Tiểu luận quản trị ngân hàng: Những thay đổi lớn trong khung pháp lý điều chỉnh hoạt động ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2005 2009 - Pdf 14


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC

BỘ MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG

Tiểu luận:

NHỮNG THAY ĐỔI LỚN TRONG KHUNG PHÁP LÝ
ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2005 - 2009 GVHD: TS TRƯƠNG QUANG THÔNG TPHCM, tháng 4 năm 2010

biến động đó, duy trì sự phát triển ổn định, Chính phủ đã ban hành, thực thi nhiều biện pháp, chính
sách thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô, trong đó quan trọng nhất là chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ. Nếu đặt câu hỏi, dấu ấn điều hành của Chính phủ trong giai đoạn 2005 – 2009 thể hiện
rõ nhất trên phương diện nào hầu như mọi người sẽ cùng câu trả lời là: trên phương diện chính sách
tiền tệ, cụ thể hơn là điều hành hoạt động của ngành ngân hàng trong nước. Đó là cơ sở để chúng tôi
thực hiện bài tiểu luận với đề tài: “NHỮNG THAY ĐỔI LỚN TRONG KHUNG PHÁP LÝ
ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
2005 – 2009”.
Với đề tài này, chúng tôi sẽ phân tích theo trình tự thời gian, chia khoảng thời gian từ 2005 đến
2009 thành nhiều giai đoạn nhỏ. Hướng phân tích bắt đầu bằng những đặc điểm lớn của kinh tế - xã
hội của từng giai đoạn, các mục tiêu vĩ mô và những chính sách, giải pháp điều hành, điều chỉnh
hoạt động của ngành ngân hành đề phù hợp với tình hình vĩ mô và mục tiêu vĩ mô trong giai đoạn
đó. Về nội dung phân tích, chúng tôi xác định “khung pháp lý” mang nghĩa rộng, bao hàm các quy
định của luật, các văn bản dưới luật (Nghị định, Thông tư) và các chính sách, giải pháp, văn bản
(quyết định, chỉ thị) của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước nhằm điều hành hoạt động của ngành
ngân hàng trong nước. Việt Nam đã ban hành Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi,
bổ sung Luật các tổ chức tín dụng năm 2004. Tuy nhiên, Luật được xây dựng trên quan điểm chỉ
quy định những nội dung chủ yếu, bao quát, những quy định cụ thể do Chính phủ, Ngân hàng Nhà
nước hướng dẫn. Trong giai đoạn chỉ 5 năm từ 2005 – 2009 thì không có nhiều điều chỉnh các văn
bản mang tính quy phạm pháp luật như Luật, Nghị định. Do đó, “khung pháp lý” cần được hiểu
theo nghĩa rộng như trên để có thể thấy được sâu sát hơn những điều chỉnh trong hoạt động của
ngành ngân hàng.

4

NỘI DUNG


Một chính sách nhằm giải quyết cuộc chạy đua thành lập ngân hàng mới trong giai đoạn này đó là
quy chế thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần được NHNN ban hành trong năm
2007, quy định những điều kiện cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và cả… tình trạng rao bán cổ
phiếu ngân hàng chưa thành lập nở rộ trước đó.
Dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán cũng đã được NHNN triển khai. Các NHTM
mở rộng mạng lưới phân phối, phát triển sản phẩm mới nhất là sản phẩm ngân hàng điện tử, gần
500 máy ATM được lắp đặt, số lượng thẻ tăng mạnh. Dịch vụ thanh toán thẻ qua hệ thống ATM

