Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA) ở lợn nái sinh sản - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HỒNG MINH NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU LÂM
SÀNG, PHI LÂM SÀNG VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP
PHÒNG, TRỊ HỘI CHỨNG VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ,
MẤT SỮA (MMA) Ở LỢN NÁI SINH SẢN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: SINH SẢN VÀ BỆNH SINH SẢN GIA SÚC
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HỒNG MINH


Nguyễn Thị Hồng Minh

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động
viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Văn Thanh; TS Trịnh Đình Thâu đã tận tình
hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Ngoại Sản, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Chi
cục Thú y tỉnh Bắc Ninh, cảm ơn các trang trại chăn nuôi, các công ty lợn giống đã
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động vi
ên khuyến khích tôi
hoàn thành luận án./.
Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2014
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng Minh

iii

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

iv
2.3.1 Điều tra dịch tễ học hội chứng MMA 37
2.3.2 Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 37
2.3.3 Theo dõi một số chỉ tiêu phi lâm sàng 38
2.3.4 Theo dõi một số chỉ tiêu về thành phần, tính chất của sữa lợn 38
2.3.5 Phân lập và giám định các loài vi khuẩn 38
2.3.6 Kiểm tra kháng sinh đồ 38
2.3.7 Thử nghiệm phác đồ điều trị hội chứng MMA 38
2.3.8 Đề xuất các biện pháp phòng hội chứng MMA 39
2.4 Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.1 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng 39
2.4.2 Phương pháp điều tra hồi cứu để nắm được tình hình dịch tễ của
lợn mắc hội chứng MMA 39
2.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh sản để đánh giá ảnh hưởng
của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 40
2.4.4 Phương pháp lấy mẫu 40
2.4.5 Các phương pháp dùng trong xét nghiệm một số chỉ tiêu phi lâm
sàng: sinh lý, sinh hóa máu 41
2.4.6 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu chất béo, protein, đường, vật
chất khô và đo pH của sữa 41
2.4.7 Phương pháp phân lập và giám định vi khuẩn trong mẫu sữa lợn 42
2.4.8 Phương pháp phân lập và giám định vi khuẩn hiếu khí có trong dịch
tử cung 43
2.4.9 Phương pháp kiểm tra kháng sinh đồ của các vi khuẩn phân lập từ
sữa và dịch viêm tử cung lợn mắc hội chứng MMA với 10 loại
kháng sinh thông dụng 46
2.4.10 Ứng dụng điều trị hội chứng MMA 47
2.4.11 Thử nghiệm biện pháp phòng hội chứng MMA 48

từ mẫu sữa lợn mắc hội chứng MMA với 10 loại kháng sinh 76
3.15.2 Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn hiếu khí
phân lập từ dịch tử cung lợn mắc hội chứng MMA với 10 loại
kháng sinh thông dụng 82

vi
3.16 Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ với tập đoàn vi khuẩn trong mẫu
dịch tử cung của lợn mắc hội chứng MMA 93
3.17 Kết quả thử nghiệm điều trị hội chứng MMA 95
3.18 Kết quả thử nghiệm các biện pháp phòng hội chứng MMA bằng vệ
sinh thú y và chăm sóc nuôi dưỡng 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Kiến nghị 104
Danh mục công trình đã công bố có liên quan đến luận án 105
Tài liệu tham khảo 106
Phụ lục 112


YCW yeast cell wall: men vách tế bào

viii

DANH MỤC BẢNG

TT Tên bảng Trang

2.1 Bảng qui chuẩn lâm sàng phòng xét nghiệm NCCS 1999 47
2.2 Bố trí thử nghiệm biện pháp tổng hợp phòng hội chứng MMA 48
3.1 Kết quả theo dõi một số biểu hiện lâm sàng ở lợn nái mắc hội
chứng MMA 50
3.2 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA tại các địa phương 52
3.3 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA theo lứa đẻ 54
3.4 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA qua các mùa trong năm 55
3.5a Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến một số chỉ tiêu sinh sản ở lợn nái 57
3.5b Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 58
3.6 Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu huyết học của lợn nái mắc hội
chứng MMA và lợn nái bình thường 60
3.7 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở lợn nái mắc hội chứng
MMA và lợn nái bình thường 62
3.8 Kết quả kiểm tra hàm lượng protein huyết thanh của lợn mắc hội
chứng MMA và lợn bình thường 63
3.9 Hàm lượng đường huyết và hoạt độ men sGOT, sGPT ở lợn nái
mắc hội chứng MMA và lợn nái bình thường 65
3.10 Số loài vi khuẩn trong sữa lợn nái mắc hội chứng MMA và lợn nái
bình thường 67
3.11 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn hiếu khí trong sữa lợn mắc hội
chứng MMA và sữa lợn bình thường 69
3.12 Một số chỉ tiêu về thành phần, tính chất của sữa lợn 70

