Bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
Trờng đại học y hà nội
Nguyễn thị lan anh Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số Doppler của
động mạch trung tâm võng mạc ở bệnh nhân
chấn thơng đụng dập nhãn cầu
Luận văn thạc sỹ y khoa Hà nội 2008
Bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
Trờng đại học y hà nội
Nguyễn thị lan anh Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số Doppler của
nói chung [11][13]. Cơ chế đụng dập rất khác nhau, có thể tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp. Sau khi bị va đập, tất cả các bộ phận của mắt đều có thể bị tổn
thơng, đều chịu một quá trình bệnh lý thứ phát: quá trình viêm, thoái hoá,
liên quan mật thiết đến rối loạn tuần hoàn và dinh dỡng làm cho cơ chế bệnh
sinh phức tạp, bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, điều trị nan giải, kết quả hạn chế
và đặc biệt tiên lợng sau chấn thơng gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, vấn đề
xoay quanh chấn thơng đụng dập đợc rất nhiều nhà nhn khoa trong và
ngoài nớc quan tâm.
Trên thế giới, đ có rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh bệnh học
của chấn thơng đụng dập nhn cầu và cho thấy những rối loạn huyết động
của các mạch máu tại mắt sau khi va đập nhn cầu là một trong những mắt
xích quan trọng trong cơ chế tổn thơng [59]. Trong những năm gần đây, nhờ
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đ có nhiều phơng pháp khác nhau đợc
sử dụng để thăm khám các mạch máu ở mắt. Trong đó, siêu âm Doppler màu
sử dụng hiệu ứng Doppler, với đầu dò có độ phân giải cao cho phép đo đợc
2
tốc độ dòng chảy của các mạch máu nhỏ ở mắt nh: ĐMTTVM, TMTTVM,
động mạch mắt, động mạch mi ngắn sau[3], giúp thăm dò tuần hoàn mạch
máu ở mắt nói chung và mắt chấn thơng nói riêng một cách dễ dàng hơn.
Phơng pháp này mở ra triển vọng trong nghiên cứu cơ chế sinh bệnh học, sự
rối loạn huyết động của chấn thơng đụng dập, qua đó phần nào giúp cho việc
chẩn đoán, tiên lợng và điều trị ngày càng đem lại nhiều kết quả tốt hơn. Đây
là một phơng pháp chẩn đoán không xâm nhập, ít tốn kém, dễ thực hiện và ít
gây ra khó chịu cho bệnh nhân.
ở nớc ta siêu âm Doppler màu đ đợc ứng dụng để nghiên cứu
ĐMTTVM ở ngời bình thờng, bệnh nhân đái tháo đờng và bệnh nhân
Glôcôm [3][7]. Tuy nhiên, cho đến nay cha có công trình nghiên cứu
- Lớp vỏ bọc: Lớp ngoài cùng của nhn cầu là một lớp vỏ xơ gồm hai phần
giác mạc và củng mạc:
* Giác mạc: là một màng xơ trong suốt, rất dai, không có mạch máu,
chiếm 1/5 phía trớc nhn cầu. Dinh dỡng giác mạc chủ yếu là nhờ sự thẩm thấu.
* Củng mạc: là một lớp vỏ xơ cứng, trắng, chiếm 4/5 sau nhn cầu, có
nhiệm vụ bảo vệ các màng và môi trờng bên trong. Phía sau, củng mạc liên
tục với bao ngoài của thị thần kinh. Tại chỗ các sợi thần kinh thị giác đi ra
khỏi nhn cầu có một vùng tròn lỗ chỗ gọi là mảnh sàng. Giữa mảnh sàng có
một lỗ lớn nhất là nơi chui vào của ĐMTTVM và TMTTVM.
* Góc tiền phòng: nằm giữa hai cạnh, phía trớc là giác mạc và củng
mạc; phía sau là thể mi và mống mắt. Đây là nơi phần lớn thuỷ dịch đợc
thoát ra khỏi nhn cầu.
- Màng mạch: Màng bồ đào là một màng cơ mạch máu, gồm có ba phần từ
trớc ra sau: hắc mạc, thể mi và mống mắt.
4
*
Hắc mạc: là một màng liên kết khá lỏng lẻo có chứa nhiều mạch máu
để nuôi nhn cầu và những tế bào sắc tố đen.
