THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM : THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 14

1

BỘ CÔNG THƢƠNG
TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***** TRỊNH MINH QUANG
THỊ TRƢỜNG VÀNG VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Kinh tế
Mã ngành :

doanh vàng 11
2.11 Mô hình quản lý thị trƣờng vàng của Trung Quốc 11

3

CHƯƠNG 3 : THỊ TRƢỜNG VÀNG VIỆT NAM: TÌNH TRẠNG ĐỘC
QUYỀN NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ QUẢ 13
3.1 Giai đoạn 1976 - 2011 15
3.2 Giai đoạn 2012 - nay 17
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỊ TRƢỜNG HOẠT ĐỘNG HIỆU
QUẢ 22
4.1 Giải pháp trƣớc mắt 22
4.2 Giải pháp lâu dài 23
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 26
Tài liệu tham khảo 27
4

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Có thể nói, đây là thời điểm thích hợp để nhìn lại và đánh giá hoạt động
kinh doanh vàng ở Việt Nam. Toàn xã hội đang theo dõi hoạt động kinh doanh

Trong luận văn tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phân tích,
so sánh, thống kê, tổng hợp. Với những kiến thức, những tài liệu tích lũy được
trong quá trình học tập từ những năm tháng là sinh viên, học viên; bằng khả năng
tổng hợp; liên kết logic; đánh giá vấn đề trên cơ sở lý luận biện chứng, tôi mạnh
dạn đưa ra những quan điểm, ý kiến của cá nhân mình.
1.6 Bố cục của đề tài
Đề tài gồm 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Một vài khái niệm
Chương 3: Thị trường vàng Việt Nam: tình trạng độc quyền, nguyên nhân
và hệ quả
Chương 4: Một số giải pháp để thị trường hoạt động hiệu quả
Chương 5: Kết luận
6

CHƯƠNG 2: MỘT VÀI KHÁI NIỆM
2.1 Phân loại Độc quyền
Độc quyền do việc kiểm soát đặc biệt các nguồn lực then chốt.
Độc quyền do sở hữu bằng phát minh sáng chế.
Độc quyền do giấy phép hay đặc quyền của chính phủ.
Độc quyền tự nhiên là tình trạng trong đó các yếu tố hàm chứa trong các quá
trình sản xuất đã cho phép công ty có thể giảm liên tục chi phí sản xuất khi qui mô
sản xuất mở rộng, do đó cách thức tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là tập trung sản
xuất vào tay một doanh nghiệp duy nhất.
2.2 Tổn thất do độc quyền Mức sản lượng tối ưu có thể sản xuất được là với Q
c
mức giá là P

Phi hiệu quả của độc quyền
Sản lượng cung cấp không đạt mức tối ưu

P
B
N
7

một diện tích là tam giác NBC vì doanh nghiệp phải bỏ thêm chi phí để sản xuất
tới Q
C

Nhưng trong thị trường độc quyền tự nhiên thì doanh nghiệp tìm cách tối đa
hóa lợi nhuận bằng cách định giá khi MC = MR là P
m
và hạn chế sản lượng xuống
Q
m
thì thặng dư của người tiêu dùng chỉ còn là tam giác AP
m
M và doanh nghiệp
không phải bỏ thêm chi phí nào để thu được lợi nhuận.
Vậy khi giảm sản lượng từ Q
c
đến Q
m
thì thặng dư của người tiêu dùng mất
đi khi định giá độc quyền P
m
là hình thang P

toàn cầu như hiện nay các quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu tư trên toàn thế giới
tăng cường dự trữ vàng
2.5 Các nhân tố ảnh hƣởng đến vàng
Có nhiều nhân tố tác động đến giá vàng trong nước như: sự biến động giá
vàng thế giới, tỷ giá USD/VND, tăng trưởng kinh tế Việt Nam, biến động cung -
cầu vàng trong nước và các chính sách quản lý thị trường vàng của Nhà nước. Tuy
nhiên, tác nhân chính ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam là biến động cung
- cầu vàng trên thế giới sau đó mới đến các yếu tố trong nước và vai trò quản lý thị
trường vàng của Ngân hàng Nhà nước.
2.6 Hiện tƣợng vàng hóa trong các giao dịch kinh tế.
Khái niệm này xuất hiện khi vàng trở thành một phương tiện thanh toán,
người dân dùng vàng trong các giao dịch kinh tế thay vì sử dụng đồng nội tệ. Một
trong những mục tiêu quan trọng trong quản lý là “chống vàng hóa”. Tuy nhiên
không nên lầm lẫn giữa khái niệm vàng hóa với việc mua bán tích trữ vàng của
người dân để tiết kiệm hay phòng ngừa lạm phát mà chúng ta không thể cấm.
2.7 Vai trò của vàng.
Vàng vừa có vai trò là một hàng hóa đặc biệt vừa có vai trò là tiền tệ.
Vai trò hàng hóa của vàng. Vàng trước tiên được dùng làm đồ trang sức, mỹ nghệ
do vàng có mầu sắc rực rỡ, dễ gia công và không bị ăn mòn. Đồ trang sức bằng
vàng từ lâu đã được ưa chuộng nhờ tính thẩm mỹ và độ bền của màu vàng, là biểu
tượng của sự giàu có và quyền lực. Ngày nay, với sự phát triển của trình độ kim
hoàn, sản phẩm trang sức bằng vàng có mẫu mã ngày càng phong phú, thu hút
được sự quan tâm của người tiêu dùng và do đó nhu cầu vàng trang sức vẫn không
ngừng tăng cao ở các quốc gia. Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, vàng còn là
nguyên liệu quan trọng trong các ngành dược, thực phẩm, cơ khí và điện tử.
9

