đánh giá ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến khả năng quang hợp của thực vật phù du ven bờ tỉnh khánh hoà bằng phương pháp đo huỳnh quang - Pdf 24

MỞ ĐẦU
Quang hợp là quá trình sinh lý mang lại cho thực vật vai trò quan trọng trong
sinh giới. Các sinh vật không có khả năng quang hợp phải dựa vào các sản phẩm
quang hợp để tồn tại. Quá trình này đã tạo thành những vật chất hữu cơ từ bậc dinh
dưỡng thấp nhất trong môi trường biển, thực vật phù du (TVPD) là nhóm chiếm tỉ
lệ lớn của thực vật trong đại dương. Chính vì vậy thực vật phù du có tầm quan trọng
trong lưới thức ăn ở đại dương [31]. Việc xác định sinh khối, khả năng quang hợp
và tình trạng sinh lý, sinh thái của TVPD cần thiết cho tính toán năng suất sơ cấp
của thuỷ vực cũng như đánh giá tác động môi trường lên sinh vật sản suất. Trong
đó, quá trình quang hợp của TVPD phụ thuộc nhiều vào thành phần loài cũng như
điều kiện môi trường của như dinh dưỡng, ánh sáng và nhiệt độ [27], [28].
Đã có nhiều nghiên cứu về thực vật phù du để đánh giá năng suất sơ cấp
cũng như năng suất của vực nước. Trong những năm gần đây, đánh giá khả năng
quang hợp từ phép đo biến thiên huỳnh quang (Fv = Fm - Fo) hay hiệu suất quang
hợp (Fv/Fm) bằng kỹ thuật đo hoạt tính huỳnh quang sắc tố thực vật sử dụng máy
đo PPF (pump and probe fluorescence), PAM (pulse amplitude modulation), FRRF
(fast repetition rate fluormetry) hay các hệ máy đo huỳnh quang Turner Design AU
được sử dụng rộng rãi. Phương pháp đo này cho kết quả nhanh, chính xác, đặc biệt
thuận tiện đối với việc đo ngoài hiện trường. Trong đó, phương pháp dùng máy đo
FRRF (hay PAM) trở thành phương pháp chủ yếu, đó là công nghệ cung cấp phép
đo sinh lý thực vật quang dưỡng xảy ra trong phức hệ quang hợp PSII. Kỹ thuật
FRRF (hay PAM) là công cụ quí giá khi muốn tiến gần tới đánh giá trạng thái sinh
lý cũng như tác động bất lợi (stress) của một số yếu tố môi trường như nhiệt độ, ánh
sáng và dinh dưỡng lên quá trình quang hợp của thực vật phù du.
Bên cạnh đó, hiện nay phương pháp sử dụng máy đo huỳnh quang để xác
định khả năng quang hợp và ảnh hưởng điều kiện môi trường đến quá trình này
chưa được áp dụng nhiều trong nghiên cứu TVPD ở Việt Nam.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, đề tài “Đánh giá ảnh
hưởng của điều kiện môi trường đến khả năng quang hợp của thực vật phù du
ven bờ tỉnh Khánh Hoà bằng phương pháp đo huỳnh quang” được lựa chọn với
các mục tiêu cụ thể như sau:

cải tiến thiết bị phân tích kỹ thuật cao, phương pháp đơn giản và ứng dụng hiệu quả
cho công việc nghiên cứu, đặc biệt hữu ích cho nghiên cứu, giám sát ngoài thực địa,
cho thông tin nhanh và cái nhìn khái quát nhất về thực trạng, trạng thái sinh lý
TVPD.
Phương pháp đo hoạt tính huỳnh quang đã được phát triển từ 30 năm trước,
ứng dụng trong giám sát và đánh giá cơ chế quang hợp của thực vật phù du và thực
vật bậc cao. Biến thiên huỳnh quang sắc tố cung cấp hiểu biết sâu hơn về sinh lý
quang hợp của thực vật và tảo, đặc biệt là về cấu trúc và chức năng của phức hệ
quang hoá PSII [32]. Huỳnh quang in vivo (in vivo fluorescence) được sử dụng để
đo mà không làm ảnh hưởng (không phá huỷ) đến quá trình quang hợp và sinh khối
TVPD dưới một điều kiện nhất định [17], [25]. Kỹ thuật đo huỳnh quang in vivo đã
được áp dụng trong nghiên cứu quang hợp của TVPD từ những năm 70. Năm 1972,
Mauzerall sử dụng phương pháp đo huỳnh quang để nghiên cứu sự biến thiên huỳnh
quang gây ra bởi ánh sáng [34]. Năm 1974, Tunzi và cộng sự đã sử dụng máy đo
huỳnh quang Turner Model III đo huỳnh quang in vivo (in vivo fluorescence) áp
dụng đo hàm lượng chlorophyll ngoài thực địa cũng như phòng thí nghiệm cho thấy
tỷ số giữa hàm lượng chlorophyll-a và huỳnh quang in vivo biến đổi trong suốt thời
gian thí nghiệm điều kiện phòng thí nghiệm. Vì vậy cần thiết đo tỷ số này khi bắt
đầu và kết thúc thí nghiệm. Đối với các mẫu ngoài thực địa (in situ) thì tỷ số hàm
lượng chlorophyll-a và huỳnh quang in vivo biến thiên lớn do ảnh hưởng của một số
vật chất hữu cơ có khả năng phát huỳnh quang hoà tan trong nước. Ngược lại, tỷ số
hàm lượng chlorophyll-a có mối tương quan tuyến tính với giá trị huỳnh quang của
dung dịch chiết (extracted fluorescence), tỷ số này được thiết lập đối với mỗi máy
đo huỳnh quang khác nhau và hệ số chuyển đổi gần như là hằng số, sai số không
đáng kể khi nguồn mẫu khác nhau [47]. Năm 1977 và 1978, Samuelsson và cộng sự
đã sử dụng phương pháp huỳnh quang sắc tố in vivo để xác định khả năng quang
hợp (phytosynthetic capacities) của tảo đơn bào. Kết quả cho thấy sự biến thiên tốc
độ quang hợp đặc trưng (specific photosynthetic rate) phụ thuộc vào khả năng vận
chuyển điện tử giữa phức hệ quang hợp PSII và PSI. DCMU được sử dụng là chất
ức chế quang hợp cho thấy mối tương quan mật thiết giữa sự tăng huỳnh quang sắc

những trạm ngoài khơi thì Fv/Fm phản ảnh tốt điều kiện môi trường thích hợp, giảm
ở lớp nước gần mặt, tăng lên ở tầng ánh sáng thấp nhưng giàu dinh dưỡng [18].
Những năm 80, phương pháp huỳnh quang được ứng dụng trong nhiều
nghiên cứu về sinh thái, sinh lý học. Tác giả Fukazawa và cộng sự năm 1980 đã
đánh giá tốc độ phát triển của tảo sử dụng phương pháp đo huỳnh quang trong
nghiên cứu cơ chế tạo thành triều đỏ [22]. Tiếp theo năm 1981, Vincent đã đo khả
năng quang hoá trong tế bào (cellular photochemical capacity: CPC hay chính là chỉ
số Fv/Fm) của TVPD trong hồ nước ngọt nghèo dinh dưỡng ở Anh bằng phương
pháp đo huỳnh quang sắc tố in vivo trước và sau khi thêm chất ức chế quang hợp
DCMU. Giá trị Fv/Fm cao nhất ghi nhận được trong suốt khoảng thời gian tháng 8,
giá trị Fv/Fm cũng như thành phần loài đều biến động mạnh theo độ sâu và sự phân
tầng ánh sáng [48].
Phương pháp huỳnh quang in vivo càng hữu hiệu hơn khi áp dụng để đo
ngoài hiện trường cũng như giám sát sự đáp ứng tức thời của TVPD đối với những
thay đổi trong môi trường (hay stress môi trường) thông qua tỷ số Fv/Fm. Rosen
(1984) đo đặc tính quang hợp và siêu cấu trúc lục lạp của tảo Silic Cyclotella
meneghiniana khi loài này điều chỉnh đáp ứng với những stress ánh sáng và dinh
dưỡng trong môi trường [36]. Goldsborough và Robinson (1984) sử dụng máy
Turner III đo huỳnh quang sắc tố in vivo trong nghiên cứu đáp ứng của TVPD với
các hàm lượng khác nhau của chất trừ cỏ terbutryne – một chất gây ức chế quang
hợp lên phức hệ quang hoá PSII [23]. Một số nghiên cứu khác ngoài hiện trường về
đáp ứng của TVPD khi ánh sáng thay đổi trong cột nước như Demers và cộng sự
(1985) hay Keller (1987) tiến hành thí nghiệm với phạm vi mesocosm (các bể nuôi
thể tích lớn từ vài m
3
đến vài trăm m
3
nhằm tạo ra môi trường gần giống với môi
trường tự nhiên nhưng có khả năng điều chỉnh được dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ)
đã sử phương pháp đo huỳnh quang in vivo để giám sát hiệu suất quang hợp biến

