kinh. 4. Đoạn trong võng mạc
2.2. Cơ chế tổn hại đĩa thị giác trong bệnh glôcôm
2.2.1. Thuyết cơ học
Thuyết cơ học nhấn mạnh vai trò tác động trực tiếp của tăng áp lực bên
trong nhãn cầu lên sợi thần kinh thị giác và lớp lá, gây cản trở dòng bào tương
sợi trục thần kinh , hậu quả là gây ra teo các sợi trục thần kinh [5].
2.2.2. Thuyết thiếu máu
Thuyết thiếu máu nhấn mạnh đến vai trò của sự giảm lưu lượng máu đến nuôi
dưỡng đĩa thị, gây tắc nghẽn vận chuyển dòng bào tương của sợi trục ở đĩa thị,
hậu quả là các sợi trục thần kinh bị teo [6].
2.3. Lịch sử nghiên cứu ĐMTTVM bằng siêu âm Doppler màu trên thế giới và ở
Việt Nam
Lieb và cộng sự (1991) là những người đầu tiên nghiên cứu ứng dụng siêu
âm Doppler màu trong nhãn khoa. Năm 1997, Nong T. và cộng sự khi nghiên
cứu nhóm bệnh nhân glôcôm góc đóng nguyên phát nhận thấy rằng NA gây ra
tăng RI ở các động mạch hậu nhãn cầu và giảm tốc độ dòng chảy ở thì tâm
trương của ĐMTTVM [9].
Tuy nhiên, chưa thấy có báo cáo nào nghiên cứu về tốc độ dòng chảy của
ĐMTTVM mắt bệnh nhân glôcôm.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
α
Trong đó : n : Là cỡ mẫu
α : 0,05 độ tin cậy 95%
X
: Là giá trị trung bình
δ : 0,05
Z
1-
α
/2
: Tra theo bảng chuẩn = 1,96
S : Độ lệch chuẩn
Cỡ mẫu nhóm chứng : Chúng tôi lấy cỡ mẫu nhóm chứng bằng cỡ mẫu
nhóm bệnh glocôm (47 người bình thường)
3.3. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, có nhóm chứng.
Người bệnh được khám toàn diện về mắt: Đo thị lực (TL) bảng Landolt, đo
NA (NA kế Maclakov, quả cân 10g), khám sinh hiển vi, soi góc tiền phòng (kính
Goldmann 1 mặt gương), khám đĩa thị (kính Volk), đo thị trường (TT kế
Goldmann).
Đối tượng nghiên cứu của 2 nhóm được đo tốc độ dòng chảy của
ĐMTTVM 2 mắt bằng máy siêu âm Doppler Alokassd-1700 đầu dò thẳng tần số
7,5 MHz (siêu âm B kết hợp với Doppler xung ghi phổ và Doppler màu) tại
phòng Siêu âm của bệnh viện Lão khoa trung ương. Ghi nhận các chỉ số huyết
động ở đỉnh tâm thu Vs (cm/s), ở cuối thì tâm trương Vd (cm/s), và chỉ số cản RI.
Tính và so sánh giá trị trung bình các chỉ số của mắt người bình thường và nhóm
người bệnh glôcôm nguyên phát ở các thời điểm trước và sau điều trị.
NA được đánh giá là điều chỉnh sau điều trị nếu đạt mức < 25 mmHg.
3.3. Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS. So sánh các giá trị trung bình
bằng T test.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
n = 29
Sơ phát
n = 28
Tiến triển
n = 28
Trầm trọng
n = 22
Gần mù &
mù n = 25
NA trung bình
(mmHg)
19,28±2,19 30,93±4,83 26,36±6,65 28,59± 5,29 29, 4 ± 4,87
Kết quả ở bảng trên cho thấy, sự chênh lệch nhãn áp giữa các giai đoạn của
bệnh có sự khác biệt, ở giai đoạn tiềm tàng nhãn áp thấp hơn các giai đoạn khác,
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Các giai đoạn còn lại của bệnh,
sự chênh lệch nhãn áp trung bình của giai đoạn sơ phát và tiến triển có ý nghĩa
thống kê (p<0,05
3.1.5. Đặc điểm tổn hại gai thị trước điều trị
Bảng 3.5: Tình trạng đĩa thị trước điều trị
Lõm đĩa
Hình thái glôcôm
< 3/10 3/10 – 7/10 > 7/10 Tổng
Nhóm I 24 16 28 68
Nhóm II 28 12 24 64
Tổng 52 28 52 132
Qua bảng trên, chúng tôi thấy trong 28 mắt lõm gai dưới 3/10 của nhóm I có
10 mắt thuộc giai đoạn tiềm tàng, trong 28 mắt lõm gai dưới 3/10 của nhóm II có
19 mắt thuộc giai đoạn tiềm tàng. Như vậy, ở cả 2 nhóm tình trạng tổn hại gai thị
tương đối đều ở nhóm lõm gai dưới 3/10 và nhóm lõm gai trên 7/10, ít gặp nhất
là lõm gai từ 3/10 – 7/10.
