BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI
NHUẬN TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG
PHƢƠNG ĐÔNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : CAO ĐĂNG LINH
MÃ SINH VIÊN : A14477
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
PHƢƠNG ĐÔNG
Giáo viên hƣớng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thị Đông
Sinh viên thực hiện : Cao Đăng Linh
Mã sinh viên : A14477
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện.
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công
bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình. Sinh viên
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, cùng với sự nỗ lực của bản thân không thể thiếu
sự ủng hộ, giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Đại học Thăng Long và ban lãnh đạo
cũng như toàn thể nhân viên trong công ty TNHH xây dựng Thăng Long. Em xin gửi
lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học Thăng Long đặc biệt là
PGS.TS Nguyễn Thị Đông, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo em và giúp em có
những định hướng đúng đắn, khắc phục sai sót trong suốt quá trình làm khóa luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cũng như toàn thể nhân viên
trong công ty TNHH xây dựng Phương Đông đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá
trình thực tập, cung cấp cho em số liệu cần thiết, chính xác để em có thể hoàn thành
khóa luận của mình.
Do điều kiện thời gian có hạn và trình độ bản thân nên khóa luận của em không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
thày cô giáo, ban lãnh đạo công ty và các bạn để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện.
Cao Đăng Linh
2.1 Tổng quan về công ty TNHH xây dựng Phƣơng Đông 22
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 22
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 22
2.1.3 Hệ thống tổ chức quản lý kinh doanh 24
2.1.4 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu qui mô, hiệu quả qua các năm 2012-
2013 25
2.2 Phân tích lợi nhuận hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH xây dựng
Phƣơng Đông 28
2.2.1 Xác định mức lợi nhuận 28
2.2.2 Phân tích qui mô, cơ cấu lợi nhuận hoạt động 30
2.2.3 Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tài sản 31
2.2.4 Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 35
2.2.5 Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên Doanh thu thuần, Chi phí kinh doanh 36
2.3. Đánh giá tình hình lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận dƣới tác động của các nhân
tố tại Công ty TNHH xây dựng Phƣơng Đông. 38
2.3.1 Nhân tố tác động tới mức lợi nhuận 39
2.3.2 Nhân tố tác động tới tỷ suất lợi nhuận 40
CHƢƠNG III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG PHƢƠNG
ĐÔNG 43
3.1 Định hƣớng phát triển kinh doanh công ty TNHH xây dựng Phƣơng Đông
trong thời gian tới 44
3.2 Giải pháp nâng cao mức và tỷ suất lợi nhuận hoạt động kinh doanh tại
Công ty TNHH xây dựng Phƣơng Đông 45
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao mức và tỷ suất lợi nhuận hoạt
động kinh doanh tại công ty TNHH xây dựng Phƣơng Đông 47
3.3.1 Điều kiện thuộc về Nhà nước 47
3.3.2. Điều kiện thuộc về Công ty 48
KẾT LUẬN 51
NVL Nguyên vật liệu
QLDN Quản lý doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TBCN Tư bản chủ nghĩa
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
LỜI MỞ ĐẦU
Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO không
những đem lại cho nền kinh tế đất nước những cơ hội để phát triển, đổi mới mà đi kèm
với nó là những khó khăn mà các doanh nghiệp trong nước gặp phải như: sự cạnh
tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, sự chậm tiến bộ về
khoa học kỹ thuật… Trước tình thế này, để có thể tồn tại và phát triển, doanh nghiệp
bắt buộc phải tự điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu
quả và đạt được lợi nhuận cao, đồng thời phải thường xuyên theo sát, đánh giá mọi
hoạt đông và kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận không chỉ là cái đích mà doanh nghiệp hướng tới mà còn là động lực,
đòn bẩy để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, từ đó mà doanh nghiệp khẳng định được
vị thế và uy tín trên thương trường, góp phần giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh
được thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn.
Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải làm thế nào để hoạt động sản xuất kinh doanh
có hiệu quả để đạt được lợi nhuận? Việc phân tích lợi nhuận giúp cho các cấp quản lý
trong doanh nghiệp đáng giá được tình hình sản xuất kinh doanh của mình và có
những nhận thức đúng đắn, toàn diện, khách quan về mọi yếu tố liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận. Phân tích lợi
nhuận giúp các nhà lãnh đạo thấy được những thành tựu đã đạt được và những mặt còn
hạn chế trong hoạt động của doanh nghiệp mình từ đó phân tích những nguyên nhân
khách quan, chủ quan để đưa ra những chính sách, biện pháp hợp lý làm tăng lợi
nhuận doanh nghiệp.
Qua điều tra, khảo sát sơ bộ tại đơn vị thực tập em nhận thấy trong công ty công
tác phân tích kinh tế của doanh nghiệp còn chưa hoàn thiện, chưa có bộ phận riêng biệt
1
CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Lợi nhuận và xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm lợi nhuận
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, sự phát triển hay suy thoái
của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển hay suy thoái của một nền kinh tế
quốc dân. Chức năng của các doanh nghiệp là thực hiện tái sản xuất xã hội, sản xuất ra
tổng sản phẩm xã hội với nguồn lực hiện có nhằm cung cấp hàng hoá, dịch vụ đáp ứng
cho nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Song, nền kinh tế thị trường với các qui
luật khắt khe của nó buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì phải
làm ăn có hiệu quả, tức là có lợi nhuận. Do đó, lợi nhuận là mục tiêu vô cùng quan
trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Để có thể cung cấp được hàng hoá, dịch vụ cho nhu
cầu thị trường, nhu cầu xã hội các doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra những chi phí cần thiết
nhất định cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Vì vậy khi tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp phải đảm bảo sao cho thu nhập bù
đắp được chi phí đã bỏ ra và hình thành một khoản lợi nhuận để không chỉ phục vụ
cho tái sản xuất giản đơn mà còn phải tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ, phát
triển sản xuất, củng cố, tăng cường vị trí của mình trên thị trường. Nếu không tạo ra
được lợi nhuận thì doanh nghiệp sẽ không thể và không muốn sản xuất phục vụ cho
nhu cầu sản xuất, nhu cầu tiêu dùng của con người.
Vậy lợi nhuận là gì?
Một cách khái quát thì lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả kinh
tế các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa
các khoản thu nhập và các khoản chi phí đã bỏ ra phù hợp với thu nhập trong một thời
kỳ nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều đối tượng quan tâm đến kết quả kinh
doanh, lợi nhuận của doanh nghiệp và cũng từ đó đã tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau về lợi nhuận, xét trên các góc độ khác nhau, ta có các khái niệm khác nhau về lợi
nhuận.
vào giá trị sản phẩm do người lao động tạo ra". Nguồn gốc của lợi nhuận là do toàn bột
tư bản đầu tư đẻ ra trong cả lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Lợi nhuận là nguồn gốc
của các thu thập trong xã hội và của mọi giá trị trao đổi.
Adam - Smith cho rằng không chỉ có lao động nông nghiệp mà cả lao động công
nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận. Nhà tư bản tiền tệ cho nhà tư bản sản xuất vay vốn và
nhận được lợi tức cho vay. Đó là một biểu hiện khác của lợi nhuận đã được tạo ra
trong sản xuất. Chính các nhà tư bản (cho vay - sản xuất) sẽ thoả thuận để phân chia
giá trị thặng dư được tạo ra từ sản xuất - kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Sản xuất tư bản
chủ nghĩa ngày càng phát triển thì tính cạnh tranh càng quyết liệt. A.Smith còn phát
hiện việc phân chia lợi nhuận theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và khi quy mô đầu tư tư
bản càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút.