3.28 Kết quả theo dõi các đàn lợn con của những lợn nái được phòng
ngừa hội chứng MMA 101x
DANH MỤC HÌNH

TT Tên hình Trang

1.1 Tiết diện núm vú và phân loại khả năng hoạt động của núm vú lợn cái 11

3.2 Lô thí nghiệm phòng hội chứng MMA 101

3.3 Lô đối chứng phòng hội chứng MMA 101

DANH MỤC SƠ ĐỒ

TT Tên sơ đồ Trang

1.1 Cơ chế phát sinh chứng mất sữa 20

1.2 Cơ chế phát sinh chứng viêm tử cung 20

1.3 Cơ chế phát sinh chứng viêm vú 20 DANH MỤC BIỂU ĐỒ

TT Tên biểu đồ Trang


Waldmann, 2001), đặc trưng bởi việc giảm tiết sữa 12 - 48 giờ sau đẻ, viêm tử
cung, viêm vú ở lợn mẹ, còi cọc, dễ nhiễm bệnh và chết đói ở lợn con.

Ngày nay, hội chứng MMA còn được gọi là hội chứng rối loạn tiết sữa sau
đẻ (Post - Partum Dysgalactia Syndrome - PPDS/PDS), hoặc hội chứng giảm sữa
sau đẻ (Post - patrum Hypogalactia Syndrome - PHS). Lợn nái có tỉ lệ mắc bệnh
cao, tỉ lệ chết khoảng 2% nhưng lợn con có thể chết đến 80%, gây tổn thất lớn về
kinh tế (Shrestha, 2012).
Trong nghiên cứu đánh giá thiệt hại do ảnh hưởng của hội chứng MMA tại

2
Cộng Hòa Liên Bang Đức cho thấy: hội chứng này gây tổn thất kinh tế cho chăn
nuôi khoảng 15.000 Euro/1.000 lợn nái/năm (During and Friton, 2003).
Hội chứng MMA không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả
năng sinh sản, sức sản xuất của lợn nái mà còn ảnh hưởng đến chất lượng lợn
con. Trên thế giới, mặc dù hội chứng MMA đã được biết đến từ lâu nhưng chỉ từ
khi có một số công bố về tỷ lệ mắc hội chứng MMA từ 30 đến 35% ở một số đàn
lợn nái sinh sản thì mới có nhiều nghiên cứu chi tiết về tổn thương vú (Jensen et
al., 2006), về mối tương quan giữa viêm nhiễm đường sinh dục với hội chứng
MMA (Busse, 2006; Hulten et al., 2006), về xác định các yếu tố nguy cơ mắc hội
chứng (Perestrelo et al., 1994) và thử nghiệm điều trị (Gevaert et al., 2006; Heber
et al., 2010). Cùng với những đặc điểm lợn nái kém ăn, mệt mỏi, sốt, sưng vú,
viêm tử cung sau đẻ từ 12 đến 48 giờ, hội chứng MMA còn làm giảm tiết sữa và
đ
ặc biệt làm thay đổi thành phần của sữa qua đó làm tăng tỷ lệ chết ở lợn sơ sinh
tới 80% (Shrestha, 2012).
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về hội chứng MMA
nhưng chủ yếu các nghiên cứu mới đánh giá tỷ lệ mắc, phân lập vi khuẩn gây
bệnh, thử nghiệm phác đồ điều trị (Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho, 1985;
Trịnh Đình Thâu và cs., 2010). Tuy nhiên, việc xác định sự thay đổi các chỉ tiêu