Kết quả bảng trên cho thấy, ở nhóm bệnh nhân glôcôm các chỉ số huyết động
của ĐMTTVM có sự thay đổi so với nhóm người bình thường, cụ thể là các chỉ
số Vs, Vd giảm, RI tăng, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
Trong nhóm bệnh nhân glôcôm, tình trạng huyết động giữa nhóm bệnh nhân
góc đóng và góc mở như sau:
Bảng 3.8 : Tình trạng huyết động của ĐMTTVM giữa nhóm glôcôm ( góc
đóng và góc mở) và nhóm chứng
Chỉ
số
Nhóm
Vs( cm/s) Vd (cm/s) RI
Nhóm I ( n = 68) 9,36 ± 2,13** 2,73 ± 0,906** 0,708 ± 0,045**
Nhóm II ( n =64) 10,00 ± 2,23** 3,058 ± 0,99** 0,694 ± 0,047**
Nhóm chứng ( n = 94) 12,19 ± 0,80 4,22 ± 0,46 0,63 ± 0,023
**: p<0,01 ( so sánh với nhóm chứng)
Bảng trên cho thấy các chỉ số Vs, Vd của cả nhóm glôcôm góc đóng và góc
mở đều thấp hơn so với nhóm người bình thường ( p<0,01). Chỉ số cản (RI) của
nhóm glôcôm góc đóng ( 0,708 ± o,o45) và nhóm glôcôm góc mở ( 0,694 ±
0,047) đều cao hơn so với nhóm người bình thường.
Khi so sánh giữa nhóm glôcôm góc đóng và góc mở chúng tôi thấy, ở nhóm
glôcôm góc đóng chỉ số Vs thấp hơn, RI cao hơn nhóm glôcôm góc mở, sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), nhưng chỉ số Vd của nhóm glôcôm
góc mở cao hơn nhóm glôcôm góc đóng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
(p<0,05).
3.1.9. Tình trạng huyết động của ĐMTTVM theo giai đoạn của bệnh nhân
glôcôm
Bảng 3.9: Tình trạng huyết động của nhóm bệnh nhân glôcôm theo giai đoạn
Chỉ số
Giai đoạn
Vs ( cm/s) Vd ( cm/s) RI
Sau 1 tháng
n = 130
Sau 3 tháng
n = 122
Sau 6 tháng
n = 94
Nhóm I 27,64 ± 6,78 17,35±2,65** 18,19± 2,52** 18,67± 2,76**
Nhóm II 25,77 ± 6,00 17,95±2,85** 18,29± 1,29** 18,43± 1,38**
Chung cả 2 nhóm 26,72 ± 6,54 17,65±2,76** 18,21± 2,03** 18,55± 2,16**
**: p<0,01 (so với trước điều trị)
Chung cả 2 nhóm, nhãn áp sau điều trị giảm có ý nghĩa so với p<0,05. Giữa
các thời điểm sau điều trị sự khác biệt nhãn áp không có ý nghĩa p>0,05.
