MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, dưới những tác động của
cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu về tìm kiếm về thị trường và thuộc địa của
người Anh ngày càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, trong giai đoạn này, với sự mở
rộng của các hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến người
Anh giành nhiều sự quan tâm trở lại đối với khu vực Đông Nam Á.
Trong bối cảnh đó, các tiểu quốc Malaya với vị trí chiến lược hết sức quan
trọng – nằm trên tuyến đường biển từ Ấn Độ đến Trung Quốc, đã nhanh chóng
thu hút được sự chú ý của chính quyền Anh. Từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế
kỉ XIX, người Anh đã nhanh chóng thiết lập được phạm vi ảnh hưởng của mình
tại các tiểu quốc Malaya thông qua việc xây dựng các mối quan hệ về kinh tế,
chính trị – quân sự, văn hóa – giáo dục với các tiểu quốc này. Những mối quan
hệ bước đầu được thiết lập giữa người Anh và các tiểu quốc Malaya trong giai
đoạn này được xem là những bước đệm quan trọng cho sự phát triển về sau của
mối quan hệ giữa Anh và toàn bộ bán đảo Malaya. Để trên cơ sở đó, người Anh
có thể duy trì được sự hiện diện của mình lâu nhất, thu được nhiều lợi ích nhất
và để lại nhiều dấu ấn nhất ở bán đảo Malaya.
Tuy có vai trò quan trọng như vậy trong suốt tiến trình lịch sử của Malaya
thời cận đại, nhưng cho đến nay vẫn chưa có thật nhiều công trình đi sâu vào
nghiên cứu về vấn đề này.
Việc đi sâu, làm rõ về mối quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malaya từ
nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn sâu
hơn, hệ thống hơn về mối quan hệ này mà còn giúp chúng ta hiểu hơn về những
tác động của mối quan hệ này đối với người Anh và các tiểu quốc Malaya để từ
1
đó có thể thấy được những biểu hiện sinh động về phương thức xâm lược của
người Anh đối với bán đảo Malaya.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vấn đề này còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt
thực tiễn.Từ việc nhìn nhận những mặt tích cực và hạn chế của các tiểu quốc
Trong tác phẩm “In Seach of Southeast Asia a modern history” ấn hành
năm 1987 của nhóm tác giả David P. Chander, William R. Roff, John R. W.
Small, David Joel Steinberg, Roberttl H. Tuylor, Alexander Woodside, David K.
Wyatt đã nêu lên một số đặc điểm khái quát của các tiểu quốc Malaya suốt từ thế
kỉ XVI đến khi bán đảo Malaya thống nhất. Trong đó, một số đặc điểm về quá
trình xâm nhập của người Anh vào bán đảo này cũng đã được đề cập.
Trong công trình nghiên cứu “A history from Earliest times to the present”,
ấn hành năm 1963, tác giả N. J. Ryan đã có đề cập một cách cụ thể lịch sử của
bán đảo Malaya qua các thời kì. Trong đó, những hoạt động chính của người
Anh tại các tiểu quốc Malaya từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX đã
được tác giả làm rõ qua hai tiểu mục “Eighteenth - century Malaya and the
Bugis” và “The establishment of the Straits Settemrnts”.
Hay trong tác phẩm “Britsh Malaya” của William Brendon and son, ấn
hành năm 1906, tác giả đã đi sâu vào phân tích đặc điểm tình hình của bán đảo
Malaya kể từ khi người Anh thiết lập được Khu định cư eo biển năm 1824 đến
năm 1906. Trước đó, tác giả cũng đã đề cập đến tình hình của đảo Penang,
Singapore và thành phố Malacca trong khoảng thời gian từ nửa sau thế kỉ XVIII
đến đầu thế kỉ XIX.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về lịch sử của bán đảo Malaya từ
nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, chủ yếu mang tính chất đại cương.
Trong đó có thể kể đến một số công trình sau:
Tác phẩm “Lịch sử Đông Nam Á” (tập IV) do Trần Khánh chủ biên, xuất
bản năm 2012 đã đề cập đến lịch sử các quốc gia ở Đông Nam, trong đó có
Malaya từ thế kỷ XVI đến năm 1945. Ở phần này, tác giả đã có tập trung làm rõ
về sự bành trướng thương mại và thiết lập chế độ thuộc địa của Anh ở Malaya từ
nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX.