Có hai động mạch đi đến hoặc đi qua hắc mạc:
+ Khoảng hai mơi động mạch mi ngắn sau bắt nguồn từ động mạch
mắt xuyên qua củng mạc ở quanh thị thần kinh, chia nhánh chằng chịt trong
hắc mạc và nối với nhánh của vòng động mạch lớn
+ Hai động mạch mi dài xuyên qua củng mạc đến bờ ngoài mống mắt
chia hai nhánh chạy vòng theo chu vi mống mắt rồi tiếp nối với nhau tạo thành
vòng động mạch lớn của mống mắt.
*
Thể mi: nằm giữa hắc mạc và mống mắt, gồm: cơ thể mi và các tua
- Các môi trờng trong suốt:
* Thuỷ dịch: là một chất gel trong suốt nằm ở tiền phòng và hậu phòng,
là một trong những yếu tố chi phối nhn áp.
* Thể thuỷ tinh: là một thấu kính trong suốt, hai mặt lồi, nằm giữa
mống mắt và màng dịch kính. Thể thuỷ tinh là một bộ phận của mắt không
có mạch máu và thần kinh, tất cả mọi dinh dỡng đều thông qua sự thẩm
thấu qua màng bọc.
* Dịch kính: là một chất lỏng, trong suốt, nhầy, nằm phía sau của thể
thuỷ tinh, trong buồng dịch kính.
1.1.1.2. Thần kinh thị giác
Đờng thị giác bắt đầu từ các tế bào thị giác nằm trong lớp ngoài của
võng mạc và cuối cùng sẽ cho các sợi thị giác tập trung thành dây thị thần
kinh, rồi chui qua lá sàng của củng mạc và trở thành gai thị.
Gai thị là một tổ chức bao gồm: tổ chức thần kinh, tổ chức thần kinh
đệm, collagen, mạch máu, do các sợi trục thần kinh tạo thành.
Gai thị chia làm bốn lớp:
+ Lớp sợi thần kinh là lớp nông nhất, đợc cấp máu bởi nhánh của
ĐMTTVM. Từ các nhánh trên và nhánh dới của ĐMTTVM tách ra các
nhánh ở gai thị, từ những nhánh này lại tách ra các nhánh nhỏ cấp máu cho lớp sợi
6
thần kinh của gai thị. Những mao mạch của ĐMTTVM ở đây tiếp nối với mao
mạch võng mạc ở bờ gai và tiếp nối với mao mạch của lớp lá sàng trớc.
+ Ba lớp còn lại gồm: lớp lá sàng trớc, lớp lá sàng và lớp sau lá sàng
đều đợc cung cấp máu bởi các nhánh của động mạch mi ngắn sau.
1.1.2. Giải phẫu động mạch trung tâm võng mạc
1.1.2.1. Giải phẫu động mạch trung tâm võng mạc
ĐMTTVM là một nhánh bên của động mạch mắt, tách ra ở chỗ động
làm hai nhánh: nhánh mũi và nhánh thái dơng. Các nhánh này lại tiếp tục
chia đôi đến tận vùng võng mạc chu biên.
Đa số ĐMTTVM không cho nhánh bên. Tuy nhiên, trong một số trờng
hợp, ĐMTTVM tách ra một số nhánh nhỏ:
- Nhánh động mạch màng mềm.
- Nhánh động mạch trung tâm thị thần kinh, cung cấp máu cho trung
tâm thị thần kinh.
- Nhánh động mạch ở phần đầu thị thần kinh, đến nuôi vùng đầu của thị
thần kinh.
- Các nhánh tiếp nối của ĐMTTVM ở đầu thị thần kinh:
+ ở trong thị thần kinh: các nhánh của ĐMTTVM có thể tiếp nối với các
nhánh của động mạch màng mềm nhờ các nhánh nối trực tiếp (Wybar, 1958).
+ ở gai thị: nhánh của ĐMTTVM tiếp nối với vòng động mạch Zinn-
Haller, nhánh của động mạch mi ngắn sau (Wybar, 1956).
1.2. Chấn thơng đụng dập nhn cầu
1.2.1. Khái niệm
Đụng dập nhn cầu là loại chấn thơng do chấn động gây nên khi mắt
va chạm với các vật tù, có kích thớc lớn hoặc sức ép đơn thuần [11].