3.2.4.2. Kết quả nhãn áp theo giai đoạn của bệnh
Bảng 3.14: Tình trạng nhãn áp sau điều trị theo giai đoạn bệnh (mmHg)
Thời gian
Giai đoạn
Trước điều trị
( n = 132)
Sau 1 tháng
(n = 130)
Sau 3 tháng
(n = 124)
Sau 6 tháng
(n = 94)
Sơ phát 30,92 ± 4,83 17,95± 3,23** 17,74± 1,79** 18,22± 1,92**
Tiến triển 26,35 ± 6,56 17,55± 3,01** 18,65± 2,00** 18,95± 1,70**
Trầm trọng 29,59 ± 5,59 16,6 ± 2,10** 17,6 ± 1,43** 18,12± 1,73**
Gần mù và mù 29,4 ± 4,87 17,33± 2,35** 18,85± 3,12** 19,03± 3,41**
**: p<0,01 (so với trước điều trị)
Trước điều trị, nhãn áp trung bình của các giai đoạn có khác nhau và sự chênh
Trước điều trị (n = 132) 9,66 ± 2,23 2,87 ± 0,96 0,70 ± 0,047
Sau 1 tháng (n = 130) 10,46 ± 1,82* 3,28 ± 0,82* 0,68 ± 0,037*
Sau 3 tháng (n = 124) 10,56 ± 1,80* 3,36 ± 0,82* 0,67 ± 0,037*
Sau 6 táng (n = 94) 10,58 ± 1,86* 3,37 ± 0,79* 0,67 ± 0,035*
Nhóm chứng (n= 94) 12,19 ± 0,80 4,22 ± 0,46 0,63 ± 0,047
*: p<0,05 (so với trước điều trị)
Kết quả bảng trên cho thấy Vs,Vd ở nhóm bệnh nhân glôcôm cả trước và sau
điều trị đều giảm, RI tăng so với nhóm chứng mặc dù sau điều trị các chỉ số đã
có sự cải thiện (p<0,05). Sau điều trị Vs, Vd tiếp tục tăng, RI giảm dần theo thời
gian sự khác biệt giữa các thời điểm sau điều trị không có ý nghĩa (p>0,05).
3.2.5.2. Sự thay đổi huyết động của ĐMTTVM theo hình thái glôcôm
Bảng 3.17: Sự thay đổi huyết động của ĐMTTVM theo hình thái glôcôm sau
điều trị
Chỉ số Vs(cm/s) Vd (cm/s) RI
Nhóm I Nhóm II Nhóm I Nhóm II Nhóm I Nhóm II
Trướcđiều trị (n = 132) 9,36±2,143 10,0±2,23 2,73± 0,905 3,05±0,99 0,708±0,045 0,69±0,047
Sau 1tháng (n = 130) 10,17±1,82* 10,76±1,7
8*
3,15±0,82* 3,4±0,81* 0,68±0,037* 0,67±0,037*
Sau 3 tháng (n = 124) 10,19±1,77* 10,97±1,8
2*
3,21±0,80* 3,5±0,82* 0,68±0,036* 0,67±0,037*
Sau 6 tháng (n = 94) 10,37±1,82* 10,77±1,9
1*
3,27±0,80* 3,46±0,79 0,67±0,035* 0,67±0,034*
*: p<0,05 (so sánh với trước điều trị)
Kết quả bảng trên cho thấy, các thông số huyết động ĐMTTVM đều thay đổi
so với trước điều trị, tốc độ dòng chảy ĐMTTVM tăng lên so với trước điều trị.
Các chỉ số Vs, Vd tăng và RI giảm ở các thời điểm sau điều trị ở cả 2 nhóm
glôcôm góc đóng và góc mở với p<0,01, giữa các thời điểm sau điều trị không
Sau 3 tháng (n = 50) 12,05 ± 1,17* 4,06 ± 0,47* 0,64 ± 0,019*
Sau 6 tháng (n = 34) 12,43 ± 1,17* 4,09 ± 0,47* 0,64 ± 0,018*
*: p<0,05 (so với trước điều trị)
Bảng 3.20: Sự thay đổi huyết động ở nhóm L/Đ từ 3/10 đến 7/10 sau điều trị
Chỉ số
Thời gian
Vs (cm/s) Vd (cm/s) RI
Trước điều trị (n = 29) 9,98 ± 1,76 2,90 ± 0,66 0,704 ± 0,036
Sau 1 tháng (n = 28) 10,76 ± 1,37* 3,29 ± 0,64* 0,683 ± 0,027*
Sau 3 tháng (n = 26) 10,88 ± 1,57* 3,38 ± 0,57* 0,673 ± 0,027*
Sau 6 tháng (n = 22) 10,52 ± 1,56* 3,48 ± 0,54* 0,66 ± 0,023*
*: p<0,05 (so với trước điều trị)
Bảng 3.20: Sự thay đổi huyết động của ĐMTTVM ở nhóm L/Đ trên 7/10 sau
điều trị
Chỉ số
Thời gian
Vs (cm/s) Vd (cm/s) RI
Trước điều trị (n = 51) 8,12 ± 1,55 2,31 ± 0,05 0,73 ± 0,032
Sau 1 tháng (n = 50) 8,85 ± 1,14* 2,35 ± 0,45* 0,71 ± 0,027*
Sau 3 tháng (n = 48) 8,89 ± 1,13* 2,59 ± 0,46* 0,708 ± 0,025*
Sau 6 tháng (n = 38) 8,94 ± 1,2* 2,65 ± 0,47* 0,703 ± 0,028*
*: p<0,05 (so với trước điều trị)
Kết quả các bảng trên cho thấy, sau điều trị sự thay đổi các chỉ số huyết động
của ĐMTTVM (Vs và Vd tăng, RI giảm) cũng như theo giai đoạn tiến triển của
bệnh (p<0,05).
