đánh giá khả năng thích ứng của một số tổ hợp lúa lai f1 mới chọn tạo tại lào cai - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
o0o ĐỖ THỊ BẮC
Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA MỘT SỐ
TỔ HỢP LÚA LAI F1 MỚI CHỌN TẠO TẠI LÀO CAI Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng

Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên - người hướng dẫn khoa học thứ nhất đã tận tình giúp đỡ
tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo
trong khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô
giáo giảng dạy chuyên ngành lúa thuộc Viện nghiên cứu lúa Trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu lúa lai thuộc Viện Khoa học kỹ
thuật Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các
thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan và gia đình đã quan tâm động viên
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Tác giả

Đỗ Thị Bắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của của đề tài 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA
ĐỀ TÀI 5

-vụ Xuân 2009 62
3.2.2. Kết quả khảo nghiệm một số tổ hợp lúa lai vụ Mùa 2009 70
3.3. Thử nghiệm sản xuất - vụ Xuân 2010 80
3.3.1. Tình hình sinh trưởng và phát triển của tổ hợp lúa lai ưu tú tham
gia khảo nghiệm tại một số vùng sinh thái của Lào Cai. 80
3.3.2 Tình hình sâu bệnh hại trên đồng ruộng và tính thích ứng của tổ
hợp lúa lai ưu tú tham gia thử nghiệm 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1. Kết luận 84
2. Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Các giống lúa lai tham gia khảo nghiệm ở vụ Xuân, Mùa 200944
Bảng 3.1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu chính qua các tháng trong năm
trung bình 5 năm 2005 – 2010 tại Lào Cai 58
Bảng 3.2: Diễn biến diện tích, năng suất lúa trung bình toàn tỉnh Lào Cai 59
Bảng 3.3: Cơ cấu lúa lai và năng suất lúa tại Lào Cai 60
Bảng 3. 4: Các giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa lai mới chọn tạo tại
Lào Cai Vụ Xuân 2009 63
Bảng 3.5 : Một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai tham gia thí
nghiệm vụ Xuân 2009 64
Bảng 3.6. Đặc tính nông sinh học các tổ hợp lúa lai tham gia thí nghiệm . 65
Bảng 3.7. Tính chống chịu đồng ruộng của các giống lúa lai qua đánh giá
vụ Xuân 2009 66
Bảng 3.8: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lúa
lai mới chọn tạo tại Lào Cai - vụ Xuân 2009 68

1
MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Lúa gạo là lương thực của 3 tỉ người trên thế giới, phần lớn lúa gạo tên
thế giới được tiêu thụ bởi những nông dân trồng lúa. Sản lượng lúa gia tăng
trong thời gian qua đã góp phần xoá đói, giảm nghèo, mang lại an sinh xã hội.
Hơn một thập kỷ qua, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về ưu thế lai trong sản
xuất lúa gạo đã đạt được những thành công hết sức to lớn. Lúa ưu thế lai với
diện tích gieo trồng hàng chục triệu ha ở Trung Quốc đã góp phần tạo nên một
cuộc “cách mạng xanh” ở đất nước có trên một tỷ dân này.
Ở Việt Nam, mặc dù mãi đến đầu thập kỷ 90 lúa lai mới bắt đầu được
gieo trồng ở các tỉnh phía Bắc, các chương trình dự án nghiên cứu và phát triển
lúa lai được triển khai nhờ sự trợ giúp của FAO và Trung Quốc, nhưng chúng ta
rất tự hào về những gì mà các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã đạt được.
Diện tích lúa lai của Việt Nam đã đạt gần nửa triệu ha, lúa lai đã làm nên một
bước đột phá mới về năng suất lúa, rút ngắn chênh lệch năng suất lúa giữa các
vùng. Cũng gần 20 năm qua, nhiều thế hệ giống lúa ưu thế lai nhập từ Trung
Quốc đã được chúng ta đánh giá, lựa chọn và khuyến cáo để nông dân mở rộng
ra sản xuất, chương trình nghiên cứu tạo giống và sản xuất hạt lai với giống Bác
ưu 64, Bác ưu 903, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838… từ nguồn bố mẹ của nước ngoài
cũng đã được chúng ta ứng dụng thành công.
Nhiều giống lúa ưu thế lai trong nước cũng đã được công nhận giống
quốc gia hoặc khu vực hóa, như VL-20, TH3-3, HYT-57, HYT-83 và
khuyến cáo cho nông dân mở rộng. Các giống này có ưu thế lai không chỉ về
năng suất mà cả về tính chống chịu, phẩm chất ăn uống và được đánh giá
tương đương các giống của Trung Quốc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