Còn trong tác phẩm “Lịch sử Đông Nam Á” của Lương Ninh, Đỗ Thanh
Bình, Trần Thị Vinh xuất bản năm 2008, các tác giả đã dành chương VII để trình
3
bày về quá trình xâm chiếm các quốc gia Đông Nam Á của chủ nghĩa thực dân
4
Nhìn chung, những tác phẩm trên về tuy có đề cập đến mối Quan hệ của
Anh và các tiểu quốc Malaya từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, nhưng
chưa đi sâu vào phân tích nhiều khía cạnh của mối quan hệ này cũng như chưa
rút ra được các đặc điểm cũng như những tác động của mối quan hệ này đối với
cả người Anh và người Malay. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu kiến thức từ các
nguồn tư liệu trên sẽ giúp chúng ta có thể đi sâu vào nghiên cứu và hệ thống hóa
kiến thức cho đề tài nghiên cứu “Quan hệ của Anh và các tiểu quốc Malaya từ
nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu của khóa luận: Mối quan hệ giữa Anh và các tiểu
quốc Malya từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX.
- Về phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở nguồn tài liệu khai thác được, tôi đã
tập trung làm rõ về mối quan hệ của Anh và các tiểu quốc Malaya trong phạm vi
sau:
+ Về thời gian: Khóa luận tập trung nhiên cứu mối quan hệ của Anh với các
tiểu quốc Malaya trong khoảng thời gian từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ
XIX.
+ Về mặt không gian: khóa luân tập trung đi sâu phân tích về mối quan hệ
giữa Anh và các tiểu quốc Malaya trên một lĩnh vực trọng tâm như: kinh tế,
chính trị - quân sự, văn hóa – giáo dục.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng một bức tranh tương đối đầy
đủ về mối quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malayaa từ nửa sau thế kỉ XVIII
đến đầu thế kỉ XIX. Trên cơ sở đó, rút ta một số nhận xét về những đặc điểm của
mối quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malaya cũng như những tác động của
mối quan hệ đó đối với người Anh và các tiểu quốc Malaya trong giai đoạn này.
- Từ việc xác định mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
+ Làm rõ các nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Anh và các tiếu quốc
Malaya từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX.
Về mặt khoa học: Qua nghiên cứu, sẽ góp phần hoàn thiện hơn kiến thức về
mối quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malaya từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu
thế kỉ XIX cũng như đi sâu vào phân tích các đặc điểm của mối quan hệ này và
6
những tác động của nó đối với hai chủ thể trong mối quan hệ này: người Anh và
các tiểu quốc Malaya.
Về mặt thưc tiễn: khóa luận văn là công trình tập hợp nhiều nguồn tư liệu
khá phong phú về mối quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malaya từ nửa sau thế
kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX. Do vậy, bên cạnh những đóng góp về mặt khoa học
nói trên khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích, phục vụ cho việc học tập,
nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử Malaya nói riêng và lịch sử Đông Nam Á nói
chung.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn
được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Các nhân tố tác động đến mối quan hệ của Anh và các tiểu quốc
Malaya từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX.
- Chương 2: Quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malaya từ nửa sau thế kỉ XVIII
đến đầu thế kỉ XIX.
- Chương 3: Một số nhận xét về mối quan hệ giữa Anh và các tiểu quốc Malaya từ
nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX.
7
NỘI DUNG
Chương 1
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ CỦA ANH VÀ CÁC
TIỂU QUỐC MALAYA TỪ NỬA SAU THẾ KỈ XVIII ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XIX
1.1. Bối cảnh các nước phương Tây và nước Anh từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ
XIX
1.1.1. Bối cảnh các nước phương Tây từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX
Ở Tây Âu nhất là các nước dọc theo bờ Địa Trung Hải, vào thế kỉ XIV –
đời. Các công ty này không chỉ tăng cường cạnh tranh tại thị trường châu Âu, mà
còn ráo riết tìm kiếm và giành giật thị trường mới ở bên ngoài, trong đó phương
Đông là mục tiêu hàng đầu [4, tr. 20 - 21].
