Tiểu Luận: Thâm hụt ngân sách Việt Nam - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
LỚP: T07
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM
NHÓM 8:
Đặng Kim Ngọc Anh
Nguyễn Thị Dung
Trịnh Thị Mỹ Loan
Trần Thị Thùy Ninh
Ngô Thị Thanh Tâm
Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Dương Thị Thùy Vân
GVHD: Ths. Trần Mạnh Kiên
1
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 03/11/2012MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU 4
2. NỘI DUNG 4
2.1. Khái niệm. phân loại 4
2.1.1. Ngân sách nhà nước 4
2.1.2. Thâm hụt ngân sách nhà nước 4
2.1.3. Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước 5
2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước trong những năm gần đây 5
2.2.1. Thực trạng kinh tế những năm gần đây 5
2.2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách 6
a. Thu ngân sách nhà nước 6
b. Chi ngân sách nhà nước 9
c. Thực trạng bội chi NSNN (thâm hụt NSNN) 12
2.2.3. Hậu quả của thâm hụt NSNN đối với nền kinh tế 13
2.3. Nguyên nhân
2.3.1. Thất thu thuế nhà nước 13
2.3.2. Đầu tư công kém hiệu quả 13

ngân sách nhà nước được xem là một trong những công cụ sắc bén để nhà nước can
thiệp toàn diện vào nến kinh tế. Nói đến ngân sách nhà nước thì không thể không
nói đến tình trạng thâm hụt ngân sách_căn bệnh kinh niên của mọi nhà nước. Ngay
cả khi Hoa Kỳ - một trong những cường quốc có nền kinh tế đứng đầu thế giới hiện
nay cũng phải đối mặt với vấn đề này và tất nhiên V iệt Nam là một nước không
ngoại lệ.
Mức độ thâm hụt ngân sách ở nước ta đang có xu hướng gia tăng và ngày
càng tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế. Hay
nói cách khác đay chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế,
gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sach
tài khóa và tiền tệ.
Vậy thâm hụt ngân sách nhà nước là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân
sách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lý
thâm hụt ngân sách nhà nước, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các
mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế
lạm phát hiện nay? Bài tiểu luận này với đề tài "Thâm hụt ngân sách Việt Nam ” là
quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên.
2. NỘI DUNG
2.1. Khái niệm, phân loại
2.1.1. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước; các quan hệ
kinh tế tài chính giữa nhà nước với nền kinh tế trong quá trình phân phối, sử dụng
các nguồn lực tài chính và quản lý nhà nước.
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, để đảm bảo nhà nước
thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại đất nước. Là công cụ điều chỉnh vĩ mô
nền kinh tế xã hội, được biểu hiện trên 3 khía cạnh:
- Kích thích sự tăng trưởng kinh tế ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế),
chống độc quyền.

nhu cầu. Kết quả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 vừa qua chỉ tăng hơn 5% so với
cùng kỳ, từ mức đỉnh 23% vào tháng 8 năm 2011 (theo báo cáo “Vietnam at a
galance” của HSBC). Ngoài ra thâm hụt thương mại trong 7 tháng đầu năm 2012
chỉ còn 58 triệu USD, so với mức khoảng 6 tỷ USD cùng kỳ năm 2011. Tỷ giá
VND/USD đã ổn định từ đầu năm đến nay, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng
nhờ thâm hụt thương mại giảm và dòng vốn giải ngân FDI mạnh( trích báo cáo
HSBC). Sự suy giảm của nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam thể
hiện qua sự đi xuống của tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu ban
đầu, mức tăng trưởng xuất khẩu của tháng 7/2012 đã giảm mạnh xuống còn 3% so
với cùng kỳ năm 2011, từ mức tăng 16,9% trong tháng 6/2012.
Cùng quan điểm, HSBC nhận định, ở thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp ở
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng nhu cầu thấp ở cả trong và ngoài nước.
Chỉ số quản lý sức mua (PMI) của Việt Nam trong tháng 7, do HSBC thực hiện, đã
giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi được công bố lần đầu vào tháng 4/2011. Theo
HSBC, điều này phản ánh thực trạng người tiêu dùng không còn sẵn sàng chi tiêu
do mức nợ cao hoặc do triển vọng tăng trưởng kinh tế kém. Việt Nam hiện không
phải là quốc gia duy nhất phải đối mặt với sự suy giảm của nhu cầu tại thị trường
nội địa. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng được HSBC dự báo có thể còn ở
trong tình trạng trì trệ trong thời gian tới, trong khi những cải cách mang tính cơ cấu
cần được thực hiện để giải quyết những vấn đề đã ăn sâu trong nền kinh tế.
5
Trong khi đó, báo cáo đưa ra cuối tháng 7 của Ngân hàng JPMorgan Chase
cho rằng, lạm phát cơ bản của Việt Nam (không tính tới các yếu tố giá nhiên liệu và
lương thực-thực phẩm) vẫn ở mức 0,6% trong tháng 7 so với tháng 6 và ở mức 8%
so với cùng kỳ năm 2011.
Biểu đồ tăng trưởng thực GDP và lạm phát của Việt Nam
2.2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách
a. Thu ngân sách nhà nước
Theo Quyết toán NSNN của MoF, trung bình giai đoạn 2007-2011, tổng thu
ngân sách nhà nước của Việt Nam khá ổn định và vào khoảng 29,0% GDP. Theo số