5

ngày càng mở rộng, như: nộp phí bo hiểm, tiền điện, nước, cước phí điện thoại, Mạng Bank Net
gồm 11 ngân hàng thương mại thành viên dự kiến sẽ kết nối trong năm 2006.
Bên cạnh việc mở rộng về quy mô, đa dạng hóa dịch vụ, cải thiện chất lượng thì vấn đề kiểm soát
an toàn cũng có những sự điều chỉnh phù hợp. Năm 2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành Quyết định 493 về phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro phù hợp với thông lệ quốc
tế. Các ngân hàng thương mại triển khai nghiêm túc việc quản lý và đánh giá chất lượng tín dụng
theo quy chế mới.
Môi trường pháp lý trong hoạt động tiền tệ - ngân hàng ngày càng được hoàn thiện là cần thiết để
nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng, nhằm chuẩn bị cho hội nhập. Chính phủ ban hành Nghị
định số 74/2005/NĐ - CP về phòng, chống rửa tiền. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày
1/8/2005; Nghị định số 109/2005/NĐ - CP sửa đổi, bổ sung một số điều về quy định bảo hiểm tiền
gửi. Theo đó, mức tiền gửi được bảo hiểm nâng từ 30 triệu đồng lên 50 triệu đồng. Tại phiên họp
thứ 35, Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua Pháp lệnh ngoại hối, có hiệu lực từ ngày
1/6/2006. Pháp lệnh được đánh giá là thống nhất các hoạt động ngoại hối, hướng tới một thị trường
ngoại hối mở, tự do hoá và minh bạch.
Để cải thiện công tác quản trị tại các ngân hàng, Chính phủ đã cho phép triển khai thí điểm cổ phần
hóa là ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (quyết định 230/2005/ QĐ-TTG ngày 21/09/2005 về
việc thí điểm cổ phần hóa ngân hàng Ngọai Thương Việt Nam) và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng
bằng sông Cửu Long (quyết định 266/2005/ QĐ-TTG ngày 27/10/2005 về viêc thí điểm cổ phần
hóa ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long). Đây là bước đi phù hợp và là xu thế tất

chủ yếu vào loại hình lãi suất này. Hiệp hội Ngân hàng, với vai trò trung gian, đã nhiều lần lên tiếng
về sự phá rào thỏa thuận của một số ngân hàng, kể cả ngân hàng quốc doanh. Thậm chí Hiệp hội đã
từng lên kế hoạch để các ngân hàng ngồi lại với nhau nhưng không thành công.
Vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên các mức lãi suất chủ đạo.
Các ngân hàng, đặc biệt là khối cổ phần, vẫn tăng lãi huy động VND và phải tăng lãi cho vay đầu
ra: lãi suất huy động vốn tại các NHTM tăng bình quân từ 0,025% đến 0,032%/tháng với kỳ hạn 6
tháng và 0,031% đến 0,034%/tháng kỳ hạn 12 tháng.
Ngày 18/01/2006, ban hành Quyết định 03/2006/QĐ-NHNN về việc kinh doanh vàng trên tài
khoản nước ngoài. Quyết định này giải quyết được 2 vấn đề. Thứ nhất, nó tạo điều kiện cho các
ngân hàng được phép kinh doanh vàng giao dịch vàng trên thị trường thế giới. Thứ hai, nó giúp các
ngân hàng có thêm nguồn cung tiền đồng để cho vay (các ngân hàng bán vàng vật chất trong nước
và mua lại vàng trên tài khoản để bảo hiểm rủi ro về giá).
Với cột mốc Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào tháng 11/2006, dòng vốn nước ngoài (FDI,
FII) đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều. Đồng thời, lượng kiều hối chuyển về nước cũng tăng cao.
NHNN buộc phải tung tiền đồng ra để mua bớt ngoại tệ trên thị trường. Dự trữ ngoại tệ đạt 10,6 tỷ
USD (so với năm 2006 là 4,6 tỷ USD). Chính lượng cung nội tệ này đóng góp phần quan trọng vào
tăng trưởng tín dụng cả năm 2007 ở mức 51,39%. Trong đó, thị trường bất động sản và thị trường
chứng khoán, có tốc độ tăng trưởng cao nhưng chứa rất nhiều rủi ro, là điểm đến ưa thích của khá
nhiều dòng vốn tín dụng.
Trước tình hình đó, NHNN đã ban hành Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/2007 về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động tổ chức tín
dụng của quyết định 457/2005/QĐ-NHNN. Quyết định 457 được chỉnh sửa với một số nội dung
quan trọng liên quan đến kinh doanh chứng khoán như sau:
 Bổ sung khoản 5 vào điều 6 “nhóm tài sản “Có” có hệ số rủi ro 150%”, bao gồm: các khoản
cho vay đầu tư chứng khoán, các khoản cho vay các công ty chứng khoán với mục đích kinh
doanh, mua bán chứng khoán.
 Bổ sung điểm 5 vào khoản 1 điều 8 “tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho các
doanh nhiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm
soát, không được cho vay không có đảm bảo đối với các khoản vay nhằm đầu tư, kinh doanh
chứng khoán ”