Do cơ chế chấn thơng khác nhau nên bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng
và phức tạp, chủ yếu gây ra các tổn thơng sâu trong khi phần trớc nhn cầu
có thể vẫn bình thờng.
8
1.2.2. Cơ chế gây đụng dập
Tác nhân gây chấn thơng làm ngắn đờng kính trớc sau, tăng kính
thớc ngang. Tiếp sau pha trực tiếp là sóng phản hồi ngợc lại. Tổn thơng
nhn cầu có thể do cơ chế trc tiếp hay gián tiếp. Hai quá trình bệnh lý gây ra
nh sau [9][11]:
thơng mống mắt, tổn thơng thể mi, rách hắc mạc, vỡ củng mạc
* Góc tiền phòng: biến đổi góc tiền phòng gồm: rách vùng bè, lùi góc
tiền phòng, tách thể mi.
* Mống mắt: có vai trò tổng hợp các chất trung gian hoá học, đặc biệt
các Prostaglandin gây nên các phản ứng viêm sau chấn thơng.
Các tổn thơng thờng gặp: đứt chân mống mắt, rách cơ đồng tử, viêm
màng bồ đào (trong đó, Prostaglandin đóng vai trò quan trọng của phản ứng).
* Thể thuỷ tinh: lệch thể thuỷ tinh, đục thể thuỷ tinh
* Dịch kính: xuất huyết dịch kính
* Hắc mạc: xuất huyết hắc mạc, rạn, rách màng Bruch.
* Võng mạc: xuất huyết võng mạc, phù Berlin, lỗ hoàng điểm, bong,
rách võng mạc.
* Thị thần kinh: bị chèn ép, rách,sau đó dẫn đến teo đĩa thị hoăc teo
một vùng quanh đĩa thị.
1.3. Sự rối loạn tuần hoàn sau chấn thơng đụng dập
nhn cầu
1.3.1. Sinh lý động mạch
- Động mạch có tính chất đàn hồi và co thắt [5]:
+ Tính đàn hồi: đó là tính chất của động mạch làm cho nó có khả năng
trở về dạng ban đầu mỗi khi bị biến dạng. Khi máu vào động mạch thì nó gin
to nhng khi máu ra khỏi động mạch thì nó co lại.
+ Tính co thắt: đó là khả năng của động mạch co lại làm cho lòng mạch
hẹp đi, giảm lợng máu đi qua. Tính chất này làm cho động mạch thay đổi
10
thiết diện, điều hoà lợng máu đến cơ quan. Tính chất co thắt cao ở những
động mạch nhỏ vì thành những động mạch này có nhiều sợi co trơn.
- Động mạch đợc điều hoà bởi hai cơ chế [4]:
1.3.3. Sự rối loạn của mạch máu võng mạc sau chấn thơng đụng dập
nhãn cầu
Theo nghiên cứu về huyết động học của mạch máu tại mắt, các nhà
khoa học đ chỉ ra rằng mạch máu của mắt có những nét đặc thù riêng nh:
chịu đợc nhn áp cao, có khả năng tự điều chỉnh với sự thay đổi huyết áp, t
thế [36][55].
Tuy nhiên trong chấn thơng đụng dập nhn cầu, dới tác động đột
ngột của áp lực từ bên ngoài, xảy ra hiện tợng rối loạn vận mạch tại mắt bị
chấn thơng. Các mạch máu chịu tác động theo hai giai đoạn [11][23].
- Giai đoạn chịu tác động trực tiếp: các mạch máu của nhn cầu bị ép
mạnh, co lại lập tức ngay sau chấn thơng. Tuần hoàn võng mạc chậm lại,
thiếu máu võng mạc cấp tính, lợng ôxy cung cấp cho tế bào giảm gây ra các
tổn thơng tiêu huỷ hoặc hoại tử tế bào. Lu lợng máu đến thị thần kinh
cũng giảm, thiếu máu nuôi dỡng gai thị, làm tổn hại lớp sợi thần kinh [37] và
gây ra tắc nghẽn vận chuyển dòng bào tơng của sợi trục ở gai thị [39], hậu
quả cuối cùng dẫn đến teo gai thị. Trong một nghiên cứu khác cho thấy, khi
các mạch máu co lại, kích thích thần kinh ở đầu thành mạch làm tăng giải
phóng Histamin.