Về thuế thu nhập, Việt Nam có các thang bậc thuế suất khá tương đồng so
với các nước trong khu vực, song khoảng thu nhập chịu các thang thuế suất tương
ứng lại thấp, nên tính chung số thuế phải nộp là khá cao so với khu vực. Ví dụ mức
thu nhập phải chịu thuế 10% tại Việt Nam khoảng 3.450 - 5.175 USD một năm, thì
ở Thái Lan là 4.900 - 16.400 USD, Trung Quốc là 3.800 - 9.500 USD một năm.
Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện được thu ở mức 25% đối với mọi doanh
7
nghiệp, trong khi tại các nước, thuế suất dao động 2 - 30%. Tuy nhiên, số liệu thống
kê những năm gần đây cho thấy, chiếm khoảng 20% GDP trong toàn nền kinh tế
nhưng các doanh nghiệp FDI lại chỉ đóng góp trên dưới 10% tổng thu ngân sách
nhà nước. Nhiều doanh nghiệp trong khu vực này liên tục báo lỗ nhưng lại xin mở
rộng đầu tư. Như vậy với tổng mức thu thuế/GDP cao đã hạn chế khả năng tích lũy,
làm giảm đầu tư phát triển, và năng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân,
xuất hiện các hành vi gian lận về thuế của các doanh nghiệp.
Bên cạnh thuế thu nhập, Việt Nam còn áp dụng nhiều khoản thuế cao khác
đánh vào tiêu dùng như thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu. Đặc biệt, ngoài
các khoản thuế và phí, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải trả các chi phí không
chính thức cao. Theo kết quả điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI)
năm 2011, mặc dù đã giảm nhưng vẫn còn có tới hơn 52% số doanh nghiệp được
hỏi trả lời rằng họ phải chi trả dưới dạng tiền lót tay cho các cán bộ hành chính địa
phương, 7% số doanh nghiệp phải chi trả tới hơn 10% tổng thu nhập của họ cho các
khoản chi phí không chính thức; có tới 56% doanh nghiệp tham gia đấu thầu các dự
án của nhà nước cho biết việc chi trả hoa hồng là phổ biến. Điều này đã góp phần
làm gia tăng sự bất công giữa các nhóm lợi ích và đại đa số dân chúng, đồng thời
làm suy giảm niềm tin vào bộ máy công quyền.
Con đường giảm thâm hụt ngân sách thông qua tăng thuế suất và cơ sở đánh
thuế là rất hạn chế. Việc tăng thu chỉ có thể được thực hiện nhờ các biện pháp nâng
cao tỉ lệ tuân thủ, chống thất thu và buôn lậu.
 Thu ngân sách thiếu bền vững
Các khoản thu không bền vững gồm thu từ viện trợ, thu từ bán nhà thuộc sở

