PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH TÁC ĐỘNG CỦA VỊ TRÍ ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾXÃ HỘI Ở VIỆT NAM - Pdf 24

HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
KHOA QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
TIỂU LUẬN
ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
Đề tài:
PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH TÁC ĐỘNG CỦA VỊ TRÍ ĐỊA
LÝ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thảo Quỳnh
Lớp: QHPT 3
Khoa: Quy hoạch phát triển
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Bích Phương
Hà Nội, tháng 4/2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, LÃNH THỔ VIỆT
NAM 2
1.1. Vùng đất 2
1.2. Vùng biển……………………………… 3
1.3. Vùng trời ………… 5
Chương 2: Ý NGHĨA CỦA VỊ TRÍ ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 6
2.1. Đối với sự hình thành lãnh thổ tự nhiên 6
2.2. Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 6
2.3. Đối với việc củng cố an ninh – quốc phòng 12
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………… 16
Contents
3
MỞ ĐẦU

bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía đông là biển
Đông và thông ra Thái Bình Dương. Lãnh thổ toàn vẹn nước CHXHCN Việt
Nam được xác định bởi hệ tọa độ địa lý trên bản đồ như sau:
- Điểm cực Bắc ở vĩ độ 23
°
23’ Bắc, gần sát chí tuyến bán cầu
Bắc, tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Điểm cực Nam ở vĩ độ 8
°
34’ Bắc, tại xóm Mũi, xã Đất Mũi,
huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
- Điểm cực Tây ở kinh độ 102
°
09’ Đông, nằm trên đỉnh núi
Khoan La San ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Trung Quốc,
thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Điểm cực Đông ở kinh độ 109
°
24’ Đông, tại xã Vạn Thạnh,
huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Đây là tọa độ trên đất liền còn tọa độ trên biển, lãnh thổ nước ta còn
kéo dài xuống tận 6
°
50’Bắc và 117
°
20’ Đông (đây là tọa độ địa lý của các đảo
nằm trên quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước ta.
Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn, bao gồm vùng
đất, vùng trời, vùng biển.
1.1. Vùng đất

Nhìn chung thì về tính chất cũng như thực tế có vẻ như biên giới Việt
Nam – Lào – Campuchia là biên giới hòa bình, hữu nghị giữa ba dân tộc anh
em, mở đường cho sự phát triển của mỗi nước, cùng hợp tác, liên kết cùng
phát triển.
6
1.2. Vùng biển
Vùng biển nước ta tương đối rộng lớn, có diện tích rộng trên 1 triệu
km2. Phía ngoài lãnh thổ đất liền Việt Nam có thềm lục địa và rất nhiều các
đảo, quẩn đảo lớn nhỏ bao bọc với hơn 4000 đảo lớn nhỏ. Các đảo xa bờ là
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông, cũng như các đảo Cát Bà,
Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu ở vịnh Thái Lan.
Theo công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, sẽ lấy đường cơ
sở (đường cơ sở là những đường thẳng trên biển nối liền với các đảo ven bờ
và các mũi đất nhô ra ngoài biển xa nhất là đảo Cồn Cỏ, đảo Lí Sơn, mũi Đại
Lãnh, Côn Đảo, đảo Thổ Chu, đảo Phú Quốc) để xác định ranh giới và phân
chia vùng biển nước ta, bao gồm:
+ Vùng nội thủy: đó là vùng nước tiếp giáp với đất liền về phía bên
trong đường cơ sở, dùng để tính lãnh hải của một quốc gia. Trong vùng nội
thuỷ Nhà nước ta có mọi chủ quyền như ở phần đất liền.
+ Vùng lãnh hải: thuộc chủ quyền và quyền tài phán rộng 12 hải lí tính
từ đường cơ sở. Trong vùng lãnh hải Nhà nước ta cũng có mọi chủ quyền khai
thác tài nguyên, đánh bắt thuỷ hải sản…
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải là phần biển tính từ đường cơ sở rộng 24 hải
lý. Trên vùng tiếp giáp lãnh hải ngoài chủ quyền thăm dò khai thác tài
nguyên, đánh bắt thuỷ hải sản ta còn có thu thuế hải quan biển, giao thông
biển…
+ Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở. Ở vùng
biển này, nước ta có quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ, sử
dụng và quản lí tất cả các tài nguyên thiên nhiên, quyền riêng biệt về thiết lập
các công trình, đảo nhân tạo, quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học, và bảo