Davia. Ricardo cũng hoàn toàn dựa vào giá trị lao động để phân tích chỉ rõ nguồn
gốc, bản chất của lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh TBCN. Ông đã khẳng định: lao
động là nguồn gốc của giá trị và giá trị sản phẩm hàng hoá được phân thành các nguồn
thu nhập: tiền lương, địa tô, lợi nhuận. Ông kết luận: "Lợi nhuận chính là phần giá trị
lao động thừa ra ngoài tiền công, lợi nhuận là lao động không được trả công nhân". D. 3
Ricardo coi lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công, số chênh lệch đó chính là
lợi nhuận. Ông thấy được quan hệ mâu thuẫn giữa tiền lương và lợi nhuận. Việc hạ
thấp tiền lương làm cho lợi nhuận tăng lên và ngược lại, tiền lương tăng làm lợi nhuận
giảm, còn giá trị hàng hoá thì không thay đổi. Ông nhận thấy sự đối lập giữa tiền
lương và lợi nhuận, tức sự đối lập giữa lợi ích kinh tế của công nhân và của các nhà tư
bản.
Kế thừa những quan điểm đúng đắn, khoa học của những nhà lý luận tiền bối,
K.Marx đã nghiên cứu một cách toàn diện, triệt để về nguồn gốc, bản chất của lợi
nhuận trong kinh doanh TBCN. Dựa trên lý luận giá trị lao động, Karl - Marx đã phát
hiện và vạch rõ toàn bộ quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới CNTB, điều mà các
nhà khoa học trước ông không làm được. K.Max đã khẳng định "Nguồn gốc của lợi
dư, tức là phần giá trị dôi ra ngoài tiền công, do lao động làm thuê tạo ra. Nền sản xuất
hàng hoá xã hội có sự đối lập giữa chủ doanh nghiệp và người làm thuê do đó lợi
nhuận biểu hiện mâu thuẫn về quyền loựi kinh tế giữa chủ và giới thợ, biểu hiện quan
hệ bóc lột và nô dịch lao động.
- Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế hàng hoá có sự chuyển hoá lợi
nhuận và hình thành tỷ suất lợi nhuận. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
sự thay đổi của cấu tạo hữu cơ TBCN, việc tăng đầu tư tư bản cố định vào sản xuất,
việc thay thế lao động sống bằng hệ thống máy móc làm cho tỷ suất lợi nhuận có xu
hướng giảm đi.
- Lợi nhuận của sản xuất kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với tiền công trả cho
việc thuê lao động. Với tư cách là một yếu tố của chi phí sản xuất, tiền công có xu
hướng vận động ngược chiều với lợi nhuận doanh nghiệp và khi năng suất lao động
tăng lên, lợi nhuận tăng nhưng tiền công lại giảm xuống.
1.1.2. Xác định lợi nhuận
Công thức xác định lợi nhuận:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Trong đó:
- Tổng doanh thu: Là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong
kỳ kế toán phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tổng chi phí: bao gồm toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp….
Để làm gia tăng được lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải thực hiện được các
yếu tố :
+ Tăng doanh thu, giảm chi phí
+ Doanh thu và chi phí đều tăng tuy nhiên tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc
độ tăng chủa chi phí
1.1.3 Vai trò của lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các doanh
nghiệp và nhà nước, nó là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, góp phần khơi dậy tiềm năng
của người lao động vì sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp trong tương lai. Lợi
nhuận còn là nguồn để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước,
thông qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc dân. nền kinh tế như một cơ thể
sống, các doanh nghiệp chính là những tế bào, cơ thể - nền kinh tế - muốn phát triển
lành mạnh, vững chắc thì mỗi tế bào của nó - các doanh nghiệp - phải lớn mạnh, phải
làm ăn có lãi. bằng việc trích lập một khoản lợi nhuận vào ngân sách nhà nước dưới
hình thức thuế, các doanh nghiệp có thể đóng góp một phần đáng kể cho sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba: lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất nhằm tiết kiệm
chi phí nguyên nhiên vật liệu, tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ. từ
đó giúp doanh nghiệp có điều kiện tạo dựng và nâng cao uy tín trên thị trường, thu hút 6
vốn đầu tư, bổ sung vốn kinh doanh, tăng thêm vốn chủ hở hữu và trả các khoản nợ,
tạo sự vững chắc về tài chính cho doanh nghiệp. không những thế lợi nhuận còn là
nguồn tài chínhđể doanh nghiệp bù đắp các khoản chi phí không được tính vào chi phí
sản xuất kinh doanh như các khoản lỗ năm trước, những khoản chi phí vượt định
mức…
Thứ tư: lợi nhuận cao cho thấy được triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó
trong tương lai đó là doanh nghiệp sẽ rất thuận lợi trong các mối quan hệ kinh tế như
có thể huy động thêm vốn dễ dàng, mua chịu hàng hoá với khối lượng lớn doanh
nghiệp còn có điều kiện trích lập các quỹ(quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài
chính, quỹ khen thưởng phúc lợi ) để phục vụ cho việc tái sản xuất giản đơn, tái sản
xuất mở rộng, phục vụ cho công tác phúc lợi.