đại) [17]. PAM sử dụng xung ánh sáng đơn kéo dài giữa 300-1200ms [43], [44],
trong khi đó FRRF sử dụng một loạt ánh sáng lựa chọn trong khoảng 50-1000ms
như tác giả Kromkamp và cộng sự (2003), để đạt được ánh sáng bão hoà. Kết quả
đo Fm thu được thông qua chiếu tia sáng lặp lại cao hơn 50% so với chiếu xung ánh
sáng đơn [29], [30]. Một số nhà khoa học thích sử dụng máy đo PAM như Parkhill
(2001), Schreiber (1986) và số khác thì thích sử dụng máy đo FRRF như Sylvan
(2007), Kolber (1998). Tuy nhiên, không có sự nhất trí chung về phương pháp nào
là tốt nhất. Một vài nghiên cứu đã trực tiếp so sánh 2 phương pháp đo này như tác
giả Kromkamp và Forster (2003) đã kết luận cả 2 phương pháp có tương quan tốt
với nhau [30]. Suggett và cộng sự (2003) đã khảo sát thực vật phù du và kết luận
rằng phương pháp đo bằng máy FRRF thích hợp hơn đối với những nghiên cứu
ngoài đại dương còn máy đo PAM thích hợp cho nước ngọt nội địa vì không đủ
nhậy khi sử dụng trong điều kiện ngoài biển khơi [43].
Trong Hải dương học, mật độ và hoạt động quang hợp của TVPD là những
đặc điểm của hệ sinh thái thuỷ vực và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố môi trường
và các chất ô nhiễm có nguồn gốc từ con người gây nên. Vì vậy, giám sát khả năng
quang hợp của TVPD có thể được dùng như một chỉ thị để đánh giá trạng thái vực
nước. Phương pháp huỳnh quang đo các thông số huỳnh quang tối thiểu Fo, huỳnh
quang cực đại Fm, huỳnh quang biến thiên Fv = Fm – Fo và Fv/Fm đã được ứng
dụng trong nghiên cứu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường khác nhau đến sự phát
triển, hoạt động quang hợp của TVPD ở những vùng biển khác nhau như biển Đen,
biển Địa Trung Hải, biển Baltic, biển Trắng, biển Na Uy, biển Đông cũng như trong
các hồ Baikal, hồ Issyk-Kul. Những nghiên cứu này cho thấy khả năng quang hợp
và trạng thái sinh lý của TVPD ở những vùng môi trường khác nhau cũng như có
các đặc trưng khí hậu và thuỷ lý khác nhau đều cho thấy mối tương quan giữa hiệu
suất quang hợp với bức xạ quang hợp dưới nước [12], [13]. Ngoài ra, Manzello và
cộng sự (2009) sử dụng phương pháp đo huỳnh quang trong điều kiện tự nhiên để
nghiên cứu, giám sát hiệu suất quang hợp cũng như hiện tượng tẩy trắng của san hô
[33]. Một ứng dụng khác của Sven và cộng sự năm 1998 là dùng phương pháp đo
huỳnh quang in vivo trong nghiên cứu khả năng quang hợp của cỏ biển [45].