Bên cạnh đó, với sự bùng nổ và giành thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản
Hà Lan (1566), cách mạng tư sản Anh (1642), cách mạng tư sản Pháp (1789) đã
mở ra một thời kì mới trong tiến trình lịch sử của nhân loại gắn liền với sự bùng
nổ và giành thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu và Bắc Mĩ.
Sau những cuộc biến động chính trị đó, ở Anh trong 30 năm đầu của thế kỉ
XVIII đã diễn ra một cuộc cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên trên
thế giới. Với những thành quả to lớn mà cuộc cách mạng này đã làm thay đổi
một cách căn bản bộ mặt của nước Anh và sau đó là các nước Pháp, Hà Lan…
Từ đó đã tạo ra một nguồn lực vật chất mới giúp các quốc gia này vươn lên trở
thành những quốc gia hùng mạnh về hải quân. Điều này cho phép Hà Lan, Anh
và Pháp dần dần lấn át người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong cạnh tranh
thương mại và xâm chiếm thuộc địa trên thế giới.
Trong khung cảnh của xu thế toàn cầu hóa lần thứ nhất diễn ra dưới tác
động của cuộc phát kiến địa lý trong những năm cuối của thế kỉ XV đầu thế kỉ
XVI, đã tác động một cách sâu sắc đến tình hình của các nước Tây Âu nói chung
và làm thay đổi một cách căn bản, toàn diện quan hệ quốc tế trong thời gian này.
Sau các cuộc phát kiến, thế giới phương Đông đã được mở ra trước mắt các
thương nhân Tây Âu, sự xâm nhập của các nước Tây Âu vào các thị trường rộng
lớn này đã làm tăng thêm tính phức tạp trong quan hệ quốc tế với sự đan xen
giữa mối quan hệ cạnh tranh giành giật thị trường, thuộc địa giữa các nước
phương Tây và mối quan hệ giữa các nước Tây Âu và các quốc gia khác ngoài
9
châu Âu. Trong mối quan hệ tương hỗ và tác động đa chiều đó, phạm vi của
quan hệ quốc tế thời kì này cũng dần đươc mở rộng trên quy mô toàn cầu chứ
không còn manh mún như trước. Trên thực tế, những biến đổi quan trọng này
trong quan hệ quốc tế là xuất phát từ sự xuất hiện và phát triển của quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Trong guồng quay của sự phát triển đó, đã thúc đẩy các
kinh tế của nước Anh có nhiều biến chuyển và nhiều đột phá lớn.
Ở nước Anh, sau khi giai cấp tư sản và quý tộc mới lên nắm chính quyền đã
ban hành nhiều đạo luật xác nhận quyền sở hữu rộng đất của mình. Thực trạng
đó đã góp phần thúc đẩy nhanh hơn nữa hiện tượng địa chủ bao chiếm ruộng đất
đuổi nông dân ra khỏi đất canh tác. Đến thế kỷ thứ XVIII, quá trình này được
tiến hành trên một quy mô lớn. Do vậy đã tạo điều kiện cho sự phát triển của chế
độ điền trang trong nông nghiệp và góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp ở
Anh phát triển.
Đặc biệt, trong 30 năm đầu của thế kỷ XVIII, nước Anh đã tiến hành cuộc
cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử. Với những
thành quả mà cuộc cách mạng này đem lại đã làm thay đổi một cách căn bản bộ
mặt của nước Anh. Với việc áp dụng các cải tiến kĩ thuật và những thành quả của
cuộc cách mạng công nghiệp vào trong thực tế đã tạo nên những bước đột phá
lớn trong các ngành kinh tế. Khối lượng hàng hóa do máy móc chế tạo tăng lên
rõ rệt. Tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp nặng cũng tăng lên nhanh
chóng. Diện mạo nước Anh cũng từng bước được thay đổi. Như Ăngghen đã
từng miêu tả: Cách đây 60 hoặc 80 năm, Anh là một nơi như một nước khác với
những thành phố nhỏ bé, công nghiệp ít ỏi và rất thô sơ, dân số thưa thớt và chủ
yếu là dân nông nghiệp thì ngày nay là nơi có một không hai với thủ đô gần 2,5
triệu dân, nhiều thành phố công nghiệp khổng lồ, với nền công nghiệp cung cấp
hàng hóa cho toàn thế giới bằng những thứ máy móc phức tạp nhất.
