VẬT LIỆU LIỆU KIẾN TRÚC
VẬT LIỆU LIỆU KIẾN TRÚC
GV :TRẦN LÊ AN
GV :TRẦN LÊ ANSV : BÙI MẠNH DŨNG K17 NT
SV : BÙI MẠNH DŨNG K17 NT
MỤC LỤC
MỤC LỤC
I . Lời mở đầu
I . Lời mở đầu
II Hình thành và phát triển của kính
II Hình thành và phát triển của kính
2.1 lịch sử hình thành của kính
2.1 lịch sử hình thành của kính
2.2 thành phần cấu tạo của kính
2.2 thành phần cấu tạo của kính
2.3 các loại kính
2.3 các loại kính
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦUVới sự phát triển như vũ bão của công nghệ khoa học hiện
Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ khoa học hiện
đại ngày nay vật liệu kính đã là sự lựa chọn tối ưu cho
đại ngày nay vật liệu kính đã là sự lựa chọn tối ưu cho
các giải pháp kiến trúc thẩm mĩ của con người .những
các giải pháp kiến trúc thẩm mĩ của con người .những
tòa nhà trọc trời và rất nhiều hình hài đang vươn mình
tòa nhà trọc trời và rất nhiều hình hài đang vươn mình
lên trời cùng với kết cấu cốt thép bê tông và kính . Để
lên trời cùng với kết cấu cốt thép bê tông và kính . Để
giải quyết được các kết cấu lạ mắt .hiện đại phù hợp
giải quyết được các kết cấu lạ mắt .hiện đại phù hợp
tính năng nhu cầu của xã hội loài người thì chỉ có kính
tính năng nhu cầu của xã hội loài người thì chỉ có kính
mới làm được điều đó mà thôi .
mới làm được điều đó mà thôi .
II .Hình thành và phát triển của kính
II .Hình thành và phát triển của kính
2.1 .Lịch sử hình thành của kính
2.1 .Lịch sử hình thành của kính
tinh để tăng độ bền, làm cho thuỷ tinh trong hơn hay tạo ra màu sắc
đặc biệt. Tuy nhiên việc chế tạo thuỷ tinh vẫn còn rất khó và thuỷ tinh
đặc biệt. Tuy nhiên việc chế tạo thuỷ tinh vẫn còn rất khó và thuỷ tinh
chủ yếu được dùng trong hoàng gia cho những nghi thức tôn giáo.
chủ yếu được dùng trong hoàng gia cho những nghi thức tôn giáo.
Công nghiệp thuỷ tinh chứng kiến cuộc cách mạng đầu tiên
khoảng 300 năm trước công nguyên, khi những nguời thợ
thuỷ tinh Siri phát minh ra chiếc ống thổi, giúp cho việc tạo
ra vô số sản phẩm khác nhau về hình dáng và độ dày. Tiếp
ngay sau phát minh ra ống thổi là sự xuất hiện của khuôn
hai nửa, giúp cho thợ thuỷ tinh có thể tạo ra hàng loạt
những đồ vật thuỷ tinh giống hệt nhau. Hai phát minh này
lần đầu đã làm cho những sản phẩm thuỷ tinh trở nên vừa
với túi tiền của những người dân bình thường.
Trong thế kỷ đầu tiên sau công nguyên những người Rôma
đã làm một cuộc cách mạng trong chế tạo thuỷ tinh bằng
việc sử dụng một loạt phương pháp như thổi thuỷ tinh, thổi
vào khuôn và ép bằng khuôn để sản xuất hàng loạt các sản
phẩm thuỷ tinh có hình dạng khác nhau dùng trong trang
trí. Kính cửa sổ, sản xuất bằng cách đổ và kéo giãn thuỷ
tinh nóng chảy trên một chiếc bàn thép, đã thay đổi diện
mạo của nền kiến trúc. Đế chế La mã cũng sản xuất kính
tấm bằng cách thổi những quả bóng hay mặt trụ thuỷ tinh
lớn, sau đó tách ra và làm phẳng. Họ cũng bắt đầu chế tạo
gương soi bằng cách phủ hỗn hỗng bạc lên kính tấm. Sáng
tạo này của người Rôma không lâu sau đã được lan truyền
khắp châu Âu
Với sự sụp đổ của đế chế La mã rất nhiều kỹ xảo của nghề thuỷ tinh đã
ứng được nhu cầu ngày càng tăng liên quan đến
hiệu quả năng lượng và những đặc tính mới
2.2 Thành phần cấu tạo của kính
2.2 Thành phần cấu tạo của kính
Thủy tinh, đôi khi trong dân gian còn được gọi là kính hay kiếng, là một
chất rắn vô định hình đồng nhất, có gốc silicát, thường được pha trộn thêm các
tạp chất để có tính chất theo ý muốn.
