TRƯỜNG ĐẠI HỌ C KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌ C
@@@
Môn
:
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
THÂM HỤT CÁN CÂN VÃNG LAI
Khóa
: 18
GVHD : TS.
T
r
ươ
n g
Q uang Thông TP.H
Ồ
CHÍ MINH - 04
/
2010
2.3Cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối Việt Nam 8
a. Cán cân thanh toán của Việt Nam 8
b.Dự trữ ngoại hối của Việt Nam 11
2.4Nguyên nhân và giải pháp đối với thâm hụt tài khoản vãng lai 12
a.Đầu tư tăng cao
12
b.Mức tiết kiệm thấp
14
c.Thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai
14
d.Gợi y về giải pháp 15 1.Cơ sở lý luận về cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối
1.1Cán cân vãng lai:
Còn gọi là tài khoản vãng lai, ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư
trú trong nước với người cư trú ngoài nước về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập của người lao động,
thu nhập từ đầu tư trực tiếp, thu nhập từ đầu tư vào giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nước
ngoài, chuyển giao vãng lai một chiều và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật.
Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước
được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao
dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi
vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên
n
ợ
.Cán cân vãng lai bao gồm:
Là số tiền chi trả thuần tiền lãi và lợi tức cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như số
tiền thu và chi từ du lịch quốc tế và các giao dịch khác.
Cán cân dịch vụ phản ánh toàn bộ kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ. Trong thống kê cán cân
thanh toán quốc tế, IMF phân dịch vụ thành 11 loại lớn, bao gồm: Vận tải; du lịch; dịch vụ bưu
điện và đưa tin; dịch vụ xây dựng; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ tài chính; dịch vụ tin học và máy
tính; phí bản quyền và cấp giấy phép; dịch vụ kinh doanh khác; dịch vụ văn hoá và giải trí cá
nhân; dịch vụ Chính phủ. c.Cán cân thu
nh
ậ
p
Thu nhập có được từ nhiều hoạt động khác nhau, nhưng trong thống kê cán cân thanh toán quốc
tế, thu nhập được phân thành hai loại: thu nhập từ lao động và thu nhập từ đầu tư.
Thu nhập từ lao động (có được do cung cấp sức lao động): Là các khoản tiền lương, tiền thưởng
và các khoản thu
nh
ậ
p
khác
bằng tiền, hiện vật do người không cư trú trả cho người cư trú và
ngược lại.
phần của khoản tài trợ có mục đích đầu tư thì không được phản ánh tại tiểu mục chuyển giao
vãng lai một chiều mà được hạch toán vào cán cân vốn và tài chính. e.Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân vãng lai
Khi phân tích các yếu tố tác động đến cán cân vãng lai, chúng ta dựa trên nguyên tắc cetaris
paribus. Nghĩa là, nghiên cứu tác động của một nhóm nhân tố thì ta cố định các nhân tố khác.
Do cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia có thể ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế của
quốc gia đó, việc xác định và điều phối các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân vãng lai rất quan
trọng. Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là:
Ảnh hưởng của lạm phát. Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng so với các quốc gia
khác có quan hệ mậu dịch, thì cán cân vãng lai của quốc gia này sẽ giảm nếu các yếu khác bằng
nhau.
Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân. Nếu thu nhập của một quốc gia tăng theo một tỷ lệ
cao hơn tỷ lệ tăng của các quốc gia khác, tài khoản vãng lai của quốc gia đó sẽ giảm nếu các
yếu tố khác bằng nhau.
Ả
nh
hưởng của tỷ giá hối đoái. Nếu đồng tiền của một nước bắt đầu tăng giá so với đồng
tiền của các nước
khác,
tài
khoản vãng lai của nước đó sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng nhau.
Hàng hóa xuất khẩu từ nước này sẽ trở nên mắc hơn đối với các nước nhập khẩu nếu đồng tiền
của họ mạnh. Kết quả là nhu cầu các hàng hóa đó sẽ giảm.
Ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế của chính phủ. Nếu chính phủ của một quốc gia
đánh thuế trên hàng nhập khẩu, giá của hàng nước ngoài đối với người tiêu dùng tăng trên thực
ạ
i h
ố
i
- Tiền mặt
- Số dư của tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
- Hối phiếu, trái phiếu hoặc các giấy tờ ghi nợ khác của chính phủ nước ngoài, ngân hàng nước
ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
- Vàng
- Các loại ngoại hối khác 2
Tiêu chí
đ
ánh
giá quy mô
d
ự
trữ
Có ba tiêu chí chính:
- Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và giá trị một tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo
Nói cách khác, quy mô dự trữ ngoại hối được tính bằng số tuần nhập khẩu. Tiêu chí này cho
- Dự trữ ngoại hối
Về nguyên tắc, cán cân thanh toán luôn phải luôn ở trong trạng thái cân bằng. Nếu ở đâu đó có
nhắc tới thặng dư cán cân thanh toán, thì đó là nhắc tới chênh lệch giữa Tài khoản vãng lai và
Tài khoản vốn (hạng mục sai số, thường nhỏ). Và nếu có thặng dư giữa tài khoản vãng lai và tài
khoản vốn thì lúc đó vai trò của dự trữ ngoại hối sẽ phát huy tác dụng. Nếu Tài khoản vãng lai
bị thâm hụt, và số dư trên Tài khoản vốn không đủ để đáp ứng cho thâm hụt tài khoản vãng lai,
thì nhà nước phải sử dụng tới nguồn dự trữ ngoại hối. Trong cán cân thanh toán, khi nhà nước
sử dụng Dự trữ ngoại hối. Mặc dù điều này làm giảm dự trữ ngoại hối, nhưng bút toán trên cán
cân thanh toán sẽ mang dấu dương, do đây là nguồn tiền từ
dự
trữ
ngoại hối đưa vào cán cân
thanh toán. Ngược lại, khi tài khoản vãng lai có thặng dư lớn, làm tăng dự trữ ngoại hối, thì bút
toán trên cán cân thanh toán sẽ mang dấu âm (do tiền được rút ra khỏi cán cân thanh toán và
đưa vào dự trữ ngoại hối). 2.Thâm hụt cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối của Việt Nam
2.1 Tình hình nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam
Việt Nam là một nước nhập siêu truyền thống. Trừ năm 1992 có mức xuất siêu 40 triệu USD;
thì Việt Nam chưa
bao
gi
ờT
ỷ
U
S
D
Tình hình
nh
ậ
p
siêu của
Vi
ệ
t
Nam
t
ừ
1996
đế
n 200920
khoản vãng lai nên với tình hình nhập siêu như
trên
đã
khiến cho tài khoản vãng lai của Việt
Nam có mức thâm hụt cao trong khi các nước khác trong khu vực lại có thặng dư. Hình 1 là
biểu đồ tình hình tài khoản vãng lai của các nước trong khu vực châu Á. Ngoại trừ Ấn độ là
cũng có thâm hụt tài khoản vãng lai, Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN có thâm
hụt tài khoản vãng lai. Nhưng
k
ể
c
ả so với Ấn độ, thì về mặt tương đối mức độ thâm hụt của
Việt Nam là quá lớn, lên tới khoảng 10% của GDP so với khoảng 2% của Ấn độ. So với các
nước láng giềng trong khu vực như Thái Lan, Phillipine, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, thì
tình hình tài khoản vãng lai của Việt Nam là rất đáng lo ngại. Hầu hết các nước trong khu vực
đều có thặng dư tài khoản vãng lai, trong khi đó Việt Nam lại thâm hụt tài khoản vãng lai. Theo
số liệu của báo cáo của Meril Lynch cho thấy, tính theo tỷ lệ phần trăm của GDP, thì các nước
đều có tỷ lệ thặng dư trên GDP khá lớn, Thái Lan là hơn 5% và Malaysia là hơn 10%. Bức tranh
ở Việt Nam lại hoàn toàn ngược lại, mức độ thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam trong
năm 2007 lên tới gần 10%.
Hình 1. Tài
kho
ả
n
vãng lai của các nước khu vực châu Á (% của GDP)
n
ă
m
cho nền kinh tế. Nếu so với Thái Lan trước khủng hoảng, thâm hụt tài khoản vãng lai của nước
này vào năm 1995-1996 là khoảng 8%.
Hì
n
h
2. Tài
k
h
o
ả
n
vã
n
g
l
ai
c
ác
t
) N
gu
ồn:
B
á
o
c
t Nam theo tháng Đơn v
ị
:
T
ỷ
US
D
N
gu
ồn:
B
vãng lai tốt hay xấu?