- Giai đoạn phản hồi: tiếp theo giai đoạn co mạch, khi nồng độ
Histamin tăng cao dẫn đến liệt vận mạch, quá trình gin mạch xảy ra, các
mạch máu gin ra đột ngột. Đồng thời, kết hợp với sự tăng nồng độ
Prostaglandin đợc giải phóng sau chấn thơng đụng dập nhn cầu do phản
ứng viêm làm tăng tính thấm thành mạch [4], thoát huyết tơng, phù tổ chức,
xuất huyết tổ chức.
12
1.4. Nghiên cứu tốc độ dòng chảy của mạch máu
dò tạng đặc, mạch máu và nhất là việc thăm khám tim mạch vì máy cung cấp
các thông tin về cả hình thái lẫn huyết động.
Vào thập kỷ 80, các nhà khoa học đ cho ra đời thế hệ máy siêu âm
Doppler màu. Sau đó, là loại máy kết hợp đồng thời ba kiểu siêu âm: kiểu hai
chiều, kiểu Doppler xung hoặc liên tục và kiểu Doppler màu đợc gọi chung
là Triplex hay Duplex màu. Hiện nay, một số máy có kiểu Doppler năng
lợng, có độ nhạy về màu gấp hai lần Doppler thông thờng, nhng không
phân biệt đợc chiều của dòng chảy. Gần đây, ngời ta áp dụng kỹ thuật tạo
hình ảnh của tốc độ, một kỹ thuật siêu âm mới trong việc thăm dò tính chất
huyết động của mạch máu. Đây là một tiến bộ hơn trong lĩnh vực siêu âm vì
nó cho hình ảnh màu có độ phân giải không gian và độ nhậy cao hơn, đo tốc
độ dòng chảy ít sai số và kết qủa không phụ thuộc vào góc giữa chùm siêu âm
và trục của dòng chảy.
- ở Việt nam từ những năm 1976 đ sử dụng siêu âm Doppler để thăm
dò tuần hoàn thai tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em và thăm dò mạch máu ngoại
vi và mạch máu đi lên no tại bệnh viện Việt-Đức năm 1978 [12]. Việc ứng
dụng Doppler màu trong thăm dò tim mạch và mạch máu đem lại thuận lợi và
giá trị chẩn đoán lớn. Hiện nay ở nớc ta, máy siêu âm Doppler màu đ đợc trang
bị ở một số bệnh viện và cơ sở y tế lớn, ngày càng đợc sử dụng rộng ri hơn.
1.4.2. Nguyên lý hiệu ứng Doppler
Hiệu ứng Doppler đợc nhà vật lý học ngời áo Johan Chistian Doppler
phát hiện năm 1842.
Nguyên lý của hiệu ứng Doppler đợc hiểu nh sau: khi một chùm siêu
âm đợc phát đi gặp một vật thì sẽ có hiện tợng phản hồi âm, tần số của
chùm siêu âm phản hồi về sẽ thay đổi so với tần số của chùm phát đi nếu
khoảng cách giữa nguồn phát và vật thay đổi: tần số tăng nếu khoảng cách
giảm và ngợc lại [16].
14 1.4.4.1. Doppler liên tục
Đây là kiểu siêu âm Doppler có cấu trúc máy đơn giản nhất. Đầu dò của
máy chứa 2 tinh thể gốm áp điện, 1 tinh thể có chức năng phát chùm tia siêu
âm một cách liên tục trong khi tinh thể kia có nhiệm vụ thu sóng siêu âm phản
hồi thu về.Việc so sánh tần số chùm siêu âm phát và chùm siêu âm thu là cơ
sở cho việc tính tốc độ của vật di chuyển.
Trong cơ thể ngời vật di chuyển tạo nên tín hiệu Doppler. Đó chính là
các tế bào máu trong lòng mạch, trong đó chủ yếu là hồng cầu. Tín hiệu
Doppler có thể đợc biểu diễn dới dạng âm thanh hoặc đờng ghi phổ.
* Ưu điểm: Cho phép ghi đợc tốc độ cao, không có hiện tợng cụt
đỉnh (aliasin).
* Nhợc điểm: Không cho phép ghi chọn lọc ở một vùng, máy ghi lại
tất cả các tín hiệu dòng chảy mà chùm siêu âm đi qua.