3.2.5.5. So sánh các chỉ số huyết độngcủa ĐMTTVM giữa mắt giai đoạn tiềm
tàng và mắt đã có biểu hiện glôcôm trên cung bệnh nhân
Bảng 3.21: Chỉ số huyết động trung bình của mắt giai đoạn tiềm tàng và mắt
đã có biểu hiện glôcôm
Chỉ số
chúng tôi là cân bằng.
Ở nhóm glôcôm góc đóng chủ yếu là bệnh nhân trên 40 tuổi, chỉ có 1 bệnh
nhân dưới 40 tuổi (3%), trong khi đó ở nhóm glôcôm góc mở nhóm bệnh nhân
dưới 40 tuổi chiếm 50% (16/32 bệnh nhân).
So với các tác giả khác như Chiou H.J., John R., Nong T. thì tuổi trung bình
nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả glôcôm góc đóng và glôcôm góc
mở nguyên phát với tỉ lệ 51,5% (34 bệnh nhân) glôcôm góc đóng, 49,5% (32
bệnh nhân) glôcôm góc mở.
4.2. Nhận xét tình trạng huyết động của ĐMTTVM
Hạ NA rõ ràng có tác dụng bảo tồn chức năng thị giác và gai thị. Tuy nhiên,
theo kết quả của một số nghiên cứu cho thấy khi NA đã được điều trị trở về bình
thường sự tổn hại thị trường vẫn tiếp tục. Vì vậy một số tác giả đã đưa ra một số
giả thuyết khác trong đó yếu tố mạch máu là một trong những cơ chế góp phần
gây tổn hại gai thị trong bệnh glôcôm.
4.2.1. Nhận xét về các chỉ số huyết động ĐMTTVM của nhóm người bình
thường
Theo nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số huyết động của ĐMTTVM ở nhóm
người bình thường của chúng tôi so với tác giả Nguyễn Trung Anh có khác
nhau: cụ thể là chỉ số Vs sự khác biệt không lớn (p>0,05). Tuy nhiên, kết quả của
chúng tôi chỉ số Vd (4,22 ± 0,46cm/s) lớn hơn và chỉ số RI (0,63 ± 0,23) thấp
hơn so với của Nguyễn Trung Anh [2] (Vd = 3,0 ± 0,85cm/s; RI = 0,70± 0,05),
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Tuy nhiên các chỉ số của chúng
tôi gần giống với kết quả của tác giả Nong T. [9] (Vs=11,94±3,12cm/s;
Vd=4,63±1,298cm/s; RI=0,6074±0,011), sự khác nhau không có ý nghĩa thống
kê.
Bảng 4.2: Chỉ số huyết động ĐMTTVM của nhóm người bình thường
Tác giả Năm Vs Vd RI
Nicolela M.T. 1996 14,56 ± 6,38 4,56 ± 1,63 0,69 ± 0,06
But 1997 13,2 ± 6,2 3,00 ± 1,60 0,77 ± 0,09
Từ những kết quả và phân tích trên, chúng tôi đi đến nhận xét không có sự
khác biệt nhiều về thay đổi huyết động học ĐMTTVM giữa hai nhóm glôcôm
góc đóng và góc mở. Các tác giả Cheng C.Y., Nong T. [4, 9] cũng đưa ra nhận
xét tương tự, mắc dù cơ chế gây ra tăng NA khác nhau giữa nhóm glôcôm góc
đóng và góc mở nhưng sự rối loạn huyết động của ĐMTTVM giống nhau giữa
hai hình thái glôcôm.
4.2.4. Nhận xét thay đổi huyết động theo giai đoạn tiến triển của bệnh và mức
độ tổn hại thị trường
Từ kết quả bảng 3.9, bảng 3.18 và các biểu đồ chúng tôi nhận thấy, ở các giai
đoạn khác nhau thì sự thay đổi các chỉ số huyết động cũng khác nhau. Mức độ
thay đổi các chỉ số huyết động càng rõ ràng ở giai đoạn muộn khi mức độ tổn hại
thị trường càng trầm trọng.
Như vậy, ở giai đoạn sơ phát chúng ta thấy rất rõ ảnh hưởng của NA đến tốc
độ dòng chảy của ĐMTTVM, trước điều trị NA cao các chỉ số Vs, Vd giảm, RI
tăng so với nhóm người bình thường, sau khi được điều trị hạ NA các chỉ số trở
về mắc gần bình thường.
