Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế ngày một mang tính toàn cầu
hóa cao độ, sự xóa bỏ dần các hạn chế về ngoại hối đã khéo theo sù chu
chuyển các luồng ngoại tệ ngày càng gia tăng không chỉ về số lượng, tốc độ
mà còn cả về chiều sâu. Những biến động về lãi suất và tỷ giá ngày càng lớn
và khó có thể dự liệu trước được. Hơn thế nữa nền kinh tế thế giới cũng đang
ngày càng tham gia mạnh mẽ vào thương mại và đầu tư quốc tế. Việc quản lý
dự trữ ngoại hối được các nước coi trọng vì mục đích chính của dự trữ ngoại
hối là nhằm tài trợ cho sự mất cân đối của cán cân thanh toán quốc tế và ổn
định tỷ giá. Khi lâm vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, các
quốc gia có thể sử dụng những chính sách kinh tế vĩ mô để điều chỉnh. Tuy
nhiên, tác động của những chính sách này có độ trễ về thời gian.Do vậy, dự
trữ ngoại hối chính là giúp một quốc gia có thể ổn định cán cân thanh toán
cho đến khi các biện pháp điều chỉnh phát huy tác dụng làm cán cân thanh
toán trở lại cân bằng.
Vì vậy, việc NHTƯ duy trì và quản lý một cách tích cực cũng như tăng
cường đa đạng hóa dự trữ ngoại hối đã trở thành một vấn đề nóng bỏng.
Nhiều nước đang cố gắng tìm một cơ chế chính thức, cũng như tính toán nhu
cầu dự trữ ngoại hối của minh và đề ra các mục tiêu cho việc quản lý dự trữ
ngoại hối.
1
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
phần 1 :
Những vấn đề cơ bản về quản lý dự trữ ngoại hối
I Mục đích của quản lý dự trữ ngoại hối
1 Những khái niệm có liên quan đến quản lý dự trữ ngoại hối
1.1 Khái niệm về ngoại hối
Ngoại hối bao gồm tiền nước ngoài,vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có
tác động đến các công cụ chính sách khác và ngược lại, nó cũng có thể bị tác
động bởi các công cụ này.
II. Nội dung cơ bản của Quản lý dự trữ ngoại hối
1. Nguyên tắc QLDTNH
Hầu hết ngân hàng TƯ các nước, đặc biệt là các ngân hàng TƯ của các quốc
gia thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt theo cơ chế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước, đều cho rằng việc duy trì DTNH là hết sức cần thiết vì
nó ngắn với mục tiêu hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng TƯ. Đó là
đảm bảo ổn định đồng tiền trong nước (cả đối nội và đối ngoại); đảm bảo Ýt
nhất là nguồn can thiệp (nguồn can thiệp cuối cùng) để duy trì sự ổn định
ngắn hạn, không gây ra những hẫng hụt nghiêm trọng đến thị trương ngoại
hối, sau đó là đến toàn bộ thị trường tài chính và rộng hơn là đến nền kinh tế.
Tùy điêu kiện, hoàn cảnh riêng và trong từng giai đoạn cụ thể, mỗi ngân hàng
TƯ đều có chính sách và mục tiêu riêng về QLDTNH, tuy nhiên phải dựa trên
ba nguyên tắc cơ bản: an toàn, thanh khoản và sinh lời.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến QLDTNH
2.1 Mức độ linh hoạt của tỷ giá
Những nước theo đuổi chế độ tỷ giá cố định cần nắm giữ một lượng lớn các
DTNH để duy trì tỷ giá ở mức đã định. Nếu DTNH quá mỏng, khả năng ổn
3
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
định tỷ giá của NHTƯ trở nên khó khăn và xảy ra nguy cơ khủng hoảng tài
chính tiền tệ như cuộc khủng hoảng Châu A vừa qua. Những nước theo đuổi
chế độ tỷ giá thả nổi cần một lượng DTNH Ýt hơn. Trên thực tế sau sự sụp đổ
của hệ thống Bretton Wood vào đầu những năm 70, một số nước chuyển sang
chế độ tỷ giá thả nổi nhưng DTNH lại không giảm mạnh như những người
ủng hộ chế độ tỷ giá thả nổi mong đợi. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi
chuyển sang chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi nhu cầu nắm giữ DTNH giảm
khoảng 30% đối với các nước công nghiệp, nhưng đối với các nước đang phát
triển, nhu cầu dự trữ khó có thể giảm.Theo họ mặc dù những nước này theo
3. Các chỉ tiêu đánh giá mức dự trữ ngoại hối của một quốc gia
3.1 Dự trữ quốc tế tính theo tuần hoặc theo tháng nhập khẩu
Đây là cách đo lường truyền thống về lượng dự trữ ngoại hối. Theo đó, mức
dự trữ ngoại hối phù hợp là mức dự trữ đáp ứng được từ 3 đến 4 tháng nhập
khẩu ( hàng hóa và dịch vụ ). Tuy nhiên, tiêu chí này còn nhiều hạn chế bởi
nó chưa tính đến biến động của cán cân thương mại, dịch vụ. Hơn nữa, cán
cân thương mại, dịch vụ chỉ là một bộ phận của cán cân vãng lai do vậy cần
xem xét đến những biến động của cán cân vãng lai trong tương lai. Đặc biệt,
khi sù chu chuyển vốn giữa các nước ngày càng gia tăng và tình trạng đầu cơ
tiền tệ trở thành hiện tượng phổ biến thì tiêu chí này trở nên không còn tin cậy
nữa.