con được sinh ra từ những lợn nái nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu một cách hệ thống về hội chứng MMA, từ biểu hiện triệu
chứng lâm sàng đến các chỉ tiêu phi lâm sàng, chất lượng sữa, thành phần vi
khuẩn trong sữa, trong dịch tử cung của lợn nái, làm kháng sinh đồ và đề xuất
các giải pháp phòng, trị hội chứng MMA. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát hội chứng viêm tử cung (Metritis), viêm vú (Mastitis), mất
sữa (Agalactia) - MMA
Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa được gọi bằng nhiều tên khác
nhau trên thế giới: theo Martin et al. (1967) hội chứng MMA là tên thường được
dùng ở các nước châu Âu; hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ (postpartum
dysgalactia syndrome - PPDS/PDS) được dùng ở các nước nói tiếng Anh
(Klopfenstein et al., 2006), ngoài ra còn một số tên gọi khác như: hội chứng mất
sữa (Peny, 1970); hội chứng mất sữa sau đẻ (Hermannson et al., 1978)… Tuy
nhiên, dù ở tên gọi nào cũng phản ánh căn nguyên gây nên những bệnh lý của hội
chứng và được biểu hiện bằng các triệu chứng đặc trưng: kém ăn hoặc bỏ ăn, lười
uống nước, bồn chồn, sốt > 39,5
0
C, sưng tuyến vú, viêm tử cung, tiết nhiều dịch
viêm và giảm tiết sữa từ 12 đến 48 giờ sau đẻ, lợn con chết đói tỷ lệ cao (Hoy,
2004; Shrestha, 2012). Hội chứng do vi khuẩn gây ra và là nguyên nhân làm tăng
tỷ lệ chết, kém tăng trọng ở lợn con (BPEX, 2011) và gây tổn thất kinh tế trong

Nguyên nhân: Theo Sobko and Gadenko (1978), nguyên nhân của bệnh
viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, do sót nhau khi đẻ. Bệnh phát triển do
nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ,
chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục lợn.
Theo Đào Trọng Đạt và cs. (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do
các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung; dụng cụ dẫn tinh
không được vô trùng khi phối giống đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái
gây viêm.
- Khi phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc
mang vi khuẩn từ những lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang
cho lợn khỏe.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm tử cung.

6
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, lao…
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ
không sạch; trong thời gian lợn đẻ cổ tử cung mở, tạo điều kiện cho vi sinh vật
xâm nhập và gây viêm.
- Do nấm xâm nhập.
Ngoài các nguyên nhân trên, viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm
trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung trong thời gian động dục (do lúc đó cổ
tử cung mở) (Lê Văn Năm, 1997).
Theo Madec and Neva (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường
tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong
âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra.

phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc.
- Ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: Nếu tử cung bị viêm mạn tính
thì sự phân tiết PGF

giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại; thể vàng tiếp tục tiết
Progesterone. Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết FSH, do đó ức chế
sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở
lại và không thể rụng trứng.
Biểu hiện rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận
thấy ở lợn viêm tử cung lúc đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn. Mặt khác, các
quá trình bệnh lý xảy ra lúc đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn
nái sau này. Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung.
Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên
nhân làm giảm độ mắn đẻ. Ngoài ra, viêm tử cung là một trong những nguyên
nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp. Đặc
biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt
động của buồng trứng (Madec and Neva,1995).
Chẩn đoán viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện
vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch
viêm có thể chảy ra ngoài. Lượng dịch viêm không ổn định, có thể từ vài millilit
(ml) đến vài trăm millilit. Tính chất của dịch viêm cũng khác nhau, từ dạng dung
dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng đặc như kem, có thể màu máu
cá. Người ta thấy rằng thời kì sau đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, còn

8
viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa (Madec and Neva, 1995).
Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình cục bộ ở cơ
quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt.
Thân nhiệt là một trị số hằng định ở động vật bậc cao. Theo Hồ Văn Nam

tiêm 1 lần, Lugol 200 ml, neomycin 12 mg/kg khối lượng cơ thể, bơm vào tử
cung sau đó dùng Ampicilline 3 - 5 g tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần, liệu
trình điều trị 3 - 5 ngày.