C lên cao hơn [3].
Năm 2003, Nguyễn Tác An và cộng sự đã sử dụng phương pháp huỳnh
quang để xác định một số thông số như năng suất sinh học sơ cấp, độ phong phú,
tình trạng sinh lý, sinh thái và hoạt tính quang hợp của TVPD. Sử dụng kết quả đo
Fv/Fm trong việc phân tích, đánh giá năng suất sinh học sơ cấp và đặc trưng sinh lý
- sinh thái của TVPD ở vịnh Nha Trang, Khánh Hoà [2].
1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên vùng biển Khánh Hoà
Vịnh Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hoà, nằm trong khu vực nội chí tuyến
Bắc, (khoảng 12
o
-12
o
18’vĩ độ bắc và 109
o
10’-109
o
20’ kinh độ đông), là khu vực
có vị trí quan trọng về kinh tế, du lịch, và là vùng nhạy cảm về môi trường của
thành phố Nha Trang. Vịnh thuộc loại tương đối sâu ở miền Trung, độ sâu trung
bình 20 m và bờ biển khá dốc. Nhiệt độ quanh năm cao, trung bình 26,3
o
C, ít biến
đổi, và không xảy ra hiện tượng nhiệt thấp quá hoặc cao quá, với sự chênh lệch giữa
nhiệt độ ngày và đêm khoảng 6 – 10
o
C [4], [10].
Về khí hậu, do ảnh hưởng bởi chế độ gió mùa nên có hai mùa rõ rệt: mùa
khô (ứng với thời kỳ gió mùa Tây Nam) và mùa mưa (ứng với thời kỳ gió mùa
Đông Bắc). Hàng năm mùa khô bắt đầu và kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa
từ tháng 9 đến tháng 12, với sự xê dịch một vài tuần [4].

động mực nước trung bình có đặc trưng biến đổi theo mùa. Vào mùa gió đông bắc
mực nước trung bình mùa thường cao hơn mùa gió mùa tây nam 20-30 cm [1].
Do vị trí địa lý và điều kiện địa hình phức tạp nên các khu vực khác nhau của
vịnh Nha Trang chịu tác động của sóng phụ thuộc vào hướng sóng tới. Khu vực
ngoài khơi, phía đông đảo Hòn Tre bị sóng tác động mạnh nhất với độ cao sóng
khoảng 2m ở cả hai hướng Đông Bắc và Đông Nam. Với sóng hướng Đông Bắc
(thời kỳ gió mùa Đông Bắc) phía nam vịnh Nha Trang bị khuất sóng, dải ven bờ
khu vực từ cảng Hải Quân tới cửa sông Cái bị sóng tác động mạnh với độ cao sóng
khoảng 1-1.5m. Với sóng hướng Đông Nam (thời kỳ gió mùa Tây Nam) khu vực
phía bắc vịnh Nha Trang bị khuất sóng còn khu vực phía nam vịnh bị sóng tác động
mạnh với chiều cao sóng khoảng 1.5-2.0 m [8].
1.3.5 Nhiệt độ và độ mặn nước biển
Cũng như nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước biển khá đồng nhất với độ lệch
trung bình qua các tháng kế cận không quá 1
o
C. Nhiệt độ nước biển trung bình năm
là 28.2
o
C, lớn nhất 34.2
o
C (9/1986) và nhỏ nhất 24.5
o
C (3/1986). Nhiệt độ nước
biển trung bình mùa hè (tháng 5-9) tương đối cao: 29.1
o
C, mùa đông (tháng 10-4
năm sau) khoảng 27.7
o
C. Nhiệt độ trung bình tháng 10 (là tháng chuyển tiếp từ mùa
hè sang mùa đông còn khá cao với trị số 28.8