3.2 Tỷ lệ giữa M2 và dự trữ quốc tế
Người thanh tra ngân hàng sử dụng tiêu chí này bởi khi khủng hoảng tỷ giá
hoặc các cơn hoảng loạn tài chính do tù do chu chuyển vốn và đầu cơ tiền tệ
gây ra, tất cả tài sản tiền tệ có tính thanh khoản cao có thể được chuyển đổi ra
ngoại tệ.
3.3 Tỷ lệ giữa nợ ngắn hạn và dự trữ ngoại hối
Nếu như tỷ lệ giữa tổng nợ ngắn hạn và dự trữ ngoại hối quá thấp thì trong
trường hợp xảy ra khủng hoảng về vốn, các ngân hàng không thiện chí cho
gia hạn nợ ngắn hạn, dự trữ ngoại hối sẽ không đủ để thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn chứ không nói là trả được các khoản nợ lãi và gốc đến hạn của các
khoản vay trung và dài hạn trong kỳ đó. Do vậy, vấn đề quan trọng là phải
duy trì dự trữ ngoại hối ở mức phù hợp trong mối liên hệ với nợ nước ngoài
5
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
ngắn hạn. Điển hình như trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á vừa
qua cho thấy đây là cuộc khủng hoảng cán cân vốn chứ không phải khủng
hoảng cán cân vãng lai. Thái Lan đã thu hút một lượng vốn nược ngoài để tài
trợ thâm hụt cán cân vãng lai nhưng cơ cấu tài trợ tỏ ra không hợp lý, vốn
ngắn hạn chiếm khoảng trên 30% tổng luồng vốn vào và ra vì vậy rủi ro của
tiền trong cơ cấu dự trữ ), các ngân hàng thương mại được các tổ chức chuyên
xếp hạng quốc tế đánh giá là có độ tín nhiệm cao trên thị trường quốc tế.
2.2 Cơ cấu dự trữ ngoại hối
Cần lựa chọn một cơ cấu hợp lý cho mỗi thời kỳ. Để có được một cơ cấu
DTNH hợp lý, phải tính tới các nhân tố như phương thức thương mại và
thanh toán, đặc biệt là tính đến tỷ trọng của các loại ngoại tệ được sử dung
trong thanh toán và trả nợ nước ngoài, xu hướng biến động của các loại đồng
tiền chủ chốt. Phân tích cho cùng thì dự trữ ngoại hối được sử dụng để thanh
toán nhập khẩu. Do vậy, phân chia cơ cấu các đồng tiền trong dự trữ ngoại hối
cần phải được thực hiện sao cho có khả năng bảo vệ được sức mua thực tế của
các đồng tiền đó.
Ngoài ra, hiện nay các NHTƯ còn rất “nhạy cảm” với các chỉ số ngoại hối,
chính sách tỷ giá, chính sách QLDTNH của các NHTƯ khác nhất là việc mua,
bán, can thiệp vào thị trường của các ngân hàng TƯ lớn, vì đó cũng là các
nhân tố gây ảnh hưởng tới việc lựa chọn cơ cấu dự trữ ngoại hối của các
NHTƯ.