10%) thì ưu tiên vĩ mô chuyển mạnh sang kiềm chế lạm phát, ổn định an sinh xã hội, gây nên “cú
sốc” đối với nền kinh tế nói chung, hoạt động của ngành ngân hàng nói riêng. Bám sát mục tiêu vĩ
mô, chính sách tiền tệ trong giai đoạn này là siết chặt tiền tệ, bằng các công cụ (i) tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, lãi suất; (ii) tín phiếu bắt buộc; (iii) tín dụng và (iv) tỷ giá.
i. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất
Theo số liệu thống kê 5 tháng đầu năm 2007, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao 4,32% biểu hiện cho dấu
hiệu lượng cung tiền mặt sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những tháng cuối năm. Ngày 28/05/2007,
NHNN ban hành Quyết định 1141/QĐ-NHNN, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của khối ngân hàng
thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, công ty tài chính là 10% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12
tháng. Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là 8% và quỹ tín dụng nhân dân
trung ương, ngân hàng hợp tác là 4%. Đối với tiền gửi trên 12 tháng là 4% áp dụng cho tất cả
TCTD, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính.
Đến ngày 16/01/2008, NHNN ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN, mở rộng diện các
loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thay cho
việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống trong
thời gian qua. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại
tiền gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay. Đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%; đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ

8

dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%. Đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn
dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11% và tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ
4% lên 5%.
Các chính sách trên đã buộc các NHTM từ tháng 2/2008 phải nộp dự trữ bắt buộc tăng thêm 20.000
tỷ đồng cho NHNN. Thêm vào đó, chính sách phát hành tín phiếu bắt buộc (ngày 17/3/2008) cũng
hút hết của NHTM 20.300 tỷ đồng. Hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản, có
những biến động tiêu cực và nguy hiểm như lãi suất liên ngân hàng liên tục lập kỷ lục (cao nhất là
43%/năm), các ngân hàng chạy đua lãi suất (lãi suất huy động trong dân cư lên đến mức 20%/năm).

khá dài tới 364 ngày, hay gần 1 năm.
NHNN cho biết việc phát hành tín phiếu NHNN đợt này sẽ có tác động nhất định đến cung- cầu vốn
nhưng lãi suất thị trường tiền tệ sẽ ít biến động do NHNN trả lãi suất tín phiếu ở mức hợp lý, kỳ hạn
phát hành ngắn hạn, thời điểm phát hành vào sau Tết nguyên đán khi việc huy động vốn của các
TCTD có xu hướng tăng theo tính quy luật hàng năm. NHNN sẽ theo dõi chặt chẽ các tác dộng và
diễn biến thị trường tiền tệ để có giải pháp thích hợp nhằm tránh những biến động đột biến trên thị
trường tiền tệ.
iii. Tín dụng
Trong lĩnh vực tín dụng, NHNN tiếp tục có những điều chỉnh đối với hoạt động cho vay kinh doanh
chứng khoán bằng Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN, ngày 1/2/2008 về sửa đổi Chỉ thị 03 về cho
vay chứng khoán. Trái với mong đợi của các NHTM, Quyết định 03 còn thắt chặt cho vay chứng
khoán hơn so với Chỉ thị 03 trước đây, như:
 Quy định các điều kiện đối với các TCTD cho vay kinh doanh chứng khoán (KDCK) nhằm
yêu cầu các tổ chức tín dụng tuân thủ pháp luật về tín dụng và bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay, như phải ban hành quy trình nghiệp vụ cho vay KDCK làm cơ sở cho việc
thanh tra, giám sát hoạt động cho vay; đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của NHNN; có
tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tín dụng dưới 5%; thực hiện hạch toán, thống kê chính xác, báo
cáo đúng thời hạn các khoản cho vay để phục vụ cho quản trị kinh doanh nội bộ và giám sát
của NHNN.
 Khống chế cho vay KDCK ở mức 20% vốn điều lệ: NHNN cho rằng, biện pháp kiểm soát tín
dụng này gắn quy mô, rủi ro cho vay KDCK với quy mô vốn điều lệ của TCTD, đồng thời
tránh được tình trạng tăng tổng dư nợ tín dụng nếu quy định giới hạn tỷ lệ % trên tổng dư nợ
như trước đây. Đây cũng là khuyến nghị của các chuyên gia Quỹ tiền tệ quốc tế và kinh
nghiệm kiểm soát cho vay KDCK của một số nước đã áp dựng có hiệu quả trong những năm
gần đây. Với quy định này, cho vay KDCK không quá mở rộng cho vay, nhiều NHTM có dư
nợ cho vay ở mức thấp so với vốn điều lệ vẫn có thể tiếp tục cho vay.
 Trong quyết định mới này, NHNN cũng quy định, khi cơ chế cho vay KDCK mới có hiệu lực
thi hành, nếu các TCTD đáp ứng được các quy định nêu trên thì tiếp tục cho vay. Đối với các
TCTD chưa đáp ứng được các quy định đó thì không được phép cho vay KDCK, khi đáp ứng
được các quy định này thì mới được tiếp tục cho vay KDCK trong giới hạn cho phép.

