Tiểu luận: Thâm hụt ngân sách Việt Nam: Thực trạng, Nguyên nhân và Giải pháp - Pdf 14

1
Tiểu luận

Thâm hụt ngân sách Việt Nam: Thực
trạng, Nguyên nhân và Giải pháp

2 Lời mở đầu

Một nhà nước dù tồn tại trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử đều luôn cố gắng hoàn thành tốt sứ
mạng lịch sử của nó. Để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, Nhà nước cần có những công cụ riêng của
mình. Một trong những công cụ đắc lực giúp nhà nước đó chính là ngân sách Nhà nước.
Trong những năm qua thì ngân sách nhà nước đã thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc
giúp nhà nước hình thành các quan hệ thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát, tỉ lệ lãi suất thích
hợp để từ đó làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền
kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì việc sử dụng ngân sách nhà nước hiện nay
còn nhiều bất cập, chưa đúng cách, đúng lúc, cấp vốn đầu tư chưa hiệu quả, sự yếu kém trong việc
quản lí thu chi ngân sách; tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước kéo dài đã đặt ra một vấn đề rất
đáng quan tâm khi xem xét về ngân sách nhà nước.
Vậy thế nào là thâm hụt ngân sách nhà nước? Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt? Ảnh hưởng của
thâm hụt ngân sách đến tình hình kinh tế - xã hội là như thế nào? Thực trạng và các biện pháp xử lí
bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
Tất cả những vấn đề trên sẽ được phân tích và giải quyết trong đề tài: “Thâm hụt ngân sách Việt

tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời
gian nhất định, thường là một năm.
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của
nhà nước.
Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động
và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày
16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để
đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Thực chất, Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá
trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật
định.
Tóm lại: NSNN là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng năm của chính phủ bao gồm
các khoản thu (chủ yếu từ thuế), các khoản chi ngân sách.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh
tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng
đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền
đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.
5

2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
 Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị
của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên
cơ sở những luật lệ nhất định;
 Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở
hai lãnh vực thu và chi của nhà nước;
 Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích

nước
Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí
nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế,vì vậy
cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách phải hợp với khả năng đóng
góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế
Quản lí điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát
triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo
mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển ổn định và bền vững.
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết
cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường
và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
(có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh
của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một
trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng
cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng
có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ
cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng
việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định
hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
Về mặt kinh tế
Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các
công cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư
của các doanh nghiệp.ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo
điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động thanh
7

Về mặt xã hội

nhỏ hơn các khoản chi. Thâm hụt ngân sách được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với GDP (khi
8

tính người ta thường tách riêng các khoản thu mang tính hoán trả trực tiếp như viện trợ, vay nợ ra
khỏi số thu thường xuyên và coi đó là nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách).
B = T – G
B < 0 :Thâm hụt ngân sách (B là hiệu số giữa thu và chi)
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước là đảm bảo
sự cân đối giũa thu và chi. Tuy nhiên do khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm, thời kỳ vừa
qua (1976 đến nay) các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên ngân sách nhà nước mới bội chi kinh
niên.Thâm hụt ngân sách cũng là hiện tượng phổ biến ở các quốc gia trên toàn thế giới
2. Các dạng thâm hụt ngân sách:
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và
thâm hụt chu kỳ.
 Thâm hụt ngân sách cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính
sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay
quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,
 Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ
kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví
dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế
giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
3. Tác động của thâm hụt NSNN đối với nền kinh tế
Ngân sách là một công cụ quản lí vĩ mô của nhà nước. Thông qua ngân sách, nhà nước sẽ
tham gia vào việc điều chỉnh những vấn đề lớn của nền kinh tế như: tích lũy và tiêu dùng, xuất và
nhập khẩu. Vì vậy ngân sách và vấn đề thâm hụt ngân sách là mối quan tâm sâu sắc của mỗi quốc
gia.
Thâm hụt NSNN có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế của một nước tùy
theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt:
 Tác động tích cực: Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng thì
chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách chấp nhận thâm hụt để thúc đẩy hoạt động kinh

Trong số này thì phần lớn vẫn đến từ nguồn thu thuế và phí, thu về vốn chiếm khoảng 2% và thu
viện trợ không hoàn lại chỉ chiếm khoảng 0,5% (Hình 10). Năm 2009 nguồn thu từ thuế có dấu
hiệu suy giảm nhẹ do Chính phủ thực hiện hàng loạt các biện pháp cắt giảm nhằm kích thích
tổng cầu. Tuy nhiên sang năm 2010 thì tỉ lệ thu thuế lại gia tăng trở lại, lên đến gần 30%. Theo
như Dự toán NSNN trong hai năm gần nhất là 2011 và 2012 thì tỉ lệ thu thuế đang có xu hướng
giảm xuống chỉ còn khoảng 25%. Mặc dù vậy những con số của năm 2011 và 2012 chưa thể
phản ánh đúng xu hướng này, do nếu căn cứ vào thực trạng tổng thu NSNN từ năm 2003 đến
2010 thì những số liệu quyết toán luôn luôn vượt so với những số liệu dự toán. Hình 10: Các nguồn thu trong NSNN của Việt Nam 2003-2012 (% GDP)35.030.025.020.015.010.0