thâm hụt ngân sách hàng năm do bản chất ngắn hạn không ổn định của chúng.
b. Chi ngân sách nhà nước
 Chi đầu tư phát triển:
Bảng chi đầu tư phát triển (2008-2012)
Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: Quyết toán của Bộ tài chính (Cân đối thu – chi NSNN)
Tính sơ bộ trong khoảng 5 năm (2008-2012) tổng vốn đầu tư phát triển mà
ngân sách nhà nước đã cấp ra ước khoảng 782.825 tỷ đồng luôn chiếm trên 20%
tổng chi NSNN đặc biệt là vào năm 2009 chiếm khoảng 27,4% tổng chi NSNN.
Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 thì chi đầu tư phát triển có xu hướng giảm nhẹ về
tỉ trọng trong tổng chi ngân sách, từ 28,3% năm 2010 xuống khoảng 24,6% trong
năm 2011 nhờ việc nỗ lực cắt giảm chi tiêu công nhằm bình ổn nền kinh tế.
Chi đầu phát triển càng ngày được chú trọng, tuy nhiên cũng còn hạn chế
trong việc giám sát chặt chẽ việc chi các khoản tiền. Ví dụ trong năm 2008, dự án
xử lý nước thải khu công nghiệp Vĩnh Niệm – Hải Phòng vốn đã cấp phát 3 tỷ đồng
và dự án xử lý nước thải Khu du lịch Vịnh Tùng Dinh (Cát Bà, Hải Phòng) vốn đã
cấp phát 23,52 tỷ đồng hoàn thành nhưng không hoạt động gây lãng phí NSNN;
năm 2009, có nhiều khoản chi tăng đột biến, trong tổng chi hơn 561.200 tỷ đồng
(tăng 14,2% so với dự toán) thì chi đầu tư phát triển tăng vượt dự toán đến 60,8%.
Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều sai phạm và tăng hơn
so với năm trước. Tình trạng xây dựng dở dang, nợ khối lượng xây dựng cơ bản,…
vẫn xảy ra. Từ năm 2011 đến nay, chi đầu tư phát triển tiếp tục tăng. Năm 2011,
nguồn vốn đầu tư của NSNN, cùng với vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và
ngoài nước đưa vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2011 đạt khoảng 34,5%GDP,
góp phần tăng thêm năng lực mới cho nền kinh tế. 9 tháng đầu năm 2012 ước tính
tăng 5% so với cùng kỳ. Thực tế việc thực hiện chi ngân sách vẫn có thất thoát, làm
lãng phí nguồn ngân sách và chưa đạt được hiệu quả mong muốn.
9
2008 2009 2010 (ước
thực hiện)

đồng từ vốn trái phiếu Chính phủ, đạt 79,21%. Các dự án y tế kế hoạch vốn Chính
phủ giao là 5.600 tỷ đồng, số vốn giải ngân là 4.315,9 tỷ đồng đạt 77,07%; Các dự
án giáo dục kế hoạch vốn Chính phủ giao là 6.180 tỷ đồng, số vốn giải ngân là
4.600 tỷ đồng đạt 74,43%; dự án giao thông đạt 73%; dự án thủy lợi gần 65%, nâng
cấp bệnh viện đạt gần 73%; kiên cố trường lớp, nhà công vụ cho giáo viên gần
86%. Ngoài ra, Bộ Tài chính còn triển khai tổ chức thực hiện ứng chi 6.467,5 tỷ để
bổ sung vốn đẩy nhanh tiến độ thực hiện một số dự án quan trọng, cấp bách, có khả
năng hoàn thành trong năm 2010. Trong đó, đã trích dự phòng ngân sách trung
ương 730 tỷ đồng và xuất cấp 14.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để hỗ trợ các
tỉnh miền Trung khắc phục hậu quả bão lũ; cứu đói, hỗ trợ dân sinh; khôi phục cơ
sở hạ tầng thiết yếu tại các vùng bị thiên tai
Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế bền vững, nhà nước tăng cường hỗ
trợ xã hội bằng việc tăng khoản chi an sinh xã hội, chi hỗ trợ cho quốc phòng, an
ninh. Nhìn chung cho tới nay đã đạt được những thành công nhất định, góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống chung của xã hội
 Chi chương trình mục tiêu quốc gia
Nhà nước ta đang chú trọng phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia vì
mục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững. Tất cả các mục chi tiêu của chương trình
đều tăng hơn 25% so với năm 2008. Trong đó, các khoản chi cho chương trình an
toàn thực phẩm và chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nằm
trong chương trình mục tiêu quốc gia tăng nhanh và mạnh. Với chương trình an
toàn thực phẩm, năm 2009 tăng khoảng 57.5% và năm 2010 tăng gần 164 % so với
10
năm 2008. Còn với chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năm
2009 – 2010, tăng 2,2 – 3,3 lần so với năm 2008.
Năm 2012, sửa đổi một số điều trong quyết định số 135/2009/QĐ-TTG về
Quy chế quản lý và điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai
đoạn 2011-2015. Trong đó có 16 chương trình sau: 1- Việc làm và dạy nghề; 2-
Giảm nghèo bền vững; 3- Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; 4- Y tế; 5-
Dân số và Kế hoạch hóa gia đình; 6- Vệ sinh an toàn thực phẩm; 7- Văn hóa; 8-