Nước ta nằm trong vòng nội chí tuyến, nóng ẩm, ở giữa vùng châu Á
gió mùa, lại ở rìa phía đông bán đảo Trung - Ấn, thông ra Thái Bình Dương
qua biển Đông. Điều này tạo nền tảng cho nước ta là thiên nhiên nhiêt đới ẩm
gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển. Với lãnh thổ trải dài trên gần 15 độ
vĩ tuyến, sự phân hóa không gian của thiên nhiên Việt Nam rất lớn.
Nước ta nằm ở vị trí giao nhau của các vành đai sinh khoáng Thái Bình
Dương và Địa Trung Hải, đồng thời các hoạt động macma ứng với các vành
đai sinh khoáng này đã làm cho tài nguyên khoáng sản nước ta rất đa dạng,
phong phú.
Nước ta còn nằm ở nơi giao thoa giữa các luồng di cư sinh vật thuộc
các hệ Hymalaya, Malaixia - Inđônêxia và Ấn Độ - Mianma. Những luồng di
cư này chủ yếu diễn ra vào thời kỳ Tân kiến tạo và làm phong phú thêm các
hệ động, thực vật ở nước ta bên cạnh các loài đặc hữu.
2.2. Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Vị trí địa lý, hình dáng lãnh thổ ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành
các đặc điểm của lãnh thổ tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn các
phương thức khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Vị trí địa lý và hình dáng lãnh thổ còn ảnh hưởng to lớn đến quá trình
tổ chức lãnh thổ kinh tế quốc dân, đặc biệt là việc tổ chức các trung tâm kinh
9
tế lớn, các mối liên hệ kinh tế nội vùng và liên vùng, cũng như các mối liên
hệ kinh tế quốc tế.
Vị trí địa lý còn ảnh hưởng đến sự hình thành cộng đồng dân tộc Việt
Nam, một quốc gia đa dân tộc, bản sắc văn hóa đa dạng.
Một nét độc đáo không thể phủ nhận vai trò của vị trí địa lý nước ta đó
là ở chỗ nước ta nằm ở nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của
các nền văn hóa lớn trên Thế giới, của các luồng di dân trong lịch sử. Nước ta
nằm ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á, lục địa Đông Nam Á hải đảo, ở ranh
giới trung gian, nơi tiếp giáp với các lục địa và các đại dương. Vị trí địa lý
(địa tự nhiên, địa kinh tế - xã hội, địa lý giao thông) không có tính chất quyết

khí
phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh. Ngoài ra, còn có các khoáng sản
quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, băng cháy, cát thủy tinh,
muối và các loại vật liệu xây dựng khác. Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh
giá vào loại phong phú trong khu vực. Theo các điều tra về nguồn lợi hải sản,
tính đa dạng sinh học trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng
11.000 loài sinh vật cư trú, trong đó có 6.000 loài động vật đáy, 2.400 loài cá
(trong đó có 130 loài cá có giá trị kinh tế), 653 loài rong biển, 657 loài động
vật phù sa, 537 loài thực vật phù du, 225 loài tôm biển… Trữ lượng cá biển
ước tính trong khoảng từ 3,1 đến 4,1 triệu tấn, khả năng khai thác từ 1,4 đến
1,6 triệu tấn. Nguồn lợi hải sản phong phú đã góp phần đưa ngành thủy sản
trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại giá trị xuất khẩu
đứng thứ 3 trong các ngành kinh tế của đất nước.
Biển Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch - ngành công
nghiệp không khói, hiện đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất
nước. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển
đã tạo thành nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vịnh, bãi
cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành
một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long
được UNESCO xếp hạng. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong
Nha, Bích Động, Non nước…, các di tích lịch sử và văn hóa như: Cố đô Huế,
phố cổ Hội An, Tháp Chàm, Nhà thờ đá Phát Diệm… phân bố tại vùng ven
biển. Tiềm năng du lịch kể trên rất phù hợp để Việt Nam phát triển và đa dạng
các loại hình du lịch hiện đại như nghỉ ngơi; dưỡng bệnh; tắm biển; du lịch
11
sinh thái nghiên cứu khoa học vùng ven bờ, hải đảo, ngầm dưới nước; du lịch
thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền…
Vị trí địa lý nước ta đặt ra nhiều vấn đề về các mối quan hệ tự nhiên,
kinh tế, văn hóa, quốc phòng giữa các nước cận kề cũng như các nước láng
giềng trong khu vực và trên thế giới.

Nước ta lại nằm trong khu vực hoạt động của gió mùa Châu á dẫn đến
khí hậu phân mùa rất rõ trong năm với chế độ mưa mùa và lượng mưa lớn từ
1500 – 2000 mm/năm. Điều kiện này thuận lợi một nền nông nghiệp lúa nước
nhiều vụ quanh năm.
Do nước ta nằm ở phần Đông của bán đảo Trung ấn cho nên có nguồn
tài nguyên biển phong phú. Trước hết biển gây ra mưa nhiều ở phần đất liền,
sưởi ấm những luồng khí lạnh từ phương Bắc xuống, dịu mát những luồng khí
nóng từ xích đạo lên. Cho nên thiên nhiên nhiệt đới nước ta nóng, ẩm, mưa
nhiều và rất khác với thiên nhiên nhiệt đới của nhiều nước nằm trên cùng vĩ
độ (Bắc Phi và Tây á).
Việt Nam còn nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết
mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu và
Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước khác.
Như vậy, vị trí trên đã tạo cho nước ta một số lợi thế quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội.
Về tự nhiên, Việt Nam trở thành nơi gặp gỡ của nhiều luồng di cư
động, thực vật từ Tây Bắc xuống Đông Nam lên, vừa tạo thêm sự giàu có,
phong phú của các loài mà còn cho phép có thể nhập nội, thuần dưỡng các
giống cây trồng, vật nuôi từ nhiều trung tâm sinh thái khác nhau của Thế giới.
Về dân cư, sự tiếp xúc, giao thoa lâu dài giữa cư dân bản địa và cư dân
từ các nước, các khu vực lân cận sẽ góp phần hình thành một cộng đồng dân
tộc Việt Nam nhiều thành phần (54 dân tộc anh em) nhưng thống nhất bởi
một nền văn hóa chung.
13
Về mặt giao thông, vị trí địa lý trên đã tạo điều kiện thuận lợi để Việt
Nam có thể giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua
nhiều tuyến đường (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không.
Trong tương lai nếu dự án tuyến dường xuyên Á mà được thực hiện thì giá trị
của vị trí giao thông chắc chắn sẽ được nâng cao.
c. Việt Nam là nước có tính biển nhất trong số các nước trên bán đảo Đông