9
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2011) cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung
bằng phác đồ như sau:
- Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch thuốc sát trùng như: Biocid - 30
(1%), Lugol 5%, Han - iodine 5%
- Tiêm một trong các loại kháng sinh sau: gentamicin, oxytetracyclin,
penicillin…
- Tiêm oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài.
- Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE Bcomplex, Calci - B12,
Calci - fort…
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2000), dùng oxytocin với liều 20 - 40
UI/con/ngày để tăng co bóp dạ con, tống dịch viêm ra ngoài. Sau đó thụt rửa tử
cung bằng Han - iodine 5%, tiêm kháng sinh: gentamicin 4% 1 ml/6 kg thể
trọng hoặc lincomycin 10% 1 ml/10 kg thể trọng liên tục trong 3 đến 5 ngày.
Tác giả Đoàn Thị Kim Dung và cs. (2002) đã dùng một số bài thuốc nam
trong việc điều trị viêm tử cung cho kết quả tốt.
Bài 1:
- Nước sắc vỏ cây xoan;
- Lá bạch đàn đồng nữ 500 g;
- Muối ăn 50 g;
- Nước sạch 3000 ml.
Các nguyên liệu trên cho vào ấm đun sôi trong 30 phút, chắt lấy nước để
nguội rồi dùng nước đó thụt rửa tử cung, âm đạo ngày 1 lần, rửa liên tục trong 7
đến 10 ngày.
Bài 2: Nếu tử cung, âm đạo bị viêm nặng, có mùi hôi thối, dịch viêm
nhiều có thể dùng 50 g tỏi ta bóc vỏ, rửa sạch, giã nhuyễn cho vào 500 ml nước,

với các ống dẫn sữa lớn. Đầu núm vú là thụ quan ngoài quan trọng góp phần điều
hoà phản xạ tiết sữa.
- Bao tuyến: Do những tế bào biểu mô phân tiết tạo thành, là nơi sản sinh
ra sữa. Các bao tuyến giống như những túi nhỏ và những ống dẫn nhỏ trực tiếp
thông với xoang bao tuyến.
- Ống dẫn sữa: Các ống dẫn sữa đầu tiên là các ống dẫn nhỏ, sau đó tập
trung thành các ống dẫn trung bình, ống dẫn lớn; ở lợn không có bể sữa.
Cấu trúc bên trong và phân loại khả năng hoạt động của núm vú lợn cái

11

được trình bày tại hình 1.1.
Theo Rzasa et al. (2004), ở lợn nái có số lượng ống dẫn sữa trong núm vú
phân bố không đều nhau. Cụ thể: 43% lợn nái trong núm vú có 2 ống dẫn, 43%
lợn nái có núm vú với 1 và 2 ống dẫn, 11,5% có 2 và 3 ống dẫn, 2,5% có cả 1; 2
và 3 ống dẫn.
Bao tuyến và các ống dẫn sữa nhỏ có các tế bào biểu mô bao bọc tầng bên
ngoài. Những tế bào biểu mô đó co bóp để cho sữa ở trong xoang bao tuyến thải
ra. Ống dẫn sữa và bể sữa có các sợi cơ trơn bao bọc xung quanh, các sợi cơ này
co bóp để giúp cho quá trình thải sữa.

Hình 1.1. Tiết diện núm vú và phân loại khả năng hoạt động
của núm vú lợn cái
(Nguồn:

Muirhead and Alexander (2010)
Các mô liên kết, mô mỡ bao quanh toàn bộ tuyến vú, đồng thời các mô
này đi sâu vào bên trong tạo thành các thuỳ nông, thùy sâu, chia tuyến vú thành
nhiều thuỳ nhỏ. Trong các thuỳ có nhiều sợi đàn hồi và khi sữa tích lại trong
tuyến vú thì toàn bộ bầu vú căng ra.

đồng thời khối thai lớn chèn ép làm giảm nhu động ruột gây ra tình trạng táo bón.
Vi khuẩn trong phân sẽ có điều kiện sinh sôi, cùng với các độc tố gây viêm trong
phân xuyên qua thành ruột vào máu, đến vú gây viêm.

13

Do stress: Nái mang thai sắp đến ngày sinh thường hay bị stress. Stress
làm giảm sức khỏe và sức đề kháng của lợn nái tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây
bệnh phát triển và gây viêm.
Với nguyên nhân chấn thương cơ học hoặc lợn con bú không hết sữa,
bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên một vài vú. Trường hợp kế phát viêm tử cung
hoặc cạn sữa không hợp lý, nhiều vú hoặc có khi toàn bộ bầu vú bị viêm.
Theo Muirhead and Alexander (2010), nguyên nhân gây viêm một hay
nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra
lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn. Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ
đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm
vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng). Nhóm vi khuẩn gây
viêm vú gồm: Coliform, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus,
Miscellaneous. Trong đó vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm
từng tuyến vú, Klebsiella spp gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn E. coli với
nhiều type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố
của E. coli sinh ra là nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa.
Theo White (2013), nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do các loại
vi khuẩn: E. coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm vú từ phân và
nền chuồng. Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng
trong phòng bệnh.
Triệu chứng
Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu
hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn
cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status