3
2. Mục tiêu nghiên cứu của của đề tài
- Tiến hành khảo nghiệm, so sánh, đánh giá được tính thích ứng và ưu
thế lai, các đặc điểm nông sinh học cũng như chống chịu của các tổ hợp lai,
nhằm tìm ra 1-2 tổ hợp có các ưu điểm nổi bật.
- Lựa chọn 1-2 tổ hợp tốt nhất tiến hành thử nghiệm sản xuất nhằm
đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng thích ứng và cho năng suất tại một
số vùng sinh thái của Lào Cai.
3. Yêu cầu của đề tài:
- Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các đặc điểm nông
sinh học , khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và các yếu tố cấu thành
năng suất của các tổ hợp lúa lai.
- Đề xuất một số tổ hợp có triển vọng và tiến hành thử nghiệm sản xuất
đánh giá năng suất, khả năng thích ứng của một số tổ hợp lai có triển vọng tại
một số huyện của tỉnh Lào Cai.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Từ việc nghiên cứu các giống lúa lai và đánh giá các chỉ tiêu nông,
sinh học của các giống đó sẽ góp phần chọn lọc, đề xuất được các tổ hợp mới
không chỉ có ưu thế về tiềm năng năng suất mà còn cả các khía cạnh về chống
chịu và chất lượng phục vụ cho việc ổn định và mở rộng diện tích lúa lai vụ
Xuân cũng như vụ Mùa trên địa bàn Lào Cai
+ Tập hợp được các thông số kỹ thuật, tiến tới xây dựng và hoàn thiện
quy trình phục vụ triển khai sản xuất một số tổ hợp lai triển vọng
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài thực hiện trên địa bàn tỉnh Lào Cai- một tỉnh nông nghiệp của
vùng miền núi phía Bắc phục vụ mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


hợp và được sử dụng đồng nghĩa với cường lực lai để mô tả những ảnh
hưởng có lợi của quá trình lai tạo.
Có khá nhiều các phát minh khoa học và công trình nghiên cứu về lúa
lai đã được ghi nhận. Đi đầu trong lĩnh vực này là J.W. Jones (người Mỹ) đề
cập đến ưu thế lai của lúa vào năm 1926, trong đó năng suất là tính trạng được
chú ý đặc biệt hơn cả. Sau đó các nhà di truyền và chọn giống đã tiếp tục đi
sâu nghiên cứu bản chất ưu thế lai, tìm hướng khai thác hiệu quả của ưu thế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
lai phục vụ sản xuất với mục tiêu tạo ra các giống ưu thế lai có những bước
đột phá về năng suất và tính chống chịu.
Vấn đề nghiên cứu và mở rộng sản xuất lúa lai thương phẩm được đề
xuất ngay từ rất sớm bởi một nhóm các nhà khoa học nông nghiệp các nước
trồng lúa (Sampath.S, Mohathy H.K, 1954; Kawano, 1969; Jenning, 1969;
Swaminathan và cộng sự 1972). [61], [46], [44]; các nhà khoa học Mỹ
(Carnahan & cộng sự 1972). [32]; các nhà khoa học Nhật Bản (Shinjyo và
Omura, 1966). [67]; các nhà khoa học Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)
(Athwal và Virmani, 1972)[34]. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đều
gặp trở ngại và khó khăn trong việc tìm ra phương pháp sản xuất hạt lai
thích hợp, đặc biệt việc nhân dòng bố mẹ, vì vậy việc triển khai sản xuất
rộng để có đủ giống cho việc gieo cấy đời F1 còn nhiều vấn đề tồn tại.
Dân số và vấn đề an ninh lương thực luôn là vấn đề nan giải trong
nhiều năm ở Trung Quốc, chính vì vậy nhà nước Trung Quốc đã rất chú
trọng đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu lúa lai. Sau nhiều năm nghiên cứu,
cuối cùng các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm ra phương pháp và cách sản
xuất hạt lai thành công trên diện rộng.
Năm 1964, Yuan Long Ping đã phát hiện ra nguồn bất dục đực đột biến
đầu tiên trên giống Indica chín muộn ở khu vực Dong-Jing-Xian (Lizebing và