Trước sự phát triển mạnh mẽ đó của nền công nghiệp Anh cùng với sự gia
tăng của khối lượng hàng hóa những yêu cầu về thị trường, nguyên liệu phục vụ
cho các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa ngày càng trở nên bức thiết.
Trong bối cảnh đó, đã thúc đẩy người Anh đẩy nhanh hơn nữa quá trình xâm
chiếm thuộc địa tại các khu vực khác ngoài châu Âu trong đó có khu vực Đông
Nam Á.
Về mặt xã hội, trước những biến động về mặt chính trị và kinh tế đã tác
động đến tình hình xã hội nước Anh lúc bấy giờ. Cụ thể là với những hệ quả mà
11
được vùng đất rộng lớn này vào cuối thế kỉ XVIII. Trong quá trình chạy đua vũ
12
trang với Pháp để tranh giành ảnh hưởng đối với Ấn Độ và nắm giữ độc quyền
con đường giao thương từ Ấn Độ sang Trung Quốc, các tiểu quốc Malaya đã lọt
vào tầm ngắm của nước Anh trong việc tìm kiếm một địa điểm làm trạm trung
chuyển, sửa chữa tàu thủy và nghỉ chân, cho thương nhân, hạm đội Anh trong
quá trình thực hiện những chuyển đi biển dài ngày từ Ấn Độ sang Trung Quốc.
Trên cơ sở đó, những nền tảng bước đầu trong quan hệ kinh tế, chính trị - quân
sự, văn hóa – giáo dục đã được thiết lập giữa Anh và một số tiểu quốc ở Malaya.
1.2. Bối cảnh khu vực Đông Nam Á và các tiểu quốc Malaya từ thế kỉ XVII đến
đầu thế kỉ XIX
1.2.1. Bối cảnh khu vực Đông Nam Á từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX
Đông Nam Á nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa, khí hậu
nóng ẩm. Nơi đây nổi tiếng có những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo
mộc, chim muông và là quê hương của những cây gia vị, hương liệu như hồ tiêu,
đinh hương, đậu khấu, quế, trầm hương…
Về mặt vị trí, Đông Nam Á được xem là cửa ngõ quốc tế. Do nằm án ngữ
trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, khu
vực Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản và
Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải. Bên cạnh đó, khu vực Đông Nam Á còn đóng
vai trò chủ động trên các lộ trình thương mại đường biển Đông – Tây và là
nguồn cung cấp các mặt hàng trao đổi. Với vị trí địa lý chiến lược hết sức qua
trọng đó, Đông Nam Á nhanh chóng trở thành đối tượng chinh phục của các
nước phương Tây .
Trong khi đó, đến khoảng đầu thế kỉ XVI, đa số các quốc gia Đông Nam Á
đã bước vào giai đoạn suy thoái. Quá trình này bắt nguồn trong lòng chế độ
phong kiến của mỗi nước với mức độ suy thoái diễn ra không đồng đều.
Về mặt kinh tế, nền nông nghiệp trồng lúa nhất là lúa nước vẫn là hình thức
đặc trưng ở Đông Nam Á. Trong đó, nền sản xuất tiểu nông, khép kín tự cung tự
cấp với hộ gia đình vẫn là chủ đạo. Một số ngành thủ công nghiệp phát triển
giáo trong khu vực. Thông qua các hoạt động buôn bán với Malacca các tiểu
quốc khác trên quần đảo Malaya đã dần trở thành những quốc gia Hồi giáo. Đến
đầu thế kỉ XVII, Hồi giáo được tiếp nhận rộng rãi ở miền Trung của đảo Java,
miền Nam đảo Sulawesi, Button, Lombok, Sumbawa, Mindanao và Nam Borneo
cùng với sự mở rộng ảnh hưởng của các nhà nước hồi giáo ở Aceh, Johor, Patani,
Bantam, Ternate, Demak. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của đế chế Majapahit (1527),
14
các tiểu quốc Hồi giáo lại trở thành kình địch của nhau, các cuộc xung đột diễn
ra liên miên. Do vậy đã tạo điều kiện cho các nước thực dân phương Tây xâm
nhập vào các nhà nước này.