30.0
25.0
20.0
15.0
10.0
5.0
0.0

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

lệ thuộc nhiều vào dầu thô như trước đây, mặc dù vẫn giữ được sự ổn định. Hình 12: Cơ cấu nguồn thu NSNN 2003-2012 phân theo từng khu vực (% tổng
thu)100%

90%

80%

70%

60%

45,7 45,1
40,7
38,6
42,8
42,7
47,7
46,3
40,8
39,1


29,6
32,1
35,9
37,8
33,0
30,7
24,0
22,8
23,9 24,9
18,2
16,2 16,4 16,0
14,9
16,5
18,0
19,1
21,8
21,02003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khu vực khác13,5
13,4
13,6

48,2
48,2
47,8 48,3 48,8 49,4


41,0 41,0 41,1 37,8

37,0


50%40%30%20%10%0%

20
15
10
5
0
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Nguồn: Quyết toán NSNN (2003-2010) và Dự toán NSNN (2011-2012), Bộ Tài chính
1050
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012Tổng chi cân đối NSNN Chi đầu tư phát triển Chi thường xuyên
Nguồn: Quyết toán NSNN (2003-2010) và Dự toán NSNN (2011-2012), Bộ Tài chính Nhìn vào hình 16 có thể thấy nếu như so sánh với các quốc gia khác trong khu vực cũng
như các quốc gia khác ở châu Á, chi tiêu công của Việt Nam cũng vượt trội, vào khoảng trên
dưới 30% GDP. Trong khi đó, ngoại trừ Malaysia và Trung Quốc vào khoảng 25% thì tỉ lệ này
tại các quốc gia còn lại như Thái Lan, Indonesia, Philippines hay Ấn Độ chỉ vào khoảng 15-20%.
15

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011Vietnam Thailand China India Indonesia Philippines Malaysia
Nguồn: ADB (Key Economic Indicators 2012)
2. Thực trạng thâm hụt ngân sách

Giai đoạn trước năm 1986, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở tình trạng cao quá mức, thu
ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên, chi tiêu của Chính phủ Việt Nam phải dựa chủ
yếu vào sự viện trợ của nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu.
Sang giai đoạn 1986-1990, trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiến hành đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường
có định hướng XHCN. Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổi mới
một bước. Tuy nhiên, thu NSNN càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay
trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành.
Giai đoạn 2001-2010: trong những năm gần đây, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể.
Tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân hàng năm đạt 18,5%. Bội
chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP.

16 Đơn vị tính: Tỷ Đồng
Năm


2005

40.746

4,86%

2006

48.500

5%

2007

56.500

5%

2008

66.200

4,95%

2009

142.355

6,9%

-1,8
2004-1,1
2005-0,9
2006-0,9

2007-1,76
2008-1,81

2009-3,69
2010
h
íc
h
:

Bảng 7: Thâm hụt ngân sách Việt Nam 2001-2011 (% GDP)

-3.0

-4.0

-5.0

-6.0

-7.0Malay s ia
India
Vietnam
Philippines
Thailand
China
Indon es ia
2009 2010
2011
Nguồn: ADB (Key Economic Indicators 2012)

Số liệu của Bộ Tài chính cũng chỉ rõ nguồn bù đắp bội chi NSNN của Việt Nam, bao
gồm các khoản vay trong nước và vay nước ngoài (Bảng 8). Theo đó, thông thường Việt Nam

2010

2011

Tổng

10,904

7,881

7,140

8,964

20,094

26,746

61,198

74,370

71,360

Nợ trong nước

6,327

4,671



6,779

15,037

30,338

11,270

16,310Theo thông lệ VN (gồm cả chi trả nợ gốc)2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010


48,009

78,150

98,700

92,600

Nợ nước ngoài 7,041

7,253

8,326

12,749 12,995

19,668

36,292

21,000

28,000Nguồn: Quyết toán và Dự toán NSNN 2003-2011

II. Nguyên nhân:
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân

tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-
12%GDP.
 Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách, áp lực bội chi ngân
sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn
thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và
được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để
đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi
hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu
quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách. Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi
vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực
bội chi NSNN.
 Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn.
Tăng chi tiêu của Chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn,
nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả
20

của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ
thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của
chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi
tiêu của Chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây
ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng
là gây ra lạm phát.
 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng
như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh
tế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm. Về nguyên
tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt
ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước

doanh.
+ Thu nhập từ việc bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tế.
+ Thu từ việc bán tài sản của nhà nước cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây.
+ Thu từ lợi nhuận tư hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước.
- Thu từ các khoản phí, lệ phí:
Lệ phí với phí tuy là các khoản thu chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của
NSNN nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã
hội.
Lệ phí là khoản thu mang tính chất thuế vì nó mang tính cưỡng chế được quy định trong
những văn bản pháp luật của nhà nước nhưng đồng thời nó lại mang tính chất phục vụ cho những
người nộp lệ phí. Ví dụ: lệ phí tòa án, lệ phí công chứng
22