Vai trò tiền tệ của vàng. Vàng được dùng để làm chuẩn đo giá trị của các tài
sản khác đặc biệt là tài sản có giá trị lớn như nhà cửa, đất đai… Vàng còn là
phương tiện cất trữ phổ biến hơn bất kỳ loại tiền tệ nào do tính chất vật lý bền

1300-1400 sau Công
nguyên
Thời kỳ của tiền giấy cùng với những đồng
tiền vàng, bạc và tiền kim loại khác.
Từ năm 1850
Chuyển từ chế độ song bản vị tiền vàng và bạc
sang chế độ bản vị đơn: Chế độ bản vị vàng
đầy đủ
Sau năm 1941
Chuyển đổi dần sang chế độ bản vị vàng khối,
giấy bạc được đảm bảo bằng vàng khối với tỷ
lệ do pháp luật quy định
Sau năm 1925
Chuyển dần sang chế độ bản vị vàng chuyển
đổi, nguồn dự trữ tiền tệ có thể giữ dưới dạng
tiền đảm bảo bằng vàng. Sau năm 1940, đồng
tiền duy nhất các Ngân hàng trung ương có thể
dùng để mua vàng là USD với bản vị chuyển
đổi giá ngang nhau là 35USD/oz
Từ năm 1968
Bãi bỏ chế độ giá vàng ấn định 35USD/oz.
Thị trường vàng chia thành Thị trường chính
thức cho các giao dịch của Ngân hàng trung
ương tự do cho các thành viên khác.
Năm 1971
Mỹ bỏ chế độ chuyển đổi USD ra vàng
Năm 1973
Các Ngân hàng trung ương được quyền bán
vàng ra thị trường tự do, chế độ tỷ giá thả nổi.
11

- Giai đoạn từ 2001-2006
Sự ra đời của loại hình kinh doanh vàng trên tài khoản:
Tháng 12/2006 cùng với việc cho phép nhà đầu tư cá nhân tham gia giao dịch
vàng miếng, PBOC cũng chính thức cho phép các Ngân hàng thương mại được
phép cung cấp dịch vụ kinh doanh vàng tài khoản cho khách hàng cá nhân. Theo
quy định của PBOC, nhà đầu tư cá nhân chỉ được phép giao dịch trong giới hạn số
dư tài khoản tiền hoặc vàng của họ. Tức là ngân hàng không được phép cho nhà
đầu tư vay để đầu tư vượt quá số tiền hoặc vàng họ đang nắm giữ hay không sử
dụng đòn bẩy tài chính (tỷ lệ ký quỹ 100%). Quy định này sẽ hạn chế quy mô giao
dịch vàng tài khoản nhưng sẽ giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư trong trường hợp
đầu tư thua lỗ.
Vai trò quản lý của Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa đối với Sàn
giao dịch vàng Thượng Hải.
Sàn giao dịch vàng Thượng Hải (SGE) là pháp nhân độc lập do Nhà nước đầu tư
vốn 100% (vốn điều lệ đăng ký là 30.000.000 RBM, tương đương khoảng 4,2 triệu
USD), thời gian hoạt động là 50 năm. Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung
Hoa là cơ quan quản lý giám sát toàn bộ hoạt động của Sàn giao dịch vàng
Thượng Hải. Trong quy chế hoạt động của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải ghi rõ
“Sàn giao dịch vàng Thượng Hải chịu sự quản lý và giám sát của Ngân hàng
Trung ương Nhân dân Trung Hoa”. Vai trò quản lý của Ngân hàng Trung ương
Nhân dân Trung Hoa thể hiện rõ nhất đối với cơ cấu tổ chức, nhân sự Sàn giao
dịch vàng Thượng Hải.
13