Trên thực tế, từ sau thế kỉ thứ XVI một số quốc gia ở châu Âu đã có mặt và
thiết lập được khu vực ảnh hưởng của mình ở Đông Nam Á. Năm 1511, Bồ Đào
Nha xâm chiếm Malacca mở đầu cho quá trình chinh phục Đông Nam Á của
thực dân châu Âu. Tây Ban Nha xâm chiếm Philippin. Đến thế kỉ XVII, người
Hà Lan cũng đã nhanh chóng hất cẳng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha để chiếm lĩnh
nhiều hòn đảo quan trọng ở Inđônêxia, chiếm Malacca… nắm độc quyền thương
mại ở khu vực Đông Nam Á Hải đảo. Trong thế kỉ XVIII, người Anh cũng dần
khẳng định được vai trò của mình tại khu vực Đông Nam Á , thiết lập được cho
mình một số cơ sở thương mại ở khu vực này và giành được nhiều ưu thế trong
hoạt động thương mại so với các đối thủ khác.
Nhìn chung, Đông Nam Á từ sau thế kỉ XVI là một thực thể kinh tế - chính
trị - xã hội phức tạp với sự đan xen của nhiều loại hình kinh tế, thể chế chính trị
khác nhau. Trong cấu trúc kinh tế, chính trị của Đông Nam Á lúc bấy giờ tuy
một số yếu tố tích cực đã xuất hiện nhưng nó vẫn chưa đủ lớn, đủ mạnh để đưa
khu vực Đông Nam Á có thế thoát khỏi sự khủng hoảng lúc bấy giờ. Về cơ bản,
ở Đông Nam Á, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu vẫn là chính. Sự phát triển của
hoạt động thương nghiệp ở một số nước tuy đã đem lại những biến chuyển bước
đầu cho một số quốc gia hải đảo nhưng nó chỉ dừng lại ở việc nhằm thỏa mãn
một phần nhu cầu củng cố quyền lực của giới cầm quyền, chứ chưa có tác động
lớn đến phát triển quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong nông nghiệp, nông thôn. Do
- Thứ nhất, do thực lực chưa đủ mạnh nên cả Bồ Đào Nha và Hà Lan vẫn không
thể tiêu diệt các tiểu quốc còn lại để thống trị toàn bộ bán đảo Malaya. Do vậy,
các tiểu quốc Malaya tuy bị người Bồ Đào Nha và Hà Lan khống chế nhưng vẫn
tồn tại được và tiếp tục phát triển được trong phạm vi cho phép mặc dù không
thể có được vị trí cường quốc như Malcaca trước đó.
- Thứ hai, giữa hai thế lực chính trị này tuy có mâu thuẫn với nhau nhưng lại
không xem nhau là đối thủ đáng gờm mà lại đặt mối quan tâm của mình nhiều
hơn đến tham vọng của các thế lực ngoại bang khác với bán đảo Malaya. Tiểu
quốc Johore và người Bồ Đào Nha trong thế kỉ XVI đều xem Acheh là đối thủ
đáng gờm và nhiều cuộc xung đột đã diễn ra giữa Acheh với Johore, Acheh với
người Bồ Đào Nha tại Malacca.
16
Đến thế kỉ XVIII các tiểu quốc Malaya đứng trước nhiều thách thức lớn khi
một số nhà nước của người ngoại bang đã được thiết lập. Nhóm người Bugis gốc
ở Sulawesi (người Celebes) đã đến và định cư ở nhiều nhà nước trên Bán đảo,
Quần đảo và trở thành lực lượng thống trị ở một số nơi mà họ đến định cư. Bán
đảo Selagor trở thành nhà nước của người Bugis. Trong khi đó người
Minnangkabau đến từ cao nguyên Tây Sumatra cũng đang xâm chiếm làm thuộc
địa vùng biển phía Đông Sumatra và băng qua eo biển Malacca đến bán đảo để
thành lập nên nhà nước Negeri Sembilan. Bên cạnh đó, trên bán đảo, người Thái
cũng trở thành đối tượng xâm lược lớn góp phần làm gia tăng thêm sự bất ổn của
thế giới Malaya trong thời kì này.