Việc QLDTNH có liên quan đến rủi ro tỷ giá đối với đồng bản tệ, cho nên đa
dạng hóa cao độ các đồng tiền, gồm các đồng tiền chủ chốt trên thế gới là hết
sức cần thiết. Hiện nay, DTNH của các nước đều bao gồm: USD, YÊN, GBP,
EURO trong đó đồng USD luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất vì tình thống trị và
tính ưu việt của nó.
Theo kinh nghiệm của NHTƯ các nước, đÓ xác định được cơ cấu DTNH hợp
lý chỉ nên đưa ra khung cho phép tỷ lệ mục tiêu hơn là Ên định tỷ lệ phần
trăm một cách cứng nhắc. Phương thức này sẽ tạo ra sù linh hoạt trong thưc
hiện cũng như trong quản lý DTNH và tránh được tình trạng luôn phải điều
chỉnh quá nhiều. Quan điểm chung khác cần chú trọng và nhấn mạnh, đó là:
“sẽ là không khôn ngoan nếu người ta bỏ tất cả trứng vào trong một cái rổ”
7
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
3.3 Lựa chọn các công cụ đầu tư.
-Dự trữ ngoại hối được quản lý theo nguyên tắc: bảo toàn dự trữ; đảm bảo khả
nắng sẵng sàng thanh toán, đáp ứng nhu cầu khi cần thiết; sinh lời qua các
nghiệp vụ đầu tư.
-Dự trữ ngoại hối nhà nước được lập thành hai qũy: Qũy dự trữ ngoại hối và
qũy bình ổn tỷ giá và giá vàng.
2. Thẩm quyền quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước
a. Thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
-Mức dự trữ ngoại hối Nhà nước dự kiến hàng năm do Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước trình
-Hạn mức ngoại hối của qũy bình ổn tỷ giá và giá vàng
-Điều chuyển từ qũy dự trữ ngoại hối sang qũy bình ổn tỷ giá và giá vàng theo
đề nghị của Thống đốc Ngân hàng nhà nước.
9
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
-Tạm ứng từ qũy DTNH cho ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu đột
xuất, cấp bách của nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình
-Các hình thức, nghiệp vụ đầu tư dự trữ ngoại hối mới.
b. Thẩm quyền của Thống đốc Ngân hàng.
-Ban hành quyết định thực hiện việc trích tạm ứng từ QDTNH cho ngân sách
ngoại hối nhà nước theo quyệt định của Thủ tướng Chính phủ.
-Quyết định việc xuất nhập khẩu vàng theo tiêu chuẩn quốc tế thuộc DTNH
nhà nước.
-Quyết định phương án can thiệp thị trường ngoại hối trong nước.
-Quyết định cơ cấu của qũy DTNH.
-Quyết định tiêu chuẩn, hạn mức đầu tư DTNH nhà nước.
-Duyệt và ký trình các cấp có thẩm quyền.
c.Thẩm quyền của Trưởng ban điều hành.
-Quyết định cơ cấu của qũy bình ổn tỷ giá và giá vàng.
-Quyết định cơ cấu của QDTNH trong từng thời kỳ theo ủy quyền của Thống
đốc Ngân hàng nhà nước.
khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước”. Như vậy,
định nghĩa DTNH của Việt Nam đồng nghĩa với định nghĩa của IMF. Tuy
nhiên, Luật NHNN chưa nói rõ NHTƯ có thể sử dụng tài sản dự trữ bất cứ
khi nào, mà lại quy định viếc sử dụng DTNHNN theo quy đinh của chính
phủ. Điều 3 của Nghị định 86 quy định rằng DTNHNN được hình thành từ
các nguồn: Ngoại hối hiện có thuộc sở hữu nhà nước do NHNN quản lý;
ngoại hối mua từ NSNN và mua từ thị trường ngoại tệ và thị trường vàng
trong nước; ngoại hối từ các khoản vay ngân hàng và các tổ chức tài chính
quốc tế; vàng tiêu chuẩn quốc tế; ngoại hối từ các nguồn khác. Trên thực tế,
NHTƯ nắm giữ một lượng tài sản Có nước ngoài bao gồm tiền mặt ngoại tệ,
SDR, vàng tiền tệ và dưới các hình thức khác, trong đó có những tài sản do
NHTƯ sở hữu và những nguồn ngoại tệ không do NHTƯ sở hữu mà chỉ để
kiểm soát, nó được hình thành từ các nguồn như tiÒn gửi của Chính phủ và
ngoại tệ và tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức tín dụng tại NHTƯ, và gần đây
còn bao gồm ngoại tệ theo các thỏa thuận hoán đổi với các NHTM. Trước
11
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
đây, lượng ngoại tệ này thường được tình toán trong dự trữ quốc tế của Việt
Nam. Trên thực tế, do không thuộc sở hữu của mình, việc sử dụng những
nguồn ngoại tệ này như một tài sản DTNH được tài trợ cho những mất cân
đối trong cán cân thanh toán và can thiệp vào thị trường ngọai hối, bình ổn tỷ
giá còn nhiều hạn chế. Có thể vì lý do đó mà trong một số năm gần đây, như
IMF trình bày, khi tính toán DTNH cần loại bỏ những khoản ngoại tệ này để
thực hiện đúng bản chất của tài sản DTNH là NHTƯ có thể sử dụng bất cứ
lúc nào. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam được nâng dần trong các năm và nếu
tính theo tuần nhập khẩu thì trong 2 năm 1999 và 2000, DTNT của Việt Nam
đã đảm bảo được 12 tuần nhập khẩu. Một mức dự trữ được cho là tương đối
an toàn. Trong hai năm 2000 và 2001, tổng dự trữ ngoại hối quốc gia tăng
nhanh. Quỹ DTNH năm 2001 là 3601 triệu USD tăng 18,84% so với năm
2000. Đây là kết quả của chính sách nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng của
cũng như tăng dự trữ quốc tế
Tình hình dự trữ ngoại hối của Việt Nam từ 1993-2006
Đơn vị tính: triệu
USD
199
3
199
4
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 200
2
200
3
200
4
200
5
200
6
Tổng dự trữ
ngoại hối
404 876 1376 1798 2260 1350 2711 3030 3601 397
1
455
7
510
1
569
2
634
1
3. Tình hình các hoạt động mua bán ngoại tệ của NHNN
Thị trường liên ngân hàng đã được NHNN vận hành một cách linh hoạt và
tương đối hiệu quả trong thời gian qua. NHNN đóng vai trò là người mua bán
cuối cùng, sẵn sàng can thiệp trên thị trường để hình thành tỷ giá hợp lý theo
mục tiêu của chính sách tiền tệ. Ngoài việc mua bán can thiệp trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng, NHNN còn mua bán ngoại tệ trực tiếp theo nhiệm vụ
được giao, như mua ngoại tệ từ xuất khẩu dầu thô, bán ngoại tệ cho bộ tài
chính để đáp ứng nhu cầu chiến lược quốc gia, bán ngoại tệ cho một số
NHTM để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu xăng dầu… Đặc biệt là, NHNN
còn thực hiện quản lý có hiệu quả quỹ dự trữ ngoại hối và vàng của quốc gia,
quỹ bình ổn thị trường ngoại hối. Theo ước tính của quỹ dự trữ ngoại hối đến
nay đã đạt 4,5 tỷ USD, tương đương khoảng 10 tuần nhập khẩu.
14
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
Với các chính sách quản lý ngoại hối như trên, các luồng ngoại tệ thu hút vào
và chu chuyển qua hệ thống ngân hàng Việt Nam ổn định và không ngừng
tăng lên trong các năm qua, quỹ dự trữ ngoại hối được tăng cường, nguồn
kiều hối được tăng nhanh
4. Một số điểm còn hạn chế trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối
-Về việc đánh giá tồn Qũy dự trữ ngoại hối hối: Hiện nay, quỹdự trữ được xác
định theo tuần nhập khẩu. Nói cách khác nguồn ngoại hối dự trữ chỉ dừng lại
ở mức sẵn sàng thỏa mãn các nhu cầu ngoại tệ để cân bằng cán cân thương
mại. Điều này chỉ phù hợp khi Việt Nam thường xuyên ở tình trạng thâm hụt
cán cân thương mại và dịch vụ. Trong tương lai, cách tính này không an toàn
do nó không bao quát hết nhu cầu ngoại tệ quốc gia
-Về vấn đề thu hút nguồn kiều hối: Nguồn kiều hối về Việt Nam thông
thường qua hai cách. Cách công khai, hợp pháp là chuyển qua ngân hàng.