(hơn 477.000 tỉ đồng), riêng chi quản lý hành chính gần 58.000 tỉ đồng. Chi thường
xuyên đang là nỗi lo lớn, việc tiêu xài hoang phí, “vung tay quá trán”, lạm chi đang
khá phổ biến đặc biệt chi cho lễ hội, khánh tiết, hội họp, đi công tác nước ngoài…
Ngoài các khoản chi trên, nhà nước ta còn sử dụng một phần nguồn ngân
sách cho các khoản chi khác như: chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các
doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước, chi cho các
quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, quỹ hỗ trợ phát triển, chi sự nghiệp như sự nghiệp giáo
11
dục, văn hóa, thể thao, nghiên cứu khoa học công nghệ…Những khoản chi ngày
càng phát sinh lớn nên việc cân đối thu-chi là điều vô cùng quan trọng trong tiến
trình phát triển kinh tế-xã hội.
c. Thực trạng bội chi NSNN (thâm hụt NSNN)
Qua các số liệu trong bảng thống kê có thể thấy tình hình bội chi ngân sách
nhà nước ta trong những năm gần đây xấp xỉ khoảng 5% ở trong mức giới hạn cho
phép. Những khoản vay chủ yếu được đầu tư cho phát triển, ngoài ra còn khoản tích
lũy được từ nguồn thu thuế, phí và lệ phí. Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 do
UBKT công bố ngày 4/9/2012, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã diễn ra liên tục
trong khoảng hơn một thập kỷ qua và có mức độ ngày càng gia tăng. Cụ thể, thâm
hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai
đoạn 2003 - 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7%
GDP trong giai đoạn 2008 - 2012.
Trong Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 “Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ
cấu” đã chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong hơn một thập kỉ qua và
có mức độ ngày càng gia tăng. Các tổ chức quốc tế đưa ra những con số khác xa với
báo cáo của Bộ Tài chính. Cụ thể, tính riêng năm 2009, con số thâm hụt ngân sách
chỉ tính riêng năm 2009 không bao gồm chi trả nợ gốc theo báo cáo của Bộ Tài
chính là 3,7% GDP, trong khi đó con số tương ứng của Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cao hơn nhiều, lần lượt là 6,6% và 9,0%
GDP.
Trung bình trong hai năm 2009-2010, con số thâm hụt ngân sách của Việt

càng nghiêm trọng thì khoản chi của Chính phủ sẽ lấy từ đâu?Thực sự đó là trăn trở
lớn đối với nền kinh tế hiện nay của nước ta. Tóm lại, thâm hụt ngân sách cao và
kéo dài sẽ đe dọa tới sự ổn định vĩ mô.
2.3. Nguyên nhân
2.3.1 Thất thu thuế nhà nước
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh
các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…
tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã
tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng
đáng kể cho ngân sách nhà nước…. Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn
thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng
sản xuất. Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các
khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
2.3.2 Đầu tư công kém hiệu quả
Trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn
chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn
chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự
phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà
nước. Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu
quả. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên
trầm trọng.
2.3.3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính
13
phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích
cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức
thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
2.3.4. Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách và áp lực

không.
2.4. Tác động đối với nền kinh tế
Đặc biệt, thâm hụt ngân sách cao, do hậu quả của những chính sách kích
thích kinh tế kéo dài thông qua chi tiêu công, đang tiếp tục là những nguy cơ tiềm
ẩn làm xấu thêm các chỉ số kinh tế vĩ mô và đe dọa sự ổn định của nền kinh tế trong
tương lai. Thâm hụt ngân sách trong những năm gần đây lên tới xấp xỉ 5-6% GDP.
Để làm rõ tác động của thâm hụt ngân sách tới các biến số vĩ mô quan trọng của
nền kinh tế bao gồm tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, cán thương mại và tỉ giá
14
hối đoái chúng ta thực hiện phân tích định tính các kênh truyền dẫn có thể có của
thâm hụt ngân sách và các biện pháp tài trợ thâm hụt lên các biến số này.
2.4.1. Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế
Với S là tiết kiệm tư nhân, (T – G) (thuế - chi tiêu của chính phủ) là tiết kiệm
chính phủ, cũng chính là chênh lệch giữa thu ngân sách và chi ngân sách. Trường
hợp (T – G) = 0 tức NSNN cân bằng, trường hợp (T – G) > 0 NSNN có thặng dư,
trường hợp (T – G) < 0 NSNN bội chi. Trong bối cảnh NSNN bội chi, chính phủ
phải tìm cách bù đắp bội chi bằng cách vay trong nước hoặc nước ngoài. Vay trong
nước làm cho tiết kiệm tư nhân giảm, tổng đầu tư giảm; để duy tri được mức tổng
đầu tư chính phủ phải lựa chọn phương án đi vay nước ngoài. Mỗi khi chính phủ
chi tiêu quá một đồng vượt số thu ngân sách, buộc phải tài trợ bằng cách tăng nợ
công một đồng.
2.4.2. Ảnh hưởng lạm phát
Nhìn vào những nước đã từng trải qua lạm phát cao sẽ thấy rằng, lạm phát ở
những nước này thường là hệ quả của việc in tiền nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân
sách. Như vậy, thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước
buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới
lạm phát.
Về cơ bản, hầu hết chính phủ các nước đều dùng các biện pháp sau để khắc
phục bội chi NSNN: vay trong nước, vay nước ngoài hoặc phát hành tiền. Tùy từng
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà các nguồn bù đắp bội chi được sử dụng riêng rẽ