đồng nội tệ, gia tăng kỳ vọng tăng tỷ giá trong dân chúng. Do vậy, trong năm 2008 biên độ tỷ giá
liên tiếp 3 lần nới rộng, 2 lần được tăng mạnh trực tiếp ở tỷ giá bình quân liên ngân hàng, những
điều chỉnh chưa từng có trong lịch sử.
Tính chất đặc biệt của tỷ giá năm 2008 cũng thể hiện ở những biến động trái chiều. Trong những
tháng đầu năm, thị trường có hiện tượng ứ đọng ngoại tệ, tỷ giá có lúc xuống “đáy” 15.300 VND;
nhiều doanh nghiệp, ngành hàng xuất khẩu phải thông qua các hiệp hội yêu cầu ngân hàng đẩy
mạnh mua vào USD, tháo gỡ khó khăn. Nhưng từ tháng 5, “cơn sốt” khan hiếm ngoại tệ lại diễn ra
căng thẳng trên cả thị trường chính thức lẫn thị trường tự do. Nhiều doanh nghiệp phải mua với giá
trên 18.000 VND, chi phí tài chính bị đẩy cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận. 11
Tóm lại, giai đoạn nửa cuối 2007 – cuối 2008, đặc biệt là năm 2008, thị trường ngân hàng trong
nước đã trải qua những biến động chưa từng có về lãi suất, tỷ giá. Với sự chuyển hướng mục tiêu vĩ
mô quá nhanh và mạnh vào đầu năm 2008, thị trường ngân hàng bị “cú sốc” do chính sách siết chặt
tiền tệ. Hệ thống ngân hàng bị căng thẳng về thanh khoản, làm cho lãi suất huy động cũng như lãi
suất cho vay tăng quá cao, vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế, doanh nghiệp phải “lay
lắt” chịu đựng. Trong bối cảnh ngột ngạt do vòng kim cô tiền tệ đó, cuộc khủng hoảng tài chính,
dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới xảy ra vào cuối 2008 ảnh hưởng đến Việt Nam. Chính sách vĩ mô
nước ta chuyển từ giảm lạm phát sang kích thích kinh tế; chính sách tiền tệ chuyển từ thắt chặt sang
nới lỏng.
3. Giai đoạn cuối 2008 – 2009
Trong giai đoạn này, nước ta chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế thế giới. Kinh tế vĩ mô đối mặt với 3 mất cân đối lớn: thâm hụt mạnh cán cân thương mại; thu hút
vốn nước ngoài giảm, thâm hụt ngân sách tăng cao. Chính phủ chuyển từ mục tiêu kiềm chế lạm
phát sang chống suy thoái, kích thích tăng trưởng kinh tế. Chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà
nước điều hành linh hoạt, thận trọng để đảm bảo góp phần thực hiện hài hoà các mục tiêu: Ngăn