Cách thứ hai không công khai, không thông qua ngân hàng, thường hay gọi là
“kiều hối chui”. Cách này thực hiện chủ yếu bằng tiền mặt USD là do Việt
kiều mang trực tiếp về, bao gồm số kiều hối thu gom ở nước ngoài, người
mở cửa nền kinh tế thời gian ân hạn của một số khoản vay đã hết thời gian trả
nợ đến gần, khoản lãi và nợ gốc của các doanh nghiệp đầu tư trược tiếp nước
ngoài đã đến kỳ thanh toán, nhu cầu chuyển vốn ra nước ngoái kinh doanh
của các doanh nghhiệp Việt Nam đang có xu hướng ngày càng tăng. . . Đây là
những nhu cầu ngoại tệ chính đang cần được thỏa mãn. Nói cách khác, để
tránh tình trạng căng thẳng về ngoại tệ trong tương lai, NHNN cần phải thay
đổi cách tính luồng ngoại tệ dự trữ bằng cách cộng thêm khoản dự phòng cho
các nhu cầu ngoại tệ phát sinh từ cán cân vốn. Đồng thời gia tăng nguồn ngoại
hối cho mục tiêu ổn định tỷ giá khi thị trường tài chính trong nước và quốc tế
biến động.
6. Bài học kinh nghiệm rót ra
Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế từ năm 1991. Do đó nền kinh tế còn rất
nhiều yếu kém, chưa thể đối đầu với các nước lớn. Chúng ta vẫn còn đang
phải nhờ sự giúp đỡ tài trợ từ các nước phát triển, các tổ chức kinh tế thế giới.
Tuy nhiên theo kinh nghiệm cho thấy một nước nhỏ không thể dựa hoàn toàn
vào nguồn tài trợ từ bên ngoài để bù đắp cán cân thâm hụt tổng thể đồng thời
16
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
cũng không thể dễ dàng tiếp cận vốn từ thị trường tiền tệ và thị trường vốn
quốc tế và rất dễ bị loại khỏi các thị trường này vì những lý do chính trị, xã
hội. Để đảm bảo có mức dự trữ phù hợp, Việt Nam phải có tài sản dự trữ của
riêng mình mà không phải là tài sản đi vay.
-Khi cán cân thanh toán thâm hụt, một nước có thể sử dụng dự trữ ngoại tệ
của nước mình nhưng cũng có thể đi vay các tổ chức quốc tế như IMF. Tuy
nhiên, những khoản tín dụng của IMF có thể hạn chế nhưng không thể tránh
khỏi điều chỉnh cán cân thanh toán bắng các chính sách kinh tế vĩ mô phù
hợp.
-Một nức dự trữ phù hợp (an toàn) là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ nước nào
muốn dựa vào nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế của mình. Như vậy,
một nước phải có nguồn dự trữ quốc tế từ khả năng sản xuất của chính nền
ví thế trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta mới đủ sức đáp ứng nhu cầu
ngoại hối của nền kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động QLDTNH của chúng t a mới
bắt đầu có những bước khởi sắc nên không tráng khỏi những hạn chế không
nên có. Nhưng chúng ta đã và đang cố gắng khắc phục những khuyết điểm để
hoàn thiện hơn nữa chính sách quản lý dự trữ ngoại hối, đồng thời nhận thức
đúng đắn vai trò hết sức quan trọng của công tác này.
18
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tài liệu giảng dạy môn nghiệp vụ ngân hàng trung ương.
2. Tạp chí ngân hàng số 11 năm 2001.
3. Tạp chí ngân hàng số 8 năm 2002.
4. Tạp chí ngân hàng số 11 năm 2002.
5. Tạp chí ngân hàng số 1+2 năm 2003.
6. Tạp chí ngân hàng số 13 năm 2003.
7. Tạp chí ngân hàng số chuyên đề.
8.Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng sè 1+2 năm 2003
19
Đỗ Thị Thu Hiền - lớp 4031 Tiểu luận ngân hàng trung ương
.
20