Phí là các khoản thu mang tính chất thuế, là khoản thu mang tính chất bù đắp một phần chi
phí thường xuyên và không thường xuyên và các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các
hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ cho người nộp thuế.
- Thu từ các nguồn viện trợ:
 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước
• Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các
chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;
• Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở
các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v
• Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ
yếu.
 Yếu tố ảnh hưởng thu ngân sách nhà nước
• Thu nhập GDP bình quân đầu người: đây là nhân tố quyết định đến mức động viên của
ngân sách nhà nước;
• Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế: đây là chi tiêu phản ánh hiểu quả của đầu tư phát
triển kinh tế, tỉ suất này càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn, do đó thu ngân sách nhà nước phụ

Các doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 1-1-2009 và đang được hưởng các ưu đãi đầu tư theo
quy định hiện hành sẽ tiếp tục được áp dụng thời gian ưu đãi như cũ.
Luật mới cũng khống chế cách xác định thời gian bắt đầu tính thuế ưu đãi: tính từ năm có thu nhập
chịu thuế. Nếu doanh nghiệp nào lỗ trên 3 năm, thì năm đầu tiên tính ưu đãi là năm thứ 4.

Thay đổi về thuế GTGT: Thu hẹp nhóm hàng hoá dịch vụ có thuế suất 5%. Đây là bước chuyển
tiếp để tiến đến chỉ duy trì hai mức thuế suất là 0% và phổ thông 10%.
Ví dụ: hiện nay qui định sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất là 5% còn phục vụ tiêu dùng là 10%,
tuy nhiên rất khó phân biệt hai loại này nên sẽ chuyển hết sang 10%; sản phẩm luyện cán kéo kim
loại cũng chuyển hết sang thuế suất 10%; hóa chất cơ bản, thông thường được chuyển qua nhóm
10%; máy xử lý tự động; than đá, đất đá sỏi, bốc xếp trục vớt cứu hộ…cũng vậy.

Hệ thống thuế ở Việt Nam là một hệ thống thuế gồm khoảng 8 loại thuế và khoảng hơn 100 loại
phí và lệ phí được quản lý tập trung.

Thuế nhập khẩu đóng góp tới 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, khoản thu này
đang giảm đi do các hiệp định tự do hóa thương mại mà Việt Nam đang tham gia
24


Thu từ thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong đóng góp ngân sách nhà nước, 46% trong
giai đoạn 2001-2005
.
Các loại thuế gián thu ở Việt Nam bao gồm thuế xuất khẩu-nhập
khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí xăng, dầu.
 Danh sách các loại thuế, phí và lệ phí hiện hành
Lo
ại thuế

Lu

Thu
ế ti
êu th
ụ đặc biệt h
àng hóa nh
ập
khẩu
Lu
ật thuế ti
êu th
ụ đặc biệt số
27/2008/QH12
Chính quy
ền trung
ương

Thu
ế thu nhập doanh nghiệp của các
đơn vị hạch toán toàn ngành
Lu
ật thuế thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12
Chính quy
ền trung
ương

Thu
ế từ dầu khí

Ngh

14/2008/QH12, Luật thuế thu nhập cá
nhân số 04/2007/QH12
Chính quy
ền trung
ương, chính quy
ền
địa phương
Thu
ế thu nhập cá nhân

Lu
ật thuế thu nhập cá nhân số
04/2007/QH12
Chính quy
ền trung
ương, chính quy
ền
địa phương
Thu
ế chuyển lợi nhuận ra n
ư
ớc ngo
ài,
không kể thuế chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí
Lu
ật thuế thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12
Chính quy
ền trung

ương

Thu
ế t
ài nguyên, không k
ể thuế t
ài
nguyên thu từ dầu, khí
Ngh
ị định số 05/2009/NĐ
-
CP

Chính quy
ền địa ph
ương

Thu
ế môn b
ài

Ngh
ị định số 75/2002/NĐ
-
CP,

Thông tư
số 42/2003/T T-BTC
Chính quy
ền địa ph


b. Giảm chi
 Nội dung chi ngân sách nhà nước:
Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm
bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung
vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi ngân sách nhà nước là
những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu,
từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.
Quá trình của chi ngân sách nhà nước
+ Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước để hình thành các loại
quỹ trước khi đưa vào sử dụng;
+ Quá trình sử dụng: là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách nhà nước mà không
phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
Căn cứ vào mục đích chi tiêu chia nội dung chi thành:
• Chi tích lũy: Chi cho tăng cường cơ sở vật chất như đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ
tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội
• Chi tiêu dùng: tạo ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trong tương lại. Chi bảo đảm xã
hội, bao gồm:
o Giáo dục;
o Y tế;
o Công tác dân số;
o Khoa học và công nghệ;
o Văn hóa;
o Thông tin đại chúng;
o Thể thao;
o Lương hưu và trợ cấp xã hội;
o Các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế;
o Quản lý hành chính;
o An ninh, quốc phòng;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status