iii. Tỷ giá
Trong năm 2009, lượng ngoại tệ trên thị trường trở nên khan hiếm, tỷ giá VND/USD trên thị trường
chợ đen luôn cao hơn thị trường chính thức. Nguyên nhân của tình trạng này là do 3 mất cân đối lớn
nêu trên làm cho người dân và doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ. Một nguyên nhân quan
trọng nữa là với gói chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất, các doanh nghiệp chuyển sang vay VND để
mua USD làm cho thị trường tiền tệ càng thêm mất cân đối. Để giải quyết vấn đề trên, trong năm
2009, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh tăng tỷ giá và nới rộng biên độ tỷ giá, kết hợp với các chính
sách khác nhằm giải quyết cung – cầu ngoại tệ:
 Mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3%
lên +/-5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết
cung cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng
thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hòa ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên
ngân hàng;
 Trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại tệ thu được từ phát hành trái
phiếu Chính phủ cho NHNN; đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua
ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiểm soát
nhập siêu và đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế.
 Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như phối hợp với các
bộ, ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi quảng cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng
ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái phép; tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các
ngân hàng thương mại và hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi phạm.
 Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp
và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các thông tin
về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động
bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ
ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ ngày 01/6/2009, lãi suất
huy động giảm xuống mức không quá l,5%/năm kể từ ngày 01/6/2009)

13


 Thứ tư, Luật các tổ chức tín dụng hiện hành chưa cập nhật được những chuẩn mực và thông lệ
quốc tế tốt nhất nên hoạt động của các tổ chức tín dụng bị bó hẹp, khó tiếp cận và hội nhập
quốc tế.
 Thứ năm, một số điều khoản quy định trong Luật không phù hợp với hoạt động của các tổ
chức tín dụng hoặc chưa thống nhất với các Luật khác làm cản trở sự phát triển của các tổ
chức tín dụng.
Nguyên tắc, định hướng trong soạn thảo Luật các tổ chức tín dụng mới, trong đó, có một số điểm
chính như sau:

14

 Một, việc xây dựng Luật mới cần tham khảo các Luật có liên quan khác, các chuẩn mực,
thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt Nam để tránh xung đột và tạo thuận lợi cho
các tổ chức tín dụng hội nhập, phát triển.
 Hai, Luật mới cần có quy định chung áp dụng đối với tất cả các loại hình tổ chức tín dụng,
đồng thời có quy định cụ thể đối với từng loại hình tổ chức tín dụng. Cần xoá bỏ sự phân biệt
đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh
bạch, lành mạnh. Cần phân định rõ sự khác biệt giữa ngân hàng với các loại hình tổ chức tín
dụng khác.
 Ba, Luật mới sẽ được xây dựng trên quan điểm quy định rõ ràng, chi tiết đến mức có thể để
hạn chế các văn bản hướng dẫn dưới Luật và hạn chế tối đa việc cấp giấy phép con, các tổ
chức tín dụng sẽ được làm những điều Luật không cấm nếu đủ điều kiện.
 Bốn, Nghiên cứu để bổ sung vào Luật những quy định còn thiếu như quy định về tổ chức tài
chính quy mô nhỏ, quỹ tín dụng nhân dân, mua bán nợ, tài trợ các giao dịch thương mại, môi
giới tiền tệ, quản lý quỹ hưu, công ty tín thác… và quy định mở đối với các loại hình tổ chức
tín dụng sẽ phát sinh trong tương lại. Quy định rõ ràng, thống nhất về chống rửa tiền, kiểm
toán và công khai báo cáo tài chính của các tổ chức tín dụng…
 Năm, Xem xét lại việc có quá nhiều cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quản lý hoạt
động của các tổ chức tín dụng, hạn chế các thủ tục hành chính không cần thiết và việc can
thiệp quá sâu vào tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng. Quy định cụ thể vai trò, thẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status