cho tới khi trạng thái cân bằng mới được khôi phục. Những tác động này diễn ra rất
giống với thực tế ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Thâm hụt tài khóa được tài
trợ phần lớn bởi vay nợ thông qua phát hành trái phiếu chính phủ và thậm chí là
ứng trước ngân sách (một hình thức in tiền để chi tiêu). Tuy nhiên, trái phiếu chính
phủ và trái phiếu chính phủ bảo lãnh chủ yếu được bán cho các ngân hàng thương
mại lớn. Lượng trái phiếu này sau đó được các ngân hàng thương mại cầm cố lại tại
NHNN để lấy tiền. Cuối cùng, điều này sẽ làm tăng cung tiền và gây lạm phát trong
nền kinh tế. Theo số liệu thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX),
tổng lượng trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính phủ bảo lãnh đang lưu hành có
giá trị và khoảng 336 ngàn tỉ đồng, tương đương với hơn 13% GDP danh nghĩa và
gần 12% cung tiền M2 của năm 2011. Như vậy, cùng với nhu cầu tín dụng cao của
khu vực tư nhân, chi tiêu công tài trợ thông qua phát hành trái phiếu cũng đã gián
tiếp dẫn đến sự gia tăng mạnh của cung tiền trong những năm gần đây.
Về việc phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách: Đây là biện pháp đã
được Chính phủ nhiều nước sử dụng; kể cả nước ta trong thời gian trước đây. Ưu
điểm của biện pháp này là đơn giản, dễ thực hiện, trong một số trường hợp, việc
phát hành thêm tiền cũng có tác dụng phân bố lại nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế,
đặc biệt là phân bố lại vốn đầu tư giữa Nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân. Trong
trường hợp này, lợi thuộc về Nhà nước, thiệt hại rơi vào nhà đầu tư tư nhân, vì thực
chất phát hành tiền đã trở thành một loại " thuế" vô hình đánh vào nguồn thu nhập
dân cư, hậu quả gây ra cho nền kinh tế là lạm phát. Và lạm phát lại là một trong
những nguyên nhân tạo ra sự bất ổn trong nền kinh tế, làm cho hoạt động sản xuất
khó khăn và trì trệ hơn. Chính vì vậy trong những năm gần đây Nhà nước ta cũng
như các nước khác không sử dụng biện pháp phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân
sách nhà nước trong những trường hợp không thật sự cần thiết.
Thâm hụt ngân sách là một trong những nguyên nhân gây lạm phát và mất
cân bằng vĩ mô. Theo PGS, TS Lê Quốc Lý, Vụ trưởng Vụ Tài chính - Tiền tệ ( Bộ
Kế hoạch và Đầu tư): “Chính những yếu kém trong ngân sách (thu ngân sách nhà
nước không đủ chi và bù đắp thâm hụt ngân sách không chỉ phải vay trong và ngoài
nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành) là một yếu tố quan trọng gây nên

hình số nhân, nếu không có thay đổi nào trong thị trường tài chính thì GDP sẽ tăng
lên ΔG x Số nhân của nền kinh tế. Nhưng khi GDP tăng lên, nhu cầu về tiền giao
dịch cũng tăng lên. Mức GDP cao hơn có chiều hướng đi đến thắt chặt tiền tệ (đặc
biệt là trong trường hợp NHTW quan tâm đến lạm phát). Lãi suất tăng và thắt chặt
tín dụng sẽ có chiều hướng bóp nghẹt hay “thoái lui” đầu tư và những chi tiêu có
nhạy cảm với lãi suất. Kết quả là dẫn đến tổng cầu giảm, sản lượng và công ăn việc
làm giảm xuống.
Tuy nhiên, cơ chế thoái giảm này chỉ áp dụng cho thâm hụt cơ cấu. Không
áp dụng cho thâm hụt chu kỳ (thâm hụt tăng do suy thoái) vì suy thoái gây ra giảm
cầu tiền và dẫn đến lãi suất giảm. Thoái lui không được áp dụng trong các cuộc đại
suy thoái là một nhắc nhở: không có liên hệ nghiễm nhiên nào giữa thâm hụt và đầu
tư.
Tác động của thâm hụt cơ cấu: Hầu hết các nhà kinh tế học vĩ mô đều đồng ý
rằng: Thoái lui thực sự chỉ là một hiệu ứng phụ của chi tiêu Chính phủ. Tuy nhiên,
vẫn có tranh luận trong vấn đề đầu tư bị giảm đi bao nhiêu và những khu vực nào
chịu tác động nhiều nhất. Thoái lui hoàn toàn là trường hợp cực đoan nhất của thoái
lui khi mà phản ứng tiền tệ là quá mạnh. Giả sử rằng, khi mà NHTW xác định bất
kỳ sự tăng lên nào trong sản lượng cũng đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vậy,
NHTW sẽ tăng lãi suất lên đủ để bù lại mọi tác động mở rộng của các chương trình
Chính phủ.
17
Tuy nhiên, do có phản ứng tiền tệ, nên lãi suất tăng lên, làm giảm đầu tư và
xuất khẩu ròng. Vậy, trong trường hợp cực đoan thoái lui 100%, phản ứng này
mạnh đến nỗi đường chi tiêu (tổng cầu) mới dịch chuyển xuống quay trở lại vị trí
của đường tổng cầu ban đầu. Nói cách khác là thắt chặt tiền tệ đã làm triệt tiêu toàn
bộ sự mở rộng tài khóa.
Chi tiêu Chính phủ làm tăng tổng cầu, nhưng lãi suất cao hơn dẫn đến sự
giảm sút của đầu tư và xuất khẩu ròng (do việc tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ).
Cuối cùng lãi suất phải tăng đủ mạnh để giảm đầu tư và xuất khẩu ròng đúng bằng
lượng G đã tăng lên.