Đặc biệt trong thế kỉ này, người Anh cũng đã có mặt tại Malaya. Với những
tiềm lực trội hơn hẳn so với các nước phương Tây khác cùng với sự thúc ép của
việc tìm kiếm một hải cảng ở Đông Nam Á vừa kết hợp được lợi thế của một
trạm trung chuyển thương mại và của một căn cứ quân sự chính ở Đông Nam Á,
đã thúc đẩy người Anh đẩy mạnh việc xâm chiếm các tiểu quốc Malaya. Trong
suốt quá trình đó, người Anh khéo léo tận dụng những bất ổn chính trị của các
nước Malaya để làm suy giảm tầm ảnh hưởng của người Hà Lan ở bán đảo
Malaya và nhanh chóng thiết lập mối quan hệ, tầm ảnh hưởng của mình tại nhiều
càng nghèo khổ. Bên cạnh đó, những gánh nặng phí tổn của các cuộc chiến tranh
liên miên đều đổ lên đầu của người nông dân và thợ thủ công. Do vậy đã làm
cho các mâu thuẫn trong xã hội lên cao, gây tác hại lớn cho việc phòng thủ đất
nước. Bên cạnh đó, sự tồn tại của nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau trên các
tiểu quốc Malaya cũng làm cho tình hình xã hội ở đây thêm phức tạp.
Trong suốt thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, trong lộ trình tìm kiếm thị trường
thuộc địa của các nước phương Tây ở thế giới trù phú phương Đông, bán đảo
Malaya với vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã nhanh chóng lọt vào tầm
ngắm của các nước phương Tây. Trước nguy cơ tiềm ẩn to lớn đó, các tiểu quốc
Malaya vẫn chưa nhận thức một cách đầy đủ mối đe dọa to lớn từ các nước
phương Tây mà vẫn còn xem nặng những nguy cơ tiềm ẩn từ các thế lực phong
kiến ở Xiêm, Indonesian và các thế lực ngoại bang khác, chính đặc điểm này
cùng với sự suy yếu của các tiểu quốc Malaya đã tạo điều kiện cho các nước
phương Tây xâm nhập và nhanh chóng thết lập được phạm vi ảnh hưởng của
mình trên bản đồ chính trị của thế giới Malaya. Trong quá trình đó, Anh tuy là
18
nước thiết lập được ảnh hưởng của mình ở Malaya muộn hơn so với Bồ Đào Nha
và Hà Lan nhưng với tiềm lực sẵn có cùng những tính toán và bước đi khéo léo
của mình, người Anh đã tạo ra được những mối quan hệ có ảnh hưởng lâu dài và
bề vững hơn hẳn hai đối thủ đó ở thế giới Malaya.
Như vậy, xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn của Anh và các tiểu quốc
Malaya trong mối tương quan giữa việc đáp ứng những nhu cầu phát triển của
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Anh và việc giải quyết các mâu thuẫn nảy
sinh ở các tiểu quốc Malaya, đã tạo ra những tiền đề quan trọng trong việc đặt
nền tảng cơ bản, bước đầu cho mối quan hệ giữa Anh và tiểu quốc Malaya trong
nửa cuối thế kỉ XVIII cho đến đầu thế kỉ XIX. Và khi đặt mối quan hệ này trong
bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á và châu Âu lúc bấy giờ,ta dễ dàng
nhận thấy tính tất yếu (xuất phát từ những nhu cầu cấp thiết của nước Anh và
bản thân các tiểu quốc Malaya cũng đã tạo điều kiện cho quá trình xâm lược
này) và phù hợp với xu thế của mối quan hệ này. Bởi trên thực tế nó đã phản ánh
toàn các đối thủ cạnh tranh thương mại khác tại khu vực Đông Nam Á cũng như
ở bán đảo Malaya – nơi mà người Hà Lan và một số nước khác đã thiết lập được
cho mình một phạm vi ảnh hưởng nhất định.