dòng của Trung Quốc năm 1999 ước tính khoảng 150.000-160.000ha, chiếm
khoảng trên 1% diện tích lúa lai. Hiện nay diện tích lúa lai ở Trung Quốc
chiếm 55% diện tích đất trồng lúa , sản xuất hạt lai ở Trung quốc đã đạt được
nhiều thành công hết sức to lớn, nhiều tổ hợp siêu lúa lai đã ra đời, đã có
những tổ hợp lúa lai cho năng suất đạt tới trên 17 tấn/ha/vụ.
Chương trình tạo giống siêu lúa của Trung Quốc được tiến hành theo
trình tự pha I, Pha II và pha III. Những thành công trong pha I và II đã mở ra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
triển vọng lớn cho chương trình tạo siêu lúa lai của nước này. Trong pha III
gene C4 từ ngô sẽ được nhân vô tính và chuyển cho siêu lúa lai với mục tiêu
phổ cập rộng rãi các giống lúa siêu lai có năng suất 13,6 tấn/ha vào năm 2010.
Sự thành công to lớn trong nghiên cứu và phát triển lúa lai ở Trung
Quốc đã làm nhiều nước phải thay đổi quan điểm về loại cây trồng này. Tiến
độ nghiên cứu lúa lai những năm gần đây đang phát triển với tốc độ cao và đa
dạng, năm 1990 bằng con đường gây đột biến nhân tạo, Nhật Bản đã tạo ra
được dòng bất dục mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS). Khái niệm và con đường
lúa lai 2 dòng ra đời, các giống lúa lai 2 dòng với tiềm năng năng suất cao là
nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng trong chương trình phát triển
lúa lai giữa các loài phụ (Indica/Japonica).
Năm 1993, nghiên cứu lúa lai cũng được bắt đầu triển khai ở Viện
nghiên cứu lúa Bangladesh (BRRI), một số dòng CMS ổn định đã được đề
xuất là: IR6768A, IR68725A, IR66707A, tỷ lệ nhận phấn ngoài đạt từ 22-
43,4%. Việc sản xuất hạt lai F1 cũng đã được đề nghị gieo cấy trên tổ hợp
2R:14A [9].
Lúa lai được triển khai nghiên cứu ở Ấn Độ từ khá sớm, và đã xây
dựng được mạng lưới nghiên cứu lúa lai gồm 12 Trung tâm. Năm 1996, Ân
Độ đã sản xuất được 1.300 tấn hạt lai F1 và gieo cấy được 50.000 ha lúa lai,