khác, khi chi tiêu công thái quá sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách. Chính phủ buộc
phải vay nợ thông qua phát hành trái phiếu và làm giảm lượng vốn vay trên thị
trường mà đáng lẽ ra khu vực tư nhân có thể tiếp cận được với giá thấp.
Trong những năm gần đây, cơ cấu nợ của Việt Nam có chiều hướng thay đổi
chuyển từ vay nợ nước ngoài sang vay nợ trong nước. Nợ nước ngoài hiện nay
chiếm khoảng 58% và đang có xu hướng giảm, còn nợ trong nước là 42% và đang
có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, đây chưa hẳn là một xu hướng tốt phản ánh sự
giảm lệ thuộc vào nước ngoài. Điều này thực chất phản ánh các khoản vay ưu đãi
của nước ngoài đối với Việt Nam đang ngày càng giảm. Lãi suất thương mại của nợ
nước ngoài cao cộng với rủi ro tỉ giá buộc chúng ta phải chuyển dần sang vay nợ
trong nước. Việc vay nợ lớn trong nước tuy nhiên lại chèn ép mạnh đầu tư của khu
vực tư nhân và làm giảm tăng trưởng kinh tế một khi đồng vốn vay không được khu
vực công sử dụng hiệu quả.
Trái phiếu chính phủ phát hành qua các năm (ngàn tỉ đồng)
Trung bình trong hai năm 2010 và 2011 Chính phủ Việt Nam đã vay nợ hơn
110 ngàn tỉ đồng mỗi năm thông qua phát hành trái phiếu trong nước. Con số này
xấp xỉ gấp đôi so với 56 ngàn tỉ đồng mỗi năm của giai đoạn 2007-2009. Lãi suất
vốn vay trên thị trường tiền tệ trong thời kì 2010-2011 cũng cao hơn gấp đôi so với
lãi suất của giai đoạn 2007-2009. Đây chính là ví dụ điển hình của hiện tượng đầu
tư công lấn át đầu tư tư nhân. Nghiêm trọng hơn, khả năng huy động vốn trong
nước thông qua phát hành trái phiếu của Chính phủ nhiều khi không phải được hình
thành một cách tự nhiên theo quy luật cung cầu của thị trường. Trong những năm
2010-2011, với mức trần lãi suất trái phiếu chính phủ dao động trong khoảng từ 10-
12%/năm, trong khi lãi suất cho vay trên thị trường lên tới hơn 20%/năm, thông
thường sẽ không có một ngân hàng thương mại nào sẵn lòng mua trái phiếu chính
phủ. Tuy nhiên, đây lại là hai năm thành công nhất đối với việc phát hành trái phiếu
chính phủ. Bản chất ẩn sau hiện tượng này đó là việc các ngân hàng thương mại có
thể bán/cầm cố trái phiếu chính phủ tại NHNN tại mức lãi suất chiết khấu thấp, sau
đó cho các ngân hàng thiếu hụt thanh khoản vay với lãi suất cao nhằm hưởng lợi
lớn. Hành động này đã khiến cho có thời kì vốn chỉ chạy loanh quanh từ thị trường