Ở các giai đoạn tiến triển, trầm trọng, gần mù và mù, các chỉ số Vs, Vd giảm,
RI tăng rõ rệt so với nhóm chứng ở cả thời điểm trước và sau điều trị 1 tháng, 3
tháng, 6 tháng. Chúng tôi cũng nhận thấy sự thay đổi không giống nhau ở các
giai đoạn mà mức độ giảm của các chỉ số Vs, Vd, tăng RI càng lớn khi giai đoạn
càng trầm trọng. Sau điều trị sự phục hồi (Vs, Vd tăng, RI giảm) các chỉ số này
cũng khác nhau, giống như sự thay đổi trước điều trị có ý nghĩa ở giai đoạn càng
nặng sự phục hồi càng kém. Sự phục hồi ít nhất là ở giai đoạn gần mù và mù.
Khi nghiên cứu so sánh sự thay đổi các chỉ số huyết động theo giai đoạn giữa hai
hình thái glôcôm góc đóng và góc mở nguyên phát, chúng tôi cũng thấy không
có sự khác nhau về mức độ thay đổi các chỉ số huyết động theo giai đoạn trước
và sau điều trị hạ NA giữa hai hình thái glôcôm góc đóng và góc mở.
Tóm lại, qua kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng như một số tác giả khác
đều cho thấy rằng, tăng nhãn áp làm giảm tốc độ của dòng chảy và tăng chỉ số
cản của ĐMTTVM ở bệnh nhân glôcôm. Tuy nhiên, mức độ giảm không chỉ phụ
5,7mmHg) (p<0,01), do đó khó có thể biết được sự thay đổi các chỉ số huyết
động là do mức độ trầm trọng của bệnh hay là do tăng NA. Nhưng ở các thời
điểm những mắt đã bị glôcôm sau khi đã dược điều trị hạ NA, NA trung bình của
hai nhóm trở về gần như nhau, trung bình các chỉ sốVs, Vd của mắt giai đoạn
tiềm tàng (11,80 ± 1,30cm/s và 4,1 ± 0,54cm/s) vẫn cao hơn mắt đã bị glôcôm
(9,82 ± 1,75cm/s và 3,07 ± 0,82cm/s), trung bình chỉ số RI của mắt giai đoạn
tiềm tàng (0,64 ± 0,026) thấp hơn so với mắt bên kia (0,68 ± 0,039) (sau điều trị
6 tháng). Ở thời điểm này, các chỉ số huyết động không bị ảnh hưởng của tăng
NA do đó giảm tốc độ dòng chảy ở cả thì tâm thu và tâm trương, tăng chỉ số cản
của ĐMTTVM ở mắt đã bị glôcôm so với mắt giai đoạn tiềm tàng là do sự khác
nhau về mức độ trầm trọng của giai đoạn bệnh. Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi hoàn toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nicolale M.T. và cộng sự
(1996), Liu C.J. (1989) [7], [8].
Kết luận
Từ kết quả thu được của nghiên cứu kết hợp với tham khảo các tài liệu nghiên
cứu của các tác giả trong nước và ngoài nước chúng tôi có một số kết luận sau:
1. Có sự giảm sút tốc độ dòng chảy của ĐMTTVM cả ở thì tâm thu và tâm
trương, tăng chỉ số cản ở bệnh nhân glôcôm so với người bình thường.
Tăng nhãn áp có ảnh hưởng làm giảm tốc độ dòng chảy, tăng chỉ số cản của
ĐMTTVM, đặc biệt rã ở giai đoạn sớm của bệnh
2. Mức độ thay đổi các chỉ số này không chỉ phụ thuộc vào nhãn áp mà còn
phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh (tổn hại gai thị vag thị trường). Ở giai đoạn
càng trầm trọng sự thay đổi càng nhiều.
Sự phục hồi các chỉ số sau điều trị hạ nhãn áp tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh. Ở
giai đoạn sớm các chỉ số có thể trở về bình thường sau khi hạ nhãn áp, cởn giai
đoạn muộn sự phục hồi rất kém, sau khi hạ nhãn áp ổn định tốc độ dòng chảy tuy
có tăng, chỉ số cản có giảm nhưng chưa thể trở về mức dộ bình thường.
Sự thay đổi các chỉ số giống nhau ở hai hình thái glôcôm góc đóng và góc mở.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Đức Anh (1993). Bệnh Glôcôm. Giáo Trình khoa học cơ sở và lâm