Các giống lúa lai trong sản xuất hiện nay phần lớn là giống Trung Quốc
gồm chủ yếu là loại lai 3 dòng còn lai 2 dòng chỉ chiếm khoảng 100.000 ha.
Một số tổ hợp lai 2,3 dòng có triển vọng ở Việt Nam như VL20 của Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội, HYT57 của Trung Tâm nghiên cứu lúa lai. Sản
xuất hạt giống lai trong nước cũng được thực hiện từ năm 1992, đến năm
2001 diện tích sản xuất hạt lai đã lên tới 1.450ha, cho sản lượng khoảng 2.400
tấn, đáp ứng được 15% nhu cầu lượng giống mà chúng ta phải nhập từ Trung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Quốc (khoảng 16.000 tấn). Kinh nghiệm sản xuất hạt lai cũng đã được tích
luỹ, những năm đầu năng suất hạt lai mới chỉ đạt 300kg/ha, đến năm 2001
năng suất hạt lai đã đạt trung bình 1.700kg (Bùi Bá Bổng, 2/2002) [5].
Năm 2002, diện tích sản xuất hạt lai đã tăng lên 1.600 ha, năng suất
trung bình 2.400kg/ha, sản lượng đạt gần 4.000 tấn. Vụ Đông Xuân 2002,
công ty giống cây trồng Miền Nam, công ty Hưng Nông sản xuất tổ hợp lai
BoA/Quế 99 và BoA/ Trắc 64 ở Miền Trung và Tây Nguyên đã đạt năng suất
3,5- 4 tấn/ha.
Việt Nam cũng đã dần hình thành chiến lược phát triển lúa lai, nhằm
nội địa hoá nguồn cung ứng giống tạo thế chủ động cho nông dân. Pháp
lệnh về giống cây trồng và bảo hộ quyền tác giả đã bắt đầu có hiệu lực, một
vài giống ưu thế lai của các nhà khoa học đã được bán nhượng bản quyền
tác giả như giống VL-20 của tác giả Nguyễn Văn Hoan - Đại học Nông
nghiệp Hà Nội.
Trong các năm qua, Nhà nước đã đầu tư cho chương trình sản xuất lúa
lai, năm 2001 chương trình hỗ trợ sản xuất hạt giống lúa lai là 6,2 tỷ đồng.
Chương trình lúa lai cũng đã được trợ giúp của Quốc tế với 2 dự án của FAO
đã hoàn tất là VIE/2251 và VIE/6614 và dự án nghiên cứu và phát triển lúa lai
Châu á tiếp tục vào năm 2002 (Bùi Bá Bổng, 2/2002) [ 2 ].

dòng bất dục đực Pei ải-64 bao gồm: Chế độ khử trùng hạt giống, chế độ nuôi
cấy lát mỏng, nhân nhanh chồi lúa bằng kỹ thuật nhân cụm chồi, môi trường
nhân nhanh là môi trường MS.
Các tác giả Lê Hùng Lĩnh, Hồ Hữu Nhị, Nguyễn Trí Hoàn (2009) đã
nghiên cứu chọn tạo một số dòng bất dục với nhiệt độ (TGMS) dựa trên
phương pháp lai hữu tính và làm thuần bằng kỹ thuật nuôi cấy bao phấn. Kết
quả đã chọn được các dòng triển vọng BioMS 3, BioMS 5, BioMS 10 có độ
bất dục là 100% .

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
1.2. Cơ sở sinh lý của hiện tƣợng ƣu thế lai
Sự tăng năng suất hạt đã dẫn đến tăng hàm lượng chất khô, là kết quả
của việc tăng chỉ số diện tích lá (LAI) và tốc độ phát triển của chiều cao cây,
tăng chỉ số thu hoạch, kết quả của sự tăng số hoa trên bông, tăng khối lượng
nghìn hạt (Ponnuthurai và CS, 1984; Araki và CS, 1986; Blanco và CS, 1986;
Agata, 1990) [59] , [33], [9].
Yamaguchi ( 1994 ) cũng đã quan sát thấy ưu thế lai về hàm lượng chất
khô tồn tại ở cả 2 giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực,
thấp hơn ở giai đoạn trổ và khôi phục lại một phần ở lúc chín [ 9 ].
Vai trò của các hoạt động sinh lý trong ưu thế lai của lúa cũng đã được
kiểm chứng bởi nhiều tác giả: Maruyama và cộng sự, 1982 thu được kết quả
dương tính. Nhưng Kabuki và cộng sự, 1976; 1993; Yamachi và Yoshida,
1985 lại thông báo kết quả ngược lại.
Deng (1988) đã thông báo cơ sở sinh hóa của hiện tượng ưu thế lai.
Theo ông có sự sai khác về hoạt tính của men amylose và amylose ở hạt đã
nẩy mầm giữa bố mẹ và con lai…[34].
1.3. Một số nghiên cứu xác định cơ sở di truyền của hiện tƣợng ƣu thế lai
Một vài phương pháp sinh học đã được dùng để nghiên cứu cơ sở di