Thứ năm: lợi nhuận còn là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh của
doanh nghiệp. một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao khi tăng đựơc doanh thu và
đảm bảo tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí. tức là doanh
đẩy sự phát triển của nền kinh tế. lợi nhuận khôngnhững có vai trò quan trọng đối với
bản thân mỗi doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa với toàn xã hội.
Lợi nhuận còn có vai trò quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của
nền kinh tế, việc tăng lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ.
bởi nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào tích luỹ, quy mô của
tích luỹ quyết định quy mô tăng trưởng. doanh nghiệp muốn tăng trưởng nhanh thì
phải làm ăn đạt lợi nhuận cao. Có được lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng được quy mô
tích luỹ, một khi đã có tích luỹ đủ lớn thi doanh nghiệp có thể tái sản xuất mở rộng,
đây là tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. ngược lại, nền kinh tế tăng trưởng sẽ tác
động trở lại doanh nghiệp , tạo môi trường thuận lợi và động lực cho doanh nghiệp
phát triển. trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay để thích nghi với giai đoạn mới
của nền kinh tế, nhà nước ban hành chính sách mới nhằm từng bước cải thiện môi
trường kinh doanh, buộc các doanh nghiệp thực hiện hạch toán theo cơ chế thị trường
lấy thu bù chi và cuối cùng phải có lãi. Qua thực tiễn cho thấy đã có nhiều doanh
nghiệp nhà nước rất năng động, linh hoạt thích nghi với môi trường kinh doanh, các
nhà doanh nghiệp luôn quan tâm đến việc tìm kiếm lợi nhuận, lấy lợi nhuận làm mục
tiêu phấn đấu. kết quả là các doanh nghiệp này đã phát triển vững mạnh và có sức cạnh
tranh trên thị trường. tuy nhiên cũng không ít doanh nghiệp còn rất lúng túng chậm
thích nghi với cơ chế thị trường, vẫn còn mang phong cách kinh doanh cũ, tâm lý ỷ lại
trông chờ nhà nước dẫn tới kết quả làm ăn kém hiệu quả, lợi nhuận thu được thấp,
thậm trí thua lỗ kéo dài dẫn tới phải ngừng sản xuất kinh doanh, giải thể doanh nghiệp
tác động tiêu cực cho xã hội…. bởi vậy trong điều kiện cơ chế thị trường việc nâng
cao lợi nhuận không chỉ là mục tiêu hàng đầu mà còn là điều kiện để quyết định sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước.