hệ thống gió mùa, tốc độ trung bình khoảng 20 cm/s.
Tuy nhiên vùng nghiên cứu là khu vực ven bờ, dòng chảy chủ yếu là do thủy
triều gây ra. Do vậy các đặc trưng dòng chảy biến đổi theo cả không gian và thời
gian. Các số liệu đo dòng chảy tức thời chỉ có tính chất cục bộ. Để có bức tranh về
hoàn lưu tại vịnh Nha Trang cần phải mô phỏng bằng mô hình hóa. Đặc điểm phân
bố dòng chảy tổng hợp bằng mô hình dòng chảy 2 chiều được mô tả trong hình 8, 9.
Các kết quả tính toán đã được kiểm chứng bằng các số liệu đo đạc.
Đặc điểm chính của dòng chảy trong vịnh Nha Trang là dòng triều chiếm ưu
thế, khi nước triều lên thì nước nửa phía bắc vịnh chảy sang vùng phía nam vịnh
(qua mặt cắt Mũi Chụt-Hòn Tre) và ngược lại khi thủy triều xuống thì nước nửa
phía nam vịnh chảy sang vùng phía bắc vịnh [1].
(a)
(b)
Hình 1.1. Trường dòng chảy tổng hợp tại vịnh Nha Trang, gió Đông Bắc, vận
tốc V = 5m/s: a-Pha triều xuống; b-pha triều lên (Theo số liệu của Phòng Vật lý
biển, Viện Hải dương học, năm 2007)
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài nước trồi mạnh Nam Trung Bộ (1997) thì
vùng biển Nha Trang rất gần với tâm nước trồi mạnh (giữa Ninh Thuận và Bình
Thuận) hoạt động cực đại vào tháng 7 - 8 đã tạo ra quanh nó một vùng nước có
năng suất sinh học cao, ảnh hưởng trực tiếp tới sinh vật phù du và nguồn lợi hải sản
ở vùng biển Khánh Hòa [4].
1.3.7 Dinh dưỡng
Muối dinh dưỡng thường biến động rất lớn theo không gian và thời gian. Sự
phân bố của muối dinh dưỡng theo cột nước cũng khác nhau rất lớn. Khu vực ven
bờ Nha Trang do bị tác động của nhiều loại hình hoạt động như du lịch, cảng biển
và đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản cũng góp phần làm gia tăng hàm lượng các muối
dinh dưỡng tuy nhiên vẫn nằm trong tiêu chuẩn cho phép của vực nước nuôi trồng
thuỷ sản và vực nước ven bờ. Hầu hết các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng trước
đây đều cho thấy tỷ số N/P trong vùng Nha Trang, Khánh Hoà biến thiên trong
phạm vi rất rộng, giá trị trung bình nhỏ hơn chỉ số Redfield và thường thì hàm