có bộ rễ khoẻ, khả năng huy động dinh dưỡng lớn, nên cả khi cấy chay cũng
vẫn cho năng suất cao hơn giống CR203 (Quách Ngọc Ân, 1994) [ 21].
1.4.2. Ưu thế lai trên các cơ quan sinh sản
Kết quả nghiên cứu của Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Hồ Nam
(Trung Quốc) từ 1972 đến 1975 trên nhiều tổ hợp lai triển vọng cho năng suất
cao hơn đối chứng thuần từ 20-30% (Lin và Yuan, 1980) [ 52].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Yuan L.P. (1985) [ 87] khảo sát trên 29 tổ hợp lai thì thấy 28 tổ hợp có
ưu thế lai thực có giá trị dương ở tính trạng năng suất hạt, chiếm 96,5% trong
đó có 18 tổ hợp có năng suất cao đáng tin cậy.
Yuan L.P (1993) [90], còn cho biết những con lai được tạo ra từ loài phụ
Indica lai với Indica có năng suất đạt 15,3 tấn/ha, con lai tạo ra từ loài phụ
Japonica với Japonica năng suất 15,65 tấn/ha.
Theo Chang và cộng sự (1971) [35]; Virmani và cộng sự (1981,1982)
[74], [75] thì các yếu tố cấu thành năng suất như số bông/khóm, tỷ lệ hạt chắc
và khối lượng hạt của lúa lai có ưu thế lai cao hơn hẳn các giống lúa thường.
Cũng theo Chang và cộng sự (1971) [35], Carnahan và cộng sự (1972)
[32]. Virmani (1981, 1982) [74, 75] thì yếu tố cấu thành năng suất biểu hiện
ưu thế lai cao rõ rệt, trong đó có nhiều tổ hợp có ưu thế lai cao ở chỉ tiêu số
bông/khóm. Ưu thế lai về khối lượng trung bình của bông cao hơn các giống
lúa thường do lúa lai có khối lượng hạt nặng và tỷ lệ hạt chắc cao.
Virmani và cộng sự (1981) [ 75], [74]. cho rằng ưu thế lai về năng suất
hạt chủ yếu do số hạt/bông nhiều hơn và khối lượng 1000 hạt nặng hơn
Chang và cộng sự (1971) [35] và Virmani (1982) [74] cho rằng ưu thế
lai cao về năng suất hạt là do ưu thế lai của một hoặc nhiều yếu tố cấu thành
năng suất. Tại Ân Độ, một số giống lúa được tạo ra từ nguồn mẹ nhập nội như
IR