- Đối với ngƣời lao động
Lao đông là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh
doanh. để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quan tâm
thoả đáng đến lao động, cả về vật chất lẫn tinh thần. nếu doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì sẽ có điều kiện trích lập các quỹ như quỹ khen
thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ vốn, quỹ khác của doanh nghiệp là cơ sở để từng bước
triển vốn kinh doanh. muốn vậy các doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, nếu không
có lợi nhuận thì doanh nghiệp không thể đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh, không có điều kiện đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ khoa học công
nghệ hiện đại vào sản xuất. như vậy, doanh nghiệp sẽ khó đứng vững trên thị trường
nhất là trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt như hiện nay và trong tương lai.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chịu sự chi phối bởi các quy luật
khắc nghiệt của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá
trị… tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. điều đó đòi hỏi mọi quyết định kinh
doanh của doanh nghiệp đều phải gắn liền với thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị
trường, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường.
doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận cao nếu sản xuất và cung ứng những mặt 9
hàng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, giá cả phù hợp với thu nhập của họ và có
chính sách tiêu thụ hợp lý.
Như vậy, lợi nhuận không những là mục tiêu cuối cùng mà còn là động lực trực
tiếp đối với các doanh nghiệp. trong khi lựa chọn các phương án kinh doanh, doanh
nghiệp luôn lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu, đồng thời làm thước đo hiệu quả và
định hướng cho mọi hành vi của doanh nghiệp. vì thế, việc phấn đấu tăng lợi nhuận
trong các doanh nghiệp là vấn đề vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tóm lại, lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế
nói chung. phấn đấu tăng lợi nhuận là mục tiêu cơ bản và lâu dài của mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. tuy nhiên lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp
chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.
1.2. Phân tích lợi nhuận hoạt động kinh doanh tại các Doanh nghiệp
1.2.1. Phân tích chỉ tiêu quy mô, cơ cấu lợi nhuận
- Các chỉ tiêu quy mô
Doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
+ Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá
trình tiêu thu sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí đóng
gói, vận chuyển, bốc dỡ, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành, khoản chi trả hoa hồng
cho đại lý, chi phí kho bãi, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí lao động sử dụng trong tiêu
thụ hàng hóa…
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm tiền lương, tiền ăn ca, các khoản trích
theo lương của cán bộ, nhân viên thuộc bộ máy quản lý doanh nghiệp, chi phí vật liệu,
đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, chi phí
khác, chi phí dự phòng nợ khó đòi, dự phòng phải trả…
Doanh thu từ hoạt động tài chính
Bao gồm lãi tiền gửi ngân hàng, bán trả góp,lãi kinh doanh chứng khoán, lãi góp
vốn liên doanh, lãi đầu tư ngắn hạn và dài hạn khác, chiết khấu thanh toán được
hưởng, lãi từ chênh lệch tỷ giá hối đoái
Chi phí tài chính
Lỗ do kinh doanh chứng khoán và các hoạt động đầu tư tài chính khác ra bên
ngoài doanh nghiệp , chi phí do đem góp vốn liên doanh liên kết, chi phí liên quan tới
hoạt động cho vay, chuyển nhượng vốn , lỗ do chênh lệch tỷ giá…
Thu nhập khác
Bao gồm thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng, tiền thu từ hoạt động
nhượng bán, thanh lý TSCĐ, thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý, các khoản miễn giảm
thuế, hoàn nhập dự phòng bảo hành công trinh xây dựng cơ bản , giá trị tài sản nhận
viện trợ, biếu tặng…
Chi phí khác 11
Bao gồm chi phạt thuế, chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng, chi thanh lý nhượng
bán tài sản, ghi tăng chi bảo hành công trình xây dựng cơ bản vượt quá mức dự phòng
đã lập
- Cơ cấu lợi nhuận
12