Đã có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề nhập siêu. Có thể tóm tắt là: nhập siêu tự nó không tốt
cũng không xấu. Thâm hụt tài khoản vãng lai chỉ xấu khi thâm hụt quá lớn và dẫn tới khủng
hoảng cán cân thanh toán, mất giá đồng tiền.
“X
ấ
u”
và
“tốt” của nhập siêu tùy thuộc vào nội
dung nội tại của nhập siêu cũng như những bối cảnh cụ thể, chính sách cụ thể, tình hình tăng
trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô cụ thể. Vì vậy, cần phân tích những nguyên nhân xác thực của
5
nhập siêu để có kết luận thỏa đáng và từ đó, nếu thấy cần thiết thì tìm giải pháp cho những tình
huống cụ thể.
Tuy nhiên, dường như có một quan niệm phổ biến (không chỉ ở Việt Nam) là nhập siêu và thâm
hụt tài khoản vãng lai là không tốt và thể hiện một nền kinh tế yếu kém và ngược lại xuất siêu
và có thặng dư trên tài khoản vãng lai, thì quan niệm này cho rằng thặng dư thương mại là điều
tốt và thể hiện một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt. Mặc dù trong một số ít trường hợp,
quan niệm như trên không phải là không đúng, nhưng theo lý thuyết kinh tế thì không hẳn là
như vậy.
một
d
ấ
u
hiệu nghiêm trọng
nào.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thì thâm hụt thương mại (nhập siêu) và hệ quả là thâm hụt
tài khoản vãng lai thực sự gây ra nhiều vấn đề cho một số nước. Nhiều nước đã lâm vào khủng
hoảng (khủng hoảng nợ, khủng hoảng đồng tiền) sau khi có mức thâm hụt thương mại lớn,
thường xuyên và lâu dài. Điển hình là cuộc khủng hoảng Châu Á những năm 1997-1998.
2.2 Nguy cơ khủng hoảng của thâm hụt tài khoản vãng lai
Thâm hụt thương mại và thâm hụt tài khoản vãng lai thường được hiểu là nhập khẩu nhiều hơn
xuất khẩu, và tiêu dùng trong nước nhiều hơn khả năng sản xuất. Làm thế nào để một quốc gia
có thể duy trì thâm hụt thương mại và thâm hụt tài khoản vãng lai? Tương tự như ở một hộ gia
đình, để có thể tiêu dùng nhiều hơn thu nhập, một gia đình sẽ có hai cách để có tiền trang trải
cho tiêu dùng cao hơn thu nhập của mình. Đó là: (i) đi vay; và (ii) bán tài sản. Ở cấp quốc gia,
khi có thâm hụt thương mại và thâm hụt tài khoản vãng lai, thì để có tiền (ngoại tệ) trả cho các
khoản nhập khẩu và thâm hụt này, cần có dòng vốn chảy vào (FDI, đầu tư gián tiếp, vay ngắn
hạn, dài hạn, kiều hối, ODA). Nên thông thường, thâm hụt thương mại (và tài khoản vãng lai)
thường đi cùng với thặng dư trên tài khoản vốn. Nếu không có thặng dư trên tài khoản vốn
(tương tự như cấp ở hộ gia đình là không vay đủ tiền), thì nước nhập siêu buộc phải sử dụng
đến dự
trữ
ngo
ạ
n
của Vi
ệ
t Nam trong những
n
ă
m
qua
Đơn vị: Triệu USD
Về cơ bản thâm hụt tài khoản vãng lai có thể được hiểu là một khoản vay mà các nhà đầu tư
nước ngoài cho chính phủ và người tiêu dùng của một nước khác vay để thanh toán cho việc
tiêu dùng quá mức. Thông thường điều này sẽ
không
có
vấn đề gì nếu như khoản thâm hụt nhỏ.
Nhưng nếu khoản thâm hụt này là lớn, đến một mức độ hoặc đến một thời điểm nào đó, các nhà
đầu tư sẽ mất lòng tin vào việc là họ sẽ thu lại được khoản đầu tư/ khoản đã cho vay, và khi đã
mất
lòng
tin,
rất có thể sẽ xảy ra đổ vỡ, do tất cả các nhà đầu tư sẽ bán tháo và tìm cách rút tiền
ra để tránh mất thêm tiền. Tuy nhiên, không ai có thể dự đoán được một cách chính xác là khi
nào thì lòng tin sẽ bị khủng hoảng! Trong điều kiện của Việt Nam, có hàng loạt các báo cáo của
nước ngoài đưa ra các cảnh báo về mức độ nghiêm trọng của mức độ thâm hụt của tài khoản
vãng lai của Việt Nam. Điều này có nghĩa là gì? Ở một mức độ nào đó, so với các nước khác thì
mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam là quá lớn, và ở một khía cạnh khác, Chính phủ
cần có những biện pháp để cải thiện tài khoản vãng lai, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư.