tạo và thử nghiệm giống lai 2 dòng N1-10 cho năng suất 61-65tạ/ha có khả
năng chịu rét và chống đổ tốt.
1.4.3. Ưu thế lai về chiều cao cây
Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chiều cao cây tuỳ thuộc vào đặc
điểm của bố và mẹ (Singh, 1978) [ 70].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Virmani và cộng sự (1982) [74] cho rằng những cặp bố mẹ có chiều
cao nửa lùn sẽ tạo ra các con lai có chiều cao bằng hoặc cao hơn chút ít so với
bố mẹ. Do vậy cả bố và mẹ của lúa lai nên chọn giống có gen lùn.
Một số tác giả cho rằng chiều cao cây có liên quan tới tính chống đổ trên
đồng ruộng nên khi chọn bố mẹ phải làm sao cho con lai F1 cao tương đương
với giống lúa nửa lùn cải tiến là thích hợp (Nguyễn Thị Trâm, 1995) [16].
1.4.4. Ưu thế lai về khả năng đẻ nhánh
Chang và cộng sự (1971) [35] chỉ ra là con lai F1 không những đẻ khoẻ
mà còn có tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao, số hạt/bông cũng nhiều hơn lúa thường.
Lin và Yuan (1980) [52] cho biết lúa lai có khả năng đẻ sớm và đẻ tập trung.
Kết quả nghiên cứu của trường Đại học nông nghiệp Hồ Nam cho thấy con lai
F1 có khả năng đẻ nhánh khoẻ và sớm, trung bình 23 ngày sau cấy, giống
Nam ưu 2 đẻ 15,75 dảnh/ khóm, giống Quảng Xuân đẻ 10,12 dảnh/khóm, ưu
thế lai chuẩn về khả năng đẻ nhánh là 155,6%, Yuan. L.P, (1985) [87].
1.4.5. Ưu thế lai về năng suất chất khô và chỉ số thu hoạch
Kết quả nghiên cứu của Viện sinh lý cây trồng Quảng Đông cho biết
hoạt động tổng hợp tinh bột của con lai F1 bắt đầu từ ngày thứ 6 đến ngày thứ
26 sau khi nở hoa cao hơn nhiều so với lúa thường (Wang & Yoshida,
1984)[80].
Rao (1995) [60] khẳng định năng suất chất khô tương quan thuận với
năng suất hạt. Kawano và cộng sự (1969) [46] nhận thấy sự sinh trưởng quá

ngập tốt (Lin & Yuan, 1985) [52], (Kaw & Khush, 1985) [45]. Con lai cũng có
khả năng thích ứng rộng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau (Lin và Yuan .L.P,
1980) [53].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
Lúa lai cũng được đánh giá là có tính thích ứng rộng. Kết quả theo dõi
khi gieo trồng rộng rãi các giống lúa lai của Trung Quốc ở miền Bắc Việt
Nam, nhất là trong điều kiện các tỉnh Miền núi phía Bắc cũng như các tỉnh
miền núi khu vực Tây Nguyên với mức năng suất thực thu đạt rất cao (9-14
tấn/ha) đã chứng tỏ điều này. (Triệu Tài Vinh, Mai Quang Vinh, 2001 [30].
1.4.7. Ưu thế lai về một số chỉ tiêu sinh lý
Lúa lai có bộ lá phát triển khá mạnh, diện tích lá lớn và hàm lượng diệp
lục/đơn vị diện tích lá cao, do vậy hiệu suất quang hợp và khả năng tích luỹ
chất khô lớn, ngược lại cường độ hô hấp lại thấp hơn lúa thường.
Yuan L.P (1985) [93]; (1997) [86] cho biết, giống Nam ưu 2 có diện
tích lá khi trỗ là 6913,5 cm
2
/ cây, ở thời kỳ chín là 4122,8 cm
2
/ cây, trong khi
đó diện tích lá tương ứng của dòng bố tương ứng là: 4254,2 và 2285,1 cm
2
/
cây do vậy cường độ quang hợp của Nam ưu 2 cao hơn dòng bố là 35%
nhưng cường độ hô hấp lại thấp hơn lúa thường một cách đáng kể ở các giai
đoạn sinh trưởng từ 5,6-27,1%. Hiệu suất tích luỹ chất khô của lúa lai có ưu
thế hơn lúa thường nên tổng số lượng chất khô trên một cây tăng, chủ yếu tích
luỹ vào bông, hạt còn lượng tích luỹ ở các cơ quan dinh dưỡng như thân lá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status