Hình 2.2. Sơ đồ mô tả ở trạng thái trung tâm phản ứng đóng (Nguồn:
Fluorescence/(S-0071)Theory and Application
Theory of active fluorescence)
Biến thiên huỳnh quang Fv (được tính Fv = Fm - Fo) được sử dụng để đánh
giá hiệu suất lượng tử của phản ứng quang hoá trong quá trình quang hợp. Huỳnh
quang cung cấp thông tin quan trọng về điều kiện sinh lý của sinh vật nghiên cứu. Ở
đây mô tả phương pháp dùng máy đo huỳnh quang để đánh giá khả năng quang hợp
của thực vật phù du. Phương pháp huỳnh quang sử dụng để nghiên cứu mối quan hệ
giữa sự phát huỳnh quang của sắc tố chlorophyll và quang hợp. Huỳnh quang chủ
yếu được phát ra bởi phức hệ II (PSII - photosysterm II) liên quan tới sắc tố
chlorophyll-a. Từ việc đo huỳnh quang có thể đo được khả năng quang hợp và điều
kiện sinh lý của thực vật phù du [40]. Một vài phương pháp đánh giá huỳnh quang
sắc tố chlorophyll-a được phát triển và sử dụng trong nghiên cứu thực vật.
2.2 Hiệu suất quang hợp tương quan với hàm lượng dinh dưỡng
Trong khoa học nước, người ta chấp nhận rằng hiệu suất lượng tử lớn nhất
của quang hợp bị ảnh hưởng bởi stress dinh dưỡng, cường độ ánh sáng, nhiệt độ.
Hiệu suất lượng tử lớn nhất (Fv/Fm) có thể được đánh giá bằng cách đo hiệu suất
huỳnh quang tăng từ huỳnh quang tối thiểu thích ứng điều kiện tối (Fo) đến huỳnh
quang tối đa (Fm) khi các trung tâm phản ứng bị đóng lại trong suốt quá trình ánh
sáng bão hoà hoặc sử dụng chất ức chế quang hợp như 3'-(3,4-dichlorophenyl)-1',1'-
dimethyl urea (DCMU). Vì vậy, tỷ số Fv/Fm là một chỉ thị cho stress dinh dưỡng.
Những kết quả thu được cho thấy Fv/Fm bị suy giảm khi TVPD bị stress dinh
dưỡng, cả trong quá trình thiếu dinh dưỡng (phát triển không cân bằng: unbalanced
growth) và giới hạn dinh dưỡng thích nghi (trạng thái ổn định hay phát triển cân
bằng: steady-state or balanced growth). Dưới điều kiện giàu dinh dưỡng thì tỷ số
Fv/Fm cao. Đo bằng máy đo huỳnh quang cho kết quả Fv/Fm cao (trong khoảng
0.55 - 0.68) đối với mẫu nuôi ở trạng thái ổn định dưới điều kiện chiếu bức xạ ánh
sáng cường độ cao.
Hầu hết các tài liệu cho rằng Fv/Fm là chỉ thị tốt cho stress dinh dưỡng, nhiệt
độ, ánh sáng trong điều kiện ngắn, thông thường như vùng nước ven bờ. Đo biến

o
19’ 30”
Ngoài khơi
2 12
o
15’ 51”
109
o
15’ 49”
Giữa vịnh
3 12
o
15’ 32”
109
o
12’ 29”
Cửa sông Cái
4 12
o
14’ 27”
109
o
12’ 32”
Ven bờ
5 12
o
11’ 28”
109
o
12’ 37”

Mẫu nước tự nhiên được thu tại 9 trạm vào tháng 5, 5 trạm vào tháng 6 và
tháng 8 thuộc vịnh Nha Trang, Khánh Hoà theo sơ đồ trạm vị Hình 2.5 với toạ độ ở
Bảng 2.1. Đối với mẫu nuôi, mẫu nước được bảo quản để mát bằng cách ngâm
trong nước biển, sau đó được đưa về phòng thí nghiệm.
Đối với mẫu nước đo các thông số quang hợp thu tại các trạm cũng được bảo
quản trong tối, mát và đưa về phòng thí nghiệm đo các thông số huỳnh quang tối
thiểu (Fo), huỳnh quang cực đại (Fm), biến thiên huỳnh quang (Fv = Fm - Fo) và
chỉ số hiệu suất quang hợp (Fv/Fm) bằng máy đo Huỳnh quang Turner Designs
Model 10-AU (Mỹ).
Các yếu tố dinh dưỡng: Si-SiO
3
; N-NH
4
, NH
3
; N-NO
3
và P-PO
4
được phân
tích ở Phòng Thủy Địa Hóa theo phương pháp hiện hành tại Viện hải dương học.
Mẫu nước được thu bằng chai thu mẫu chuyên dụng tại tầng đáy và tầng mặt của
các trạm [14].
Chlorophyll-a: Mẫu nước được thu 1 lít bảo quản trong thùng đá bảo đảm
lạnh và che sáng hoàn toàn, sau đó chuyển về phòng thí nghiệm lọc, chiết xuất và
phân tích bằng máy quang phổ tại Phòng Sinh vật Phù du. Hàm lượng chlorophyll-a
được tính toán theo công thức của Jeffrey và Humphrey trong APHA [14].
Đo các thông số lý hoá ngoài thực địa như độ sâu, nhiệt độ, độ mặn, ánh
sáng bằng CTD Sea-Bird SBE19plus.
Hình 2.5. Sơ đồ trạm thu mẫu