20
Thứ hai, về phía các tiểu quốc Malaya, với tầm ảnh hưởng của người Hà
Lan đối với các tiểu quốc Malaya trong suốt thế kỉ XVII đã hạn chế phần nào
quyền lực của các tiểu quốc này. Lo ngại về sự can thiệp của Hà Lan, các tiểu
quốc Malaya cũng khó lòng tiếp nhận những hoạt động thương mại của Anh tại
vùng lãnh thổ của mình.
Trên thực tế, trong buổi đầu gặp gỡ giữa EIC và một số tiểu quốc ở Malaya
từ giữa thế kỉ XVII, một số thỏa thuận về mặt thương mại đã bước đầu được
manh nha trong quan hệ kinh tế giữa EIC và các tiểu quốc Malya.
Nhận thấy được vị trí chiến lược quan trọng của eo biển Malacca trong lộ
trình thương mại quốc tế, người Anh có ý định giành quyền thương mại trên eo
biển này. Để hiện thực hóa được tham vọng đó, năm 1647, EIC đã yêu cầu
Vương quốc Johore cho phép họ được tự do buôn bán ở đây. Tuy nhiên, do
không nhận được một sự cam kết nào về mặt quân sự từ phía EIC và lo ngại về
sự can thiệp người Hà Lan nên Hồi vương đã từ chối. Và trong khuôn khổ quyền
hạn cho phép của mình, Hồi vương Johore đã đồng ý cho người Anh đậu tàu
thuyền tại các cảng của mình và trao đổi hàng hóa với mức thuế là 5%.
Sau Johore, tại Kedah những mầm mống trong quan hệ thương mại của EIC
bắt đầu được thiết lập. Vào năm 1660, EIC đã cùng hợp tác với các thương gia
Ấn Độ lập lại đại diện thương mại tại Kedah, đồng thời năm 1669 xây lại văn
phòng mới [3, tr. 63].
Tuy vậy, những tiền đề ban đầu trong quan hệ thương mại đó giữa EIC và
các tiểu quốc Johore, Kedah về sau đã không được duy trì. Chính sự cạnh tranh
quyết liệt của người Hà Lan và các hãng buôn tư nhân khác của nước Anh tại các
tiểu quốc Malaya, cùng với những hoạt động thương mại chưa đem lại kết quả
như mong muốn của EIC đã khiến người Anh không còn thiết tha cho việc đầu
tư vào các đầu mối thương mại tại bán đảo Malaya nữa để tập trung mở rộng
mại tại bán đảo Malaya.
2.2. Quan hệ của Anh với các tiểu quốc Malaya từ nửa cuối thế kỉ
XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
Vào những năm 60, 70 của thế kỉ XVIII, những cơ sở thương mại mà người
Anh thiết lập được ở khu vực Đông Nam Á trong nửa đầu thế kỉ XVIII đã bị phá
hủy hoặc phải trao trả lại cho người Tây Ban Nha. Thực trạng đó, đã khiến người
Anh trở nên sốt sắng tìm kiếm các thương điếm thương mại then chốt của họ ở
Đông Nam Á. Đặc biệt, vào giữa thế kỉ XVIII, trước những yếu tố mới phát sinh
22
từ cuộc cách mạng thương mại diễn ra ở Ấn Độ Dương, người Anh đã chuyển sự
chú ý của mình đến bán đảo Malaya – nơi có vị trí chiến lược hết sức quan trọng
trong con đường thương mại từ Trung Quốc đến Ấn Độ, để tìm kiếm ở nơi đây
“một hải cảng mà có thể kết hợp lợi thế của một trạm sữa chữa tàu thủy và của
một trung tâm thương mại cho quần đảo Malaya, và đồng thời nằm trên đường
biển chủ yếu tới Trung Quốc” [1, tr. 734].
Trong bối cảnh mới đó, quan hệ của Anh và các tiểu quốc Malaya đã được
thiết lập và xúc tiến một cách mạnh mẽ hơn so với thời kì trước, với những sự
biến đổi lớn cả về nội dung lẫn hình thức.