biển Hormuz). Biển Đông rất quan trọng đối với nhiều nước trong khu vực
xét về vị trí địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế. Với Mỹ
là tuyến hoạt động chính của Hạm đội 7, có 90% hàng hóa của Mỹ và hàng
hóa đồng minh chuyên chở qua Biển Đông. Với Trung Quốc hàng năm nhập
160 triệu tấn dầu thì 50% dầu nhập và 70% hàng hóa qua Biển Đông. Với
Nhật Bản 70% lượng dầu nhập khẩu và 42% lượng hàng hóa xuất khẩu
chuyên chở qua Biển Đông.
Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên
thiên nhiên, là ngư trường giàu có nuôi sống hàng triệu ngư dân và gia đình từ
bao đời qua, là một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, là nơi
hấp dẫn của các nhà đầu tư và thị trường thế giới.
2.3. Đối với việc củng cố an ninh – quốc phòng
Nước ta nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á
hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua
khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỉ phát triển năng động. Đó là nơi hấp
dẫn các thế lực đế quốc và thù địch bên ngoài muốn bành chướng nhiều tham
vọng và cũng là nơi nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị
thế giới.
Nước ta có đường biên giới trên đất liền và trên biển rất dài, tiếp giáp
với nhiều nước. Trên biển Đông, nước ta tiếp giáp với vùng biển của nhiều
nước và lãnh thổ như: Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Inđônêxia, Brunây,
Malaixia, Campuchia và Thái Lan. Biển Đông lại giàu tài nguyên sinh vật (cá,
tôm, ), thềm lục địa có nhiều tài nguyên khoáng sản (đặc biệt là dầu mỏ), lại
15
án ngữ một trong các đường hằng hải quốc tế quan trọng. Biển Đông có vị trí
vô cùng quan trọng đối với Việt Nam về các mặt chiến lược, kinh tế, an ninh,
quốc phòng, trước mắt cũng như lâu dài.
Để bảo vệ chủ quyền lịch sử của quốc gia và khẳng định chủ quyền đối
với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình trên cơ sở Công ước
Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, nước ta đã giải quyết các vấn đề về

lực lớn về kinh tế, quân sự. Họ tận dụng ưu thế của mình trên biển để đe dọa
chủ quyền vùng biển đảo, thềm lục địa của nước ta, gây ra những nhân tố khó
lường về chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và an ninh đất nước
17
KẾT LUẬN
Nhìn chung, vị trí địa lý đã tạo cho Việt Nam rất nhiều thuận lợi và
đem lại nguồn thu hết sức to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Nhất là các nguồn lợi ích từ biển Đông. Các tiềm năng ấy thật sự
quý giá không phải quốc gia nào cũng có được nhưng điều quan trọng là
chúng ta cần phải biết tận dụng chúng, biến những tiềm năng ấy trở thành
hành trang đưa nền kinh tế sánh vai với các nước trong khu vực và trên Thế
giới. Bên cạnh đó thì nước ta cũng gặp phải một số khó khăn trong phát triển
kinh tế - xã hội như vị trí nằm trong khu vực được coi là nhiều thiên tai nhất
thế giới: nhiều bão, lũ lụt, hạn hán. Cho nên nước ta luôn luôn phải đầu tư lớn
để hạn chế và phòng ngừa những hậu quả của thiên tai. Vị trí địa lý nước ta
không những có ý nghĩa lớn với phát triển kinh tế, xã hội như nêu trên mà còn
có tầm quan trọng lớn trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng của khu vực
Đông Nam Á và Châu Á. Chúng ta luôn luôn phải đề cao cảnh giác với mọi
âm mưu thù địch, muốn gây tổn hại đến an ninh, chính trị cũng như kinh tế -
xã hội của quốc gia mình.
18
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thông (chủ biên) - Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam. Nxb Đại học Sư
Phạm, 2013.
2. Non nước Việt Nam. Trung tâm công nghệ thông tin du lịch, Hà Nội,
2000.
3. Nguyễn Viết Thịnh – Đỗ Thị Minh Đức - Giáo trình Địa lý kinh tế - xã
hội Việt Nam (Phần đại cương). Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011.
4. />5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status