1.4.4.2. Doppler xung
Trong Doppler xung đầu dò có một tinh thể gốm áp điện sóng siêu âm
đợc phát ra ngắt qung đợc gọi là các xung siêu âm, xen giữa các xung siêu
âm là thời gian nghỉ để các tinh thể gốm áp điện thu tín hiệu của các chùm
siêu âm phản hồi về. Trong kiểu Doppler này chỉ có tín hiệu dòng chảy ở một
vùng xác định đợc ghi lại.Vị trí và thể tích của vùng ghi tín hiệu có thể
thay đổi đợc (cửa ghi Doppler). Vị trí của cửa ghi Doppler đợc xác
định bởi thời gian từ lúc phát đến lúc thu chùm siêu âm phản hồi. Kích
thớc của cửa ghi phụ thuộc vào chiều rộng của chùm siêu âm và khoảng
thời gian thu sóng phản hồi.
* Ưu điểm: Tín hiệu đợc phân tích dới dạng âm thành đờng ghi
hoặc dạng phổ lựa chọn chính xác và thay đổi kích thớc vùng cần ghi
tín hiệu Doppler.
16
màu thông thờng không đủ độ nhạy để phát hiện.
17
1.4.4.5. Siêu âm Duplex
Ngời ta kết hợp siêu âm hai chiều với siêu âm Doppler xung, gọi là hệ
thống Duplex. Với hệ thống này, trên màn hình có thể thấy đợc mặt cắt giải
phẫu của mạch máu, hớng đi của chiều siêu âm để điều chỉnh góc , đồng
thời, có thể xê dịch và điều chỉnh hớng cửa sổ tín hiệu nằm trong mạch máu.
1.4.4.6. Siêu âm Duplex màu
Là sự kết hợp trên cùng một hệ thống của cả ba kỹ thuật: Siêu âm
hai chiều, siêu âm Doppler xung và siêu âm Doppler màu. Trong thăm dò
mạch máu, siêu âm Duplex màu cho phép đánh giá đặc điểm giải phẫu
cũng nh sinh lý.
1.5. Siêu âm Doppler màu động mạch trung tâm võng mạc
Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, siêu âm Doppler màu
ngày càng đợc ứng dụng nhiều trong việc nghiên cứu tuần hoàn mạch máu
của mắt nói chung và của ĐMTTVM nói riêng.
1.5.1. Chỉ định
Thăm dò tình trạng huyết động của ĐMTTVM trên bệnh nhân [55][57]:
- Chấn thơng
- Glôcôm
- Đái tháo đờng
- Tắc ĐMTTVM, tắc TMTTVM
- Tăng huyết áp
1.5.2. Chống chỉ định
- Vết thơng mi
- Phù nề mi nặng
thẳng về phía thần kinh thị giác nơi ĐMTTVM và TMTTVM nằm ở trục của
thị thần kinh, nghiêng 15 độ so với trục trớc sau, với độ dài khoảng 13mm.
Chúng ở gần nhau, ĐMTTVM ở phía mũi và cho tín hiệu màu đỏ, TMTTVM
ở phía thái dơng và cho tín hiệu màu xanh. Ngoài ra, ở hai bên phía ngoài
của thị thần kinh còn có tín hiệu của động mạch mi sau có tín hiệu màu đỏ,
nằm ra phía sau hơn so với ĐMTTVM. Sâu hơn nữa trong hốc mắt thấy
đợc các đoạn của động mạch mắt với dòng máu lớn hơn nhiều, lúc nằm
bên ngoài (phía thái dơng), lúc nằm bên trong (phía mũi) song song với
thần kinh thị giác.
- Đặt cửa sổ Doppler vào và chuyển tần số Doppler đợc sử dụng để
nhận dạng sóng của tốc độ. Sau đó, đo tốc độ đỉnh tâm thu (Vs) tại điểm đạt
giá trị cao nhất của thì tâm thu, đo tốc độ cuối tâm trơng (Vd) tại điểm đạt
giá trị thấp nhất của thì tâm trơng, ở ba dạng sóng xung liên tiếp.
- Chỉ số cản (RI) đợc tính trong phần mềm máy tính theo công thức: s
ds
V
VV
RI
=
20
chẩn đoán, đánh giá hiệu quả điều trị của bệnh học về chấn thơng thị thần
kinh và võng mạc.