hiểu được qua hiệu ứng lấn át đầu tư. Còn sự giảm sút của xuất khẩu ròng có thể
giải thích thông qua tác động của việc gia tăng chi tiêu chính phủ đối với nhập
khẩu. Sự gia tăng chi tiêu công và thâm hụt ngân sách, sẽ ngay lập tức làm cho tổng
chi tiêu trong nước lớn hơn sản lượng trong nước. Để đáp ứng lượng chi tiêu tăng,
bên cạnh sản xuất trong nước tăng, thì nhập khẩu cũng sẽ tăng và gây thâm hụt
thương mại.
Hình 2.6. Tiết kiệm, đầu tư và thâm hụt thương mại
Nguồn: ADB (2011) Key Economic Indicator for Asia and the Pacific.
Việc nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng sẽ dẫn đến sự dịch chuyển ngược
của dòng tài sản ra nước ngoài. Khi nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, ban đầu chúng
ta phải trả ngoại tệ cho người nước ngoài. Sau đó, lượng ngoại tệ này có thể được
người nước ngoài sử dụng để mua cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ
hoặc bất động sản. Do vậy, khi thâm hụt ngân sách xảy ra, Việt Nam trở thành nước
nhập khẩu ròng hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cũng là nước xuất khẩu ròng tài sản.
Lượng tài sản trong nước nắm giữ bởi người nước ngoài sẽ ngày càng nhiều hơn.
Thâm hụt ngân sách làm giảm lượng cung vốn vay đối với khu vực tư nhân
20
và do vậy làm tăng lãi suất. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, gia tăng lãi
suất có thể thu hút dòng vốn quốc tế vào trong nước. Cung ngoại tệ tăng và đồng
nội tệ có thể lên giá.
2.4.7. Tăng trưởng
Chính sách tài khóa có thể tác động đến tăng trưởng sản lượng của một nền
kinh tế qua hai kênh. Thứ nhất, nó có thể làm thay đổi tiết kiệm và đầu tư, và do vậy
là năng lực sản xuất trong dài hạn của một quốc gia. Thứ hai, nó có thể làm thay đổi
hiệu quả sử dụng nguồn lực, và do vậy làm thay đổi cả sản lượng hiện tại lẫn tăng
trưởng trong tương lai. Trong thời kì suy thoái kinh tế, mở rộng tài khóa và chấp
nhận thâm hụt ngân sách ở một mức độ nhất định có thể giúp sản lượng trong nước
tăng trở lại nhờ kích thích tổng cầu. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế đã ở gần mức sản
lượng tiềm năng và trước đó nền kinh tế liên tục thâm hụt tài khóa thì hiệu quả của
chính sách là rất hạn chế, có thể dẫn đến lạm phát cao, lãi suất cao, thâm hụt vãng

nào đó cầu về tài sản trong nước sẽ bão hòa và giá của chúng sẽ giảm mạnh. Thứ
21
hai, khi thâm hụt tài khóa kéo dài và nợ công tăng đến một ngưỡng nào đó sẽ gây ra
mối lo ngại của các nhà đầu tư về nguy cơ mất khả năng thanh toán chính phủ. Điều
này sẽ khiến cho cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn nhà đầu tư trong nước tháo chạy khỏi
các tài sản trong nước. Hậu quả là giá tài sản sẽ giảm, lãi suất sẽ tăng, đầu tư sụt
giảm, đồng nội tệ mất giá, và lạm phát tăng vọt.
Sự gia tăng của lãi suất sẽ khiến cho khủng hoảng tài khóa thêm trầm trọng
do gánh nặng nợ tăng nhanh. Lãi suất cao cũng dẫn đến thu thuế giảm do cầu tiêu
dùng sụt giảm. Để đối phó với nguy cơ phá sản này, Chính phủ phản ứng lại bằng
cách tăng các loại thuế thu nhập và thuế tài sản nhằm đạt được thặng dư ngân sách
cơ bản 80. Chính sách này lại làm tiêu dùng sụt giảm thêm và gây ra suy thoái kinh
tế. Hậu quả của sự hạ cánh cứng còn là sự gia tăng mạnh của lạm phát thông qua
kênh nhập khẩu khi đồng nội tệ mất giá do sự tháo chạy của dòng vốn ngoại. Ngoài
ra, sức ép in tiền để trả nợ trong thời kì này cũng là rất lớn. Hậu quả là lạm phát
tăng vọt. Cuối cùng, sự hạ cánh cứng cũng có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài
chính. Giá tài sản giảm và gánh nặng lãi suất sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp có
nguy cơ phá sản. Sự phá sản của các doanh nghiệp đến lượt nó lại gây khó khăn tài
chính cho hệ thống ngân hàng do nợ xấu gia tăng. Kịch bản xấu nhất của tình huống
này có thể là sự đổ vỡ tín dụng và phá sản của các trung gian tài chính.
2.5. Giải pháp:
2.5.1. Phát hành tiền
Khi ngân sách nhà nước thâm hụt,Chính phủ có thể tài trợ số thâm hụt của
mình bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở,đặc biệt là trong trường hợp nền
kinh tế đất nước suy thoái.Khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng
thì việc tài trợ số thâm hụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ
sở sẽ góp phần thực hiện những mục đích của chính sách ổn định hoá kinh tế thông
qua việc đưa nền kinh tế tiến đến gần mức sản lượng tiềm năng mà không gây lạm
phát. Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn
mức sản lượng tiềm năng) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình

bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường
xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này
không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
2.5.5. Dự trữ ngoại hối
Sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia (bao gồm ngoại tệ mạnh và
vàng) để bù đắp thâm hụt NSNN. Đây là một trong những giải pháp tương đối chu
toàn vừa đảm bảo ổn định tỷ giá vừa đảm bảo không gây ra lạm phát. Tuy nhiên đối
với Việt Nam điều này không khả thi cho lắm do dự trữ ngoại tệ quốc gia đang ở
mức thấp và tình trạng mất kiểm soát đối với thị trường ngoại tệ chợ đen còn
nghiêm trọng. Thông tin nhà nước giảm dự trữ ngoại tệ sẽ khiến cho tình trạng đầu
cơ găm giữ ngoại tệ trở nên phổ biến và điều này sẽ khiến cho những cố gắng ổn
đỉnh tỷ giá hối đoái thêm khó khăn.
3. KẾT LUẬN
Thâm hụt NSNN là 1 vấn đề mà hầu hết các quốc gia đều gặp phải. Việc xử
lí vấn đề này hết sức nan giải, bởi nó không chỉ tác động đối với nền kinh tế mà còn
tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Có nhiều cách để chính phủ
bù đắp thâm hụt NSNN, nhưng phải sử dụng cách nào thì còn phải tùy thuộc vào
điều kiện và hoàn cảnh của mỗi quốc gia, bởi mỗi cách có ưu nhược điểm làm ảnh
hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kĩ
lưỡng để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực trạng hiện nay, khi nền kinh tế Việt
Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường và có sự quản lí vĩ mô của nhà nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!
ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gDFxNLczdTEwMLQ1dLA09_X
AYNcAQwNzA_2CbEdFAFjmS9E!/?
WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbv_vn/sbv_vn/vn.sbv.research/
vn.sbv.research.research/d333aa804bdccbeca6a3e7133deae6cc
- http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/tieu-luan-thuc-trang-boi-chi-ngan-sach-
23
viet-nam-2010.510288.html

chi-ngan-sach-nm-2011-va-d-toan-ngan-sach-nm-2012-
&catid=69:tin-tc-s-kin&Itemid=110
- http://www.mof.gov.vn/portal/pls/portal/shared_app.utils.print_previe
w_recurrent_news?p_page_url=http%3A%2F%2Fwww.mof.gov.vn
%2Fportal%2Fpage%2Fportal%2Fmof_vn
%2F1670950&p_itemid=52807401&p_siteid=33&p_persid=&p_lang
uage=vi
- http://cafef.vn/20101023032149942CA33/nam-2010-von-dau-tu-
phat-trien-toan-xa-hoi-uoc-thuc-hien-800-nghin-ty-dong.chn
24
- http://phapluattp.vn/2011072111314846p0c1013/2009-chi-phat-trien-
giam-chi-quan-ly-tang.htm
- http://www.thoibaonganhang.vn/tin-tuc/1-tranh-nhung-cu-soc-tai-
khoa-tieu-cuc-4136.html
- http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/09/nguoi-viet-nang-ganh-
thue-phi/
- http://ndhmoney.vn/web/guest/s02/-/journal_content/tham-hut-ngan-
sach-va-no-cong-cua-viet-nam-tang-nhanh
- http://www.misa.com.vn/tabid/91/newsid/8646/Tang-truong-va-lam-
phat-cua-Viet-Nam-qua-con-mat-chuyen-gia.aspx
- .hanthechuyen.violet.vn/entry/showglobal/entry_id/6706613
- baigiang.violet.vn
- http://www.misa.com.vn/tabid/91/newsid/8646/Tang-truong-va-lam-
phat-cua-Viet-Nam-qua-con-mat-chuyen-gia.aspx
- http://ndhmoney.vn/web/guest/s02/-/journal_content/tham-hut-ngan-
sach-va-no-cong-cua-viet-nam-tang-nhanh
- http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/09/nguoi-viet-nang-ganh-
thue-phi/
- http://www.thoibaonganhang.vn/tin-tuc/1-tranh-nhung-cu-soc-tai-
khoa-tieu-cuc-4136.html


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status