Trong vật lý học, các chất rắn vô định hình thông thường được sản xuất khi
một chất lỏng đủ độ nhớt bị làm lạnh rất nhanh, vì thế không có đủ thời gian
để các mắt lưới tinh thể thông thường có thể tạo thành. Thủy tinh cũng được
sản xuất như vậy từ gốc silicát.
Silicát là điôxít silic (SiO2) có trong dạng đa tinh thể như cát và cũng là thành
phần hóa học của thạch anh. Silicát có điểm nóng chảy khoảng 2.000 °C
(3.632 °F), vì thế có hai hợp chất thông thường hay được bổ sung vào cát
trong công nghệ nấu thủy tinh nhằm giảm nhiệt độ nóng chảy của nó xuống
khoảng 1.000 °C. Một trong số đó là sô đa (cacbonat natri Na2CO3), hay
bồ tạt (tức cacbonat kali K2CO3). Tuy nhiên, sô đa làm cho thủy tinh bị hòa
tan trong nước
Trong dạng thuần khiết và ở điều kiện bình thường, thủy tinh là một chất
trong suốt, tương đối cứng, khó mài mòn, rất trơ hóa học và không hoạt động xét
về phương diện sinh học, có thể tạo thành với bề mặt rất nhẵn và trơn. Tuy
nhiên, thủy tinh rất dễ gãy hay vỡ thành các mảnh nhọn và sắc dưới tác dụng của
lực hay nhiệt một cách đột ngột. Tính chất này có thể giảm nhẹ hay thay đổi bằng
cách thêm một số chất bổ sung vào thành phần khi nấu thủy tinh hay xử lý nhiệt.
Thủy tinh được sử dụng rộng rãi trong xây đựng, làm đồ chứa (chai, lọ, cốc, chén,
ly, tách v.v) hay vật liệu trang trí.
Một trong những đặc trưng rõ nét nhất của thủy tinh thông thường là nó trong
suốt đối với ánh sáng nhìn thấy, mặc dù không phải mọi vật liệu thủy tinh đều có
nhiều mảnh nhỏ. Vì vậy kính chịu lực không cắt
được bằng dao cắt kính. Kính bắt buộc phải sản
xuất theo đơn đặt hàng. Những loại kính chịu
lực thì lại rất thích hợp làm bức bình phong
ngăn cách vừa an toàn, ít bị vỡ, lại giảm được
tối đa tiếng ồn
Kính bảo ôn có khả năng cách âm, cách nhiệt.
Kết cấu của loại kính này khá dặc biệt, làm
bằng 2 lớp kính, có độ dày khác nhau, gắn
song song cách nhau một khoảng 1cm, giữa
có lớp chân không hoặc khí trơ và được giữ
bằng khung nhôm, nhựa và gắn bằng lớp keo
silicone chắc chắn
Kính dán nhiều lớp thực chất là những tấm kính dân dụng được gắn kết bằng một
hoặc nhiều lớp, giữa các lớp kính và lớp keo dán có tính bám dính cao trong một
liên kết bền vững và bền màu với thời gian. Các lớp kính có thể là kính trong, kính
màu hoặc kính phản quang. Ưu điểm nổi bật của loại kính này là khi bị vỡ các
mảnh kính không văng ra mà dính chặt với nhau bởi lớp keo dính nên không gây
nguy hiểm cho người xung quanh, vì vậy đa số các loại kính dán là kính an toàn
Hiện nay kính là một trong những vật liệu
xây dựng được ưa chuộng không chỉ nhờ
kết cấu gọn nhẹ, dễ lắp đặt, tiện dụng phù
hợp với không gian kiến trúc mà còn đem
lại giá trị thẩm mỹ trong trang trí nội thất,
có thể sử dụng được ánh sáng tự nhiên.