Sau chấn thơng đụng dập nhn cầu, ở mắt chấn thơng có những rối
loạn về tuần hoàn. Việc nghiên cứu huyết động của mắt chấn thơng bằng
siêu âm Doppler màu đ góp phần trong nghiên cứu cơ chế sinh bệnh học của
mắt sau chấn thơng, cho phép tiên lợng đợc mức độ trầm trọng của mắt
chấn thơng và có phác đồ điêù trị kịp thời. Một số chỉ số Doppler đợc xác
định để đánh giá tình trạng huyết động của mắt: tốc độ đỉnh tâm thu (Vs), tốc
độ cuối tâm trơng (Vd), chỉ số cản (RI).
Khi nghiên cứu vận tốc dòng chảy của ĐMTTVM trên bệnh nhân chấn
thơng đụng dập nhn cầu ở giai đoạn sớm, tác giả Gundrova [59] nhận thấy ở
mắt chấn thơng tốc độ đỉnh tâm thu giảm, tốc độ cuối tâm trơng giảm, chỉ
số cản tăng (Vs=9,6 0,4cm/s; Vd=2,4 0,45cm/s; RI=0,84) so với mắt bình
thờng (Vs=14,00 1,6 cm/s; Vd=4,1 0,39cm/s; RI=0,7). Trong một nghiên
22
cứu khác, tác giả Martini thấy tốc độ đỉnh tâm thu thay đổi không có ý nghĩa
thống kê nhng tốc độ cuối tâm trơng giảm và chỉ số cản tăng rõ rệt ở mắt
chấn thơng (Vs=17,01 6,45cm/s; Vd=4,96 2,71cm/s; RI=0,71 0,09) (mắt
bình thờng Vs=16,68 8,13cm/s; Vd=6,46 3,35cm/s; RI=0,62 0,07) [41].
Nh vậy, qua nghiên cứu các tác giả đều thấy có sự biến đổi một
số chỉ số Doppler của ĐMTTVM ở mắt chấn thơng đụng dập nhn cầu
so với mắt bình thờng: tốc độ đỉnh tâm thu giảm, tốc độ cuối tâm trơng
giảm, hệ số cản tăng.
Việc theo dõi vận mạch ở ĐMTTVM sau chấn thơng đụng dập nhn
cầu cho thấy có sự suy giảm đáng kể tuần hoàn ở động mạch này, sự suy giảm
đó có thể dẫn đến rối loạn dinh dỡng lớp trong của võng mạc và thị thần
kinh. Điều này cũng giúp cho việc phát hiện các tổn thơng của mạch máu
năm 1992, Glassi cùng cộng sự đ sử dụng siêu âm
Doppler màu để nghiên cứu dòng chảy của động mạch mắt, động mạch mi
sau, ĐMTTVM ở bệnh nhân Glôcôm và so sánh với nhóm ngời bình thờng.
Tác giả đ đa ra kết luận: nhóm bệnh nhân glôcôm nhn áp không điều chỉnh
có sự giảm tốc độ dòng chảy ở cuối thì tâm trơng và tăng chỉ số cản ở động
mạch mi ngắn sau và ĐMTTVM, đồng thời có sự giảm tốc độ dòng ở thì tâm
thu của động mạch mắt [30].
Sau đó bốn năm, vào năm 1995, Dennis cùng cộng sự khi nghiên cứu
tốc độ dòng chảy của ĐMTTVM ở các vị trí đo khác nhau thấy rằng các chỉ
số Doppler thu đợc khác nhau ở mỗi vị trí và gần về phía gai thị thì chỉ số thu
đợc càng cao [25].
Năm 1995, khi cùng với Goebel nghiên cứu huyết động của
ĐMTTVM trên bệnh nhân bệnh võng mạc đái tháo đờng phơng pháp siêu
âm Doppler màu Lieb nhận thấy tốc độ dòng chảy ĐMTTVM giảm ở thì tâm
thu và cuối tâm trơng [31].
Cùng song hành với các công trình nghiên cứu của các tác giả trên,
Berges tại Đan Mạch, Tamaki tại Nhật, Williamson, Baxter cùng cộng sự tại
Mỹ [17][20][21][51][56] đ sử dụng siêu âm Doppler màu để đánh giá dòng
chảy của các mạch máu ở hốc mắt, ĐMTTVM ở mắt bình thờng, mắt bệnh