Lợi nhuận khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định từ lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh
doanh, lợi nhuận hoạt động tài chính, lợi nhuận hoạt động khác:
Xác định được lợi nhuận trước thuế TNDN
Lợi nhuận trước = Lợi nhuận + Lợi nhuận + Lợi nhuận
Thuế TNDN HĐSXKD HĐTC khác
Xác định lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
Lợi nhuận = Lợi nhuận - Chi phí thuế TNDN ± Chi phí thuế TNDN
sau thuế trước thuế hiện hành hoàn lại
Trong đó:
Chi phí thuế TNDN = Thu nhập x Thuế suất thuế TNDN
hiện hành trước thuế hiện hành
Chi phí thuế TNDN = Chênh lệch x Thuế suất thuế
hoàn lại tạm thời TNDN
1.2.2. Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)
Lợi nhuận là chỉ tiêu tuyệt đối để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhưng
không vì thế mà nó là chỉ tiêu duy nhất đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cùng loại hình kinh doanh, cùng qui mô, vốn, thời gian… thì
việc dùng chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá phản ánh kết quả thật chính xác. Nhưng giả
thiết đối với các loại doanh nghiệp cùng loại, nếu qui mô sản xuất khác nhau thì lợi
nhuận thu được khác nhau, ở doanh nghiệp lớn, lợi nhuận thu về lớn hơn số lợi nhuận
mà doanh nghiệp nhỏ đạt được. Nhưng qua đó chưa thể kết luận được doanh nghiệp
lớn hoạt động có hiệu quả hơn. Như vậy để đánh giá một cách chính xác và so sánh
chất lượng hoạt động của doanh nghiệp ngoài việc sử dụng chỉ tieeu lợi nhuận tuyệt
đối người ta còn sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tương đối đó là chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận.
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
trên tài sản dài hạn
=
Lợi nhuận trước (sau) thuế
x 100
Tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một trăm đồng tài sản dùng trong dài hạn vào sản xuất
kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng về lợi nhuận trước (sau) thuế. Chỉ
tiêu này càng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh càng lớn.
1.2.3. Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu(ROE)
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức
Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận trước (sau) thuế
x 100
Vốn chủ sở hữu
Trong tất cả các mục tiêu mà doanh nghiệp nhắm tới thì mục tiêu tạo ra lợi
nhuận (trước) sau thuế cho chủ sở hữu doanh nghiệp là quan trọng nhất.
Để đánh giá hiệu quả thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp người ta sử dụng chỉ
tiêu tỉ suất thu hồi vốn chủ sở hữu.
Tỉ suất thu hồi vốn chủ sở hữu được đo bằng lợi nhuận (trước)sau thuế chia cho
vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, nó phản ánh cứ một
trăm đồng vốn chủ sở hữu dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra được bao 14
nhiêu đồng về lợi nhuận trước (sau) thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp
sử dụng vốn có hiệu quả.
Đây là chỉ số tài chính quan trọng nhất và thiết thực nhất đối với chủ sở hữu
hạn chế tối đa chi phí để thu lợi nhuận nhiều nhất.
Mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Thứ nhất :
ROA = ROS x AU
Trong đó AU là số vòng quay tổng tài sản= Doanh thu thuần/Tổng tài sản
Có hai hướng để tăng ROA: Tăng ROS và vòng quay tổng tài sản
Muốn tăng ROS cần phấn đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng
giá bán. 15
Muốn tăng vòng quay tổng tài sản cần tăng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
bằng cách phấn đấu tăng doanh thu và giảm giá bán và tăng cường các hoạt động xúc
tiến bán.
Thứ hai :
ROE = ROA x EM
Trong đó EM là hệ số nhân vốn=Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu
Có hai hướng để tăng ROE: Tăng ROA và tăng tỷ số Tổng tài sản/Vốn chủ sở
hữu (đòn bảy tài chính)
Muốn tăng ROA cần làm theo đẳng thức thứ nhất
Muốn tăng tỷ số Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu cần phấn đấu giảm VCSH và tăng
nợ. Đẳng thức này cho thấy tỷ số nợ càng cao lợi nhuận của chủ sở hữu càng cao
Đương nhiên khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro cũng sẽ tăng
Thứ ba :
ROE = ROS x AU x EM = ROA x EM
= Tỷ suất lợi nhuận biên x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn bảy tài chính
Trong đó EM là hệ số nhân vốn
AU là số vòng quay tổng tài sản
ROE phụ thuộc vào 3 nhân tố:
- ROS (tỷ suất lợi nhuận biên)