12/12 (sáng/tối). Điều kiện nhiệt độ và ánh sáng được điều chỉnh giống như ở môi
trường.
2.6 Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được tính toán và xử lý chủ yếu trên phần mềm excell.
Sử dụng phần mềm Graphpad Prism để phân tích và vẽ đồ thị.
Dùng phần mềm Mapinfo để thể hiện sự phân bố các yếu tố dinh dưỡng, chl-
a trên bản đồ.
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả
3.1.1 Đặc điểm lý hoá ven bờ Khánh Hoà
Nhiệt độ giữa các trạm thu mẫu trong tháng 5 dao động từ 26
o
C đến 29
o
C,
cao nhất ở trạm ven bờ Mũi Chụt và Hòn Mun. Độ mặn dao động nhỏ trong khoảng
33.5 – 33.9 ‰. Bức xạ quang hợp dao động lớn từ 59.6 – 403.8 μmol.m
-2
s
-1
, thấp ở
trạm 4 - ven bờ và trạm 2 - giữa vịnh (Bảng 3.1).
Bảng 3.1. Biến động các thông số hoá lý khu vực nghiên cứu trong tháng 5
Trạm
T (
o
C)
PSU
(‰)
PAR

26.9 và 25.7
o
C, dao động trong khoảng 27.3 – 28.7
o
C ở tầng mặt và 21.5 – 26.2
o
C
ở tầng đáy. Do thu mẫu hoàn toàn vào các tháng mùa khô nên độ mặn giữa các trạm
và giữa các tháng thu mẫu tương đối cao trung bình 33.7 ‰, dao động nhỏ từ 33.1 –
34.1 ‰ (Bảng 3.1, Bảng 3.2). Bức xạ quang hợp biến thiên lớn theo không gian và
thời gian thu mẫu, đặc biệt giảm mạnh ở lớp nước tầng đáy còn khoảng dưới 10 % ở
trạm ngoài khơi (trạm 1Đ) và giảm còn 20 – 30 % ở trạm 2 - giữa vịnh Nha Trang.
Bảng 3.2. Biến động các thông số hoá lý khu vực nghiên cứu trong tháng 6 (T6) và
tháng 8 (T8).
Trạm
Độ sâu
thu
mẫu
(m)
T (
o
C) PSU (‰)
PAR
(µE/m
2
/s)
Chl-a
(µg/L)
N-NO
3

28.7 28.0 34.0 34.1 476.5 682.3 1.3 1.3 38.0 40.0 57.2 10.0 25.9 5.8 793.0 407
TB
26.9 25.7 33.7 33.7 289.0 380.0 0.6 0.6 33.6 36.6 31.6 6.0 10.5 5.8 430.4 332.4
Hàm lượng muối dinh dưỡng N-NO
3
không chênh lệch nhiều giữa các tháng
thu mẫu trung bình 31.3 µg/l (dao động 30 – 34 µg/l) vào tháng 5, trung bình 33.6
µg/l (dao động 29 – 38 µg/l) vào tháng 6 và trung bình 36.6 µg/l (dao động 32 – 40
µg/l) vào tháng 8. Kết quả phân tích qua 3 đợt thu mẫu cho thấy hàm lượng muối
nitrat ở trạm ven bờ Mũi Chụt thường cao hơn so với các trạm khác điều này đúng
với thực tế nơi đây tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải sinh hoạt của khu dân cư
(Hình 3.1, Hình 3.2).
Hình 3.1. Phân bố hàm lượng muối dinh dưỡng nitrat và phốt phát tháng 5

Trích đoạn Đặc điểm sinh lý, sinh thái và hiệu suất quang hợp của TVPD ngoài tự nhiên Đợt thí nghiệm trên các quần xã TVPD trong tháng Hiệu suất quang hợp của TVPD ở các nhóm kích thước khác nhau
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status