7
Hình 5:Diễn biến tài khoản vãng lai của Việt Nam và một số nước giai đoạn 1980-2014
Cán cân tài khoản vãng lai chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hóa (thâm hụt 12.3 tỷ
đôla M ỹ năm 2008) và cán cân chuyển khoản (7,3 tỷ đôla Mỹ), còn dịch vụ và thu nhập thì
tương đối nhỏ trong tổng cán cân vãng lai (mức tương ứng là 2,3 tỷ đôla Mỹ và 2,0 tỷ đôla Mỹ)
(xem hình 6). Chuyển khoản giảm mạnh trong năm 2008, một phần là do khủng hoảng tài chính
toàn cầu, làm cho kiều hối giảm xuống. Cán cân thu nhập phản ánh việc chuyển lợi nhuận từ
hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và thông thường mục này ở trạng thái thâm hụt, mặc
dù mức thâm hụt này đang tăng lên do tổng lượng vớn đầu tư vào Việt Nam tăng lên qua các
Tài khoản vốn ở Việt Nam thông thường có mức thặng dư nhờ luồng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) chảy vào khá lớn, đạt đỉnh là 7,8 tỷ đôla trong năm 2008. Do đầu tư trên thế giới
nói chung đều giảm, FDI dự kiến chỉ đạt được ½ mức nói trên trong năm 2009 (xem biều đồ 7).
Việt Nam tiếp cận với vốn vay nợ ngắn hạn, dưới hình thức đầu tư gián tiếp, có xu hướng tăng
lên (mặc dù biến động khá lớn). Tuy nhiên, dự báo cả năm tài khoản tài chính sẽ thặng dư mặc
dù tài khoản vãng lai thì vẫn lớn hơn khoản thặng dư này, dự trữ sẽ giảm đi 2,3 tỷ đôla Mỹ
trong năm 2009 (xem bảng 1).
Hình 7: Diễn biến tài khoản vốn của Việt Nam Mặc dù dự trữ giảm xuống, tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam vẫn không bị coi là trầm
trọng bởi 1 số lý do. Thứ nhất, nghĩa vụ nợ ngắn hạn của Việt Nam có thể được thực hiện. Mức
dự trữ hiện nay cao hơn so với nhiều năm trước đây đồng thời nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn tương
đối nhỏ, vì vậy xét về ngắn và trung hạn nhu cầu đối với dự trữ quốc tế không lớn. Dự trữ hiện
nay lớn hơn so với giai đoạn 2002 – 2006 (Xem hình 8), đủ lớn để đảm bảo thanh toán 3 tháng
nhập khẩu của năm kế tiếp. Mất cân đối thương mại của Việt Nam cũng đang có những dấu
hiệu được cải thiện trong năm 2009.
Hình 8: Diễn biến dự trữ quốc tế của Việt Nam, 2000-09 9
ự
tr
ữ
ngo
ạ
i h
ố
i
của
Vi
ệ
t
Nam
Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2009 và nhiệm vụ năm 2010, dự
trữ ngoại hối của Việt nam hiện duy trì ở mức đảm bảo tương đương với 12 tuần nhập khẩu.
Cụ thể, hiện dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là khoảng hơn 16 nghìn tỷ USD trong khi con số
chính thức được công bố tại thời điểm tháng 6/2008 là gần 21 nghìn tỷ USD. Giảm tới 23.5%.
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm 2000 là khoảng hơn 2 tỷ USD, và đã lên tới 12 tỉ USD năm
2006. Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam vào tháng 06/2008 là 20,7 tỉ USD. Theo quy định thì con
số này không được cung cấp, nhưng Thống đốc NHNN đã xin phép và được Thủ tướng chấp
thuận cho công bố. Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, dự trữ ngoại hối giảm được đánh giá
là một hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2009.
Báo cáo của Chính phủ cũng đánh giá rằng, trong thời gian qua, “việc điều hành tỷ giá và thị
trường ngoại hối
chưa