2.2.1. Quan hệ của Anh và các tiểu quốc Malaya trên lĩnh vực kinh tế từ
nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX
Kinh tế là một trong những lĩnh vực then chốt được người Anh đặc biệt chú
ý trong quan hệ với các tiểu quốc Malaya. Bởi trên thực tế, thương mại chính là
động lực, là con đường mà người Anh đã xâm nhập và thiết lập mối quan hệ với
các tiểu quốc ở đây nhằm tìm kiếm và xây dựng ở bán đảo Malaya những cơ sở
thương mại chiến lược để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh trong lộ trình
thương mại từ Ấn Độ đến Trung Quốc.
Sau những nổ lực tìm kiếm của mình, trong những năm từ nửa cuối thế kỉ
XVIII cho đến đầu thế kỉ XIX, người Anh đã tìm thấy được những địa điểm lí
tưởng ở bán đảo Malaya để xây dựng ở đây các trạm trung chuyển thương mại
trên tuyến đường biển từ Ấn Độ tới Trung Quốc. Trong đó đáng lưu ý hơn cả là
được quyền sở hữu. Đến đầu tháng Tám, trên đảo đã hình thành một số khu nhà
lợp bằng cỏ tranh và xuất hiện chợ phiên. Ngày 10 tháng 8, hai chiếc thuyền của
Anh từ Trung Quốc đã mang chè đến đảo Penang để bán” [4, tr. 109] .
Với đoạn trích trên đã cung cấp cho chúng ta một số dữ liệu về thực trạng
của Penang trước khi người Anh đặt chân đến và những việc làm bước đầu của
người Anh để kích thích nền kinh tế tại Pennag phát triển.
Một trong những chính sách quan trọng của người Anh góp phần thu hút
các hoạt động thương mại của các nước đến Penang đó là chính sách tự do
1 Coromandal là tên được đặt cho bờ biển phía Đông của Ấn Độ dọc theo Vịnh
Bengal, một trong nhưng tuyến đường biển quan trọng trong hoạt động thương
mại giữa Ấn Độ và Đông Nam Á, Trung Quốc.
24
thương mại. Trong một bức thư được ngài John Macpherson - thống đốc Ấn Độ
lúc bấy giờ, viết cho ông Light chỉ sau sáu tháng hòn đảo Penang bị chiếm đóng
có đoạn viết: “Nếu điều kiện thuận lợi, các thương nhân sẽ tìm thấy lợi ích trong
việc dùng đến hàng hóa của họ, và như một điều khích lệ dành cho họ, chúng tôi
mong muốn Ngài sẽ cố gắng không thu bất cứ loại thuế nào đối với bất kì loại
hàng hóa nào được đưa vào hay tàu thuyền đang nhập khẩu ở hòn đảo Hoàng tử
Wales (tên mà người Anh đặt cho hòn đảo Penang), và đó là mong muốn của
chúng tôi để mở cửa cảng tự do cho tất cả các nước” [21, tr. 54].
Trên thực tế với chế độ tự do buôn bán được duy trì ở Penang từ khi bị
chiếm đóng cho đến năm 1802 đã thu hút được thương nhân từ tất cả các nước
đổ về Pennang như người từ bán đảo Malacca, đảo Sumatra, từ Trung Quốc và
Ấn Độ. Penang nhanh chóng trở thành trung tâm phân phát quý giá, nơi mà sản
phẩm của Ấn Độ và Anh được đổi lấy hàng hóa của Malaya như gạo, thiếc, gia
vị, mây, bụi gai, ngà voi, gỗ mun, hạt tiêu [1, tr. 750]. Qua đó, đã giúp người Anh
giải quyết được những khó khăn trong việc tìm vốn xuất khẩu sang Trung Quốc
mà không phải xuất khẩu bạc từ châu Âu sang, qua lộ trình trao đuổi đem hàng
của Ấn Độ tới Malaya, để đổi lấy đôla hoặc hàng hóa khác được cần đến ở
Quảng Châu và Macao. Tuy nhiên, đến năm 1801, thuế xuất, nhập khẩu 5% đã