Trước kia, khi kính chưa ra đời, chiều cao
của các tòa nhà chỉ hạn chế ở tầm vài chục
mét. Không chỉ bị hạn chế về chiều cao,
mà về kết cấu, thẩm mĩ cũng bị bó hẹp
lượng đáp ứng nhu cầu sử dụng trong
nông nghiệp và kính chất lượng cao
dùng trong các công trình hiện đại tầm
cỡ
Ưu nhược điểm của kính
Ưu nhược điểm của kính
Như trên đã đề cập, ưu điểm lớn nhất của kính là khả năng cho ánh
sáng đi qua và ngăn được gió, bụi. Bên cạnh đó kính có bề mặt
phẳng, nhẵn thuận tiện cho việc lau chùi vệ sinh. Vật liệu kính góp
phần làm phong phú chất liệu bề mặt kiến trúc, với hiệu quả rõ rệt,
làm thay đổi bộ mặt kiến trúc, thẩm mỹ và sinh động hơn.
So với các dạng kết cấu bao che khác, kính có chiều dày và tải
trọng nhỏ hơn, việc thi công lắp dựng nhanh và kinh tế hơn; với
nhiều giải pháp liên kết - cấu tạo. Vật liệu kính hỗ trợ đắc lực cho
người thiết kế trong sáng tạo không gian, hình khối kiến trúc.
Vật liệu nhom kinh làm nới rộng không gian, không bị cảm giác
ngăn chia, phô bày được nhiều thành phần kiến trúc khác. Kính làm
tăng hiệu quả thẩm mỹ không gian kiến trúc, tạo nên nhiều hiệu
quả thị giác, hiệu quả chiếu sáng (cả chiếu sáng tự nhiên và nhân
tạo).
Nhược điểm
Ngay từ khi ra đời, kính đã bộc lộ những nhược điểm, những bất
cập nhất định. Đó là khả năng chịu lực kém, dễ vỡ; và khi vỡ không
an toàn (gây sát thương). Kính (thời gian đầu) khó tạo ra những
mặt hình học khác ngoài mặt phẳng, khó tạo những chu vi phức
tạp. Kính cũng dễ bị phá huỷ khi xảy ra chấn động cơ học, cháy
nổ hơn so với các loại vật liệu khác. Kính còn tạo ra hiệu ứng
nhiệt (hiệu ứng lồng kính) - là một vấn đề ảnh hưởng lớn đến bản
a .Chuẩn bị
a .Chuẩn bị
b.Thực hiện
b.Thực hiện
Mọi hoạt động trong phần này được giám sát và đánh giá bởi nhân viên Giám
sát kỹ thuật Lắp đặt.
- Nhóm trưởng chỉ huy phân bổ sản phẩm từ chân công trình vào khu vực cần
lắp đặt sao cho:
+ Đúng chủng loại, đủ số lượng.
+ Phù hợp với phương án thi công.
4.1 Định vị khung bao ngoài
- Phân tích và lấy chuẩn lắp đặt
- Định vị khung bao ngoài vào vị trí chuẩn và đúng thiết kế;
+ Kê, đệm: căn chỉnh cao độ các góc, các khe hở giữa khung và tường
+ Rọi, Li - vô: tinh chỉnh độ vuông góc, song song, độ cong - võng, độ méo
- Lấy dấu và khoan gá lắp tạm thời khung bao ngoài vào tường.
+ Sử dụng Vít - Nở M8 x 90 với khu vực kín gió và tầng thấp (từ tầng 3 trở
xuống)
- Panô
- Tay nắm cho các cánh cửa
- Bản lề, tay chống cửa
Hiệu chỉnh và hoàn thiện
- Hiệu chỉnh cơ cấu vận hành như:
bản lề, thanh truyền động, ổ khoa,
mấu cài chốt, bánh xe trượt sao
cho cánh cửa được hoạt động trơn tru
và kín khít gioăng.
- Kiểm tra và bắt xiết lại các vị trí đã
hiệu chỉnh xong
- Các lỗ khoan - khoét trên Profile
được đậy bằng nắp nhựa chuyên dụng
- Tra dầu, mỡ bổ sung vào vị trí làm
việc PKKK (nếu cần).
III .Ứng dụng của kính
III .Ứng dụng của kính3.1 ứng dụng trong kiến trúc
3.1 ứng dụng trong kiến trúc
nhằm tạo cảm giác thư thái và cố gắng
giảm bớt tính “lạnh” của chất liệu kính.
Ảnh chụp bên trong tổ hợp Sony Center
ở Berlin Kính được dùng trong đồ họa
Kính được dùng trong đồ họa