CHƯƠNG 3 : THỊ TRƢỜNG VÀNG VIỆT NAM: TÌNH TRẠNG
ĐỘC QUYỀN NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ QUẢ
3.1 Giai đoạn 1976 - 2011
Từ sau năm 1975, ở Việt Nam, Nhà nước dùng các biện pháp hành chính
mạnh để kiểm soát và điều khiển giá vàng. Việc giao dịch vàng, kể cả vàng trang
sức lẫn vàng miếng của tư nhân bị cấm; việc dùng vàng để định giá, thanh toán

điều kiện dược phép kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài, quy định cụ thể việc
huy động vàng và cho vay bằng vàng
Sàn giao dịch vàng vật chất cũng nở rộ, phát triển mạnh và trở nên phức tạp
trong các năm 2008 - 2009 với hơn 20 sàn giao dịch trước khi Chính phủ ban hành
lệnh cấm vào cuối năm 2009.
Hệ quả: Thị trường có biểu hiện của thị trường cạnh tranh độc quyền. Một số
doanh nghiệp kinh doanh vàng có quy mô lớn chiếm lĩnh thị trường, tiêu biểu như:
SJC, SBJ, vàng Rồng Thăng Long, Điều này làm cho thị trường hoạt động kém hiệu
quả, có hiện tượng đầu cơ ép giá, gây bất ổn thị trường vàng trong nước. Việc
nhập khẩu vàng miếng “ngốn” một lượng ngoại tệ rất lớn của nền kinh tế, làm tiền
đồng mất giá tỷ giá hối đoái tăng cao, nhâp siêu tăng, gián tiếp làm giảm lòng tin
của người dân vào tiền đồng, lạm phát tăng, ảnh hưởng đến tính ổn định kinh tế vĩ
mô. Ngoài ra hiện tượng người dân dùng vàng làm phương tiện tích trữ tài sản làm
giảm một lượng vốn vô cùng lớn cho sản xuất kinh doanh. Từ lâu người dân còn
sử dụng vàng và đô la làm phương tiện thanh toán tạo nên hiện tượng đô la hóa,
vàng hóa. Cộng thêm việc giá vàng trên thế giới ngày càng tăng và từng bước
chinh phục các đỉnh giá mới càng làm cho người dân có xu hướng gia tăng dự trữ
vàng.
Nguyên nhân:
Do thị trường hoạt động kém hiệu quả.
15

Do chính phủ và người dân đều mong muốn tích trữ vàng. Do vàng là một
loại hàng hóa đặc biệt. Vàng có đầy đủ ba chức năng bao gồm: chức năng phương
tiện thanh toán, thước đo giá trị và phương tiện tích trữ. Lịch sử tiền vàng kéo dài
hàng mấy nghìn năm và phổ biến trên khắp các nước với những biến cố, những
giai đoạn thăng trầm khác nhau mà chưa có một loại tiền hay hàng hóa nào có thể
thay thế đươc vai trò của vàng.
Do Chính phủ buông lỏng việc kinh doanh vàng miếng.
3.2 Giai đoạn 2011 - nay

và quy tụ thành nguồn thu bổ sung cho ngân sách nhà nước chung theo quy định
của pháp luật.
Tính đến ngày 10/01/2013, NHNN đã cấp phép kinh doanh vàng miếng cho
22 ngân hàng và 16 doanh nghiệp, với 2.497 điểm kinh doanh tại 63 tỉnh thành
trên cả nước (TP. Hồ Chí Minh có khoảng 900 điểm và Hà Nội khoảng 400 điểm).
Những đơn vị chưa được cấp phép kinh doanh, mua bán vàng miếng sẽ chỉ được
mua bán vàng trang sức hoặc chuyển đổi sang loại hình kinh doanh khác. Cửa
hàng nào không có giấy phép kinh doanh vàng miếng mà vẫn mua bán vàng miếng
sẽ bị phạt tiền từ 50 đến 100 triệu đồng theo Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ban
hành năm 2011
Theo Thông tư số 06/2013/ TT-NHNN ngày 12/3/2013 cùa NHNN về hướng
dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước, NHNN có thể tùy
từng thời điểm để tổ chức đấu thầu (đấu thầu theo gỉá hoặc theo khối lượng) và
mua bán trực tiếp. Quy trình đấu thầu (gồm 11 bước từ khi thông báo đến ký văn
bản xác nhận, mua bán) và mua bán trực tiếp (gồm 7 bước từ thông báo mua bán,
tổ chức chuyển tiền đặt cọc).
Khi đấu thầu theo khối lượng, trường hợp tổng số lô vàng miếng đặt thầu
bằng hoặc thấp hơn khối lượng NHNN mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu
bằng khối lượng doanh nghiệp, tổ chức tín dụng đặt thầu. Nếu số lô đặt thầu vượt
quá khối lượng NHNN thông báo thì mức trúng thầu xếp thứ tự từ cao nhất xuống
17

thấp nhất, Trường hợp ở mức khối lượng trúng thầu thấp nhất có nhiều dơn vị đặt
mua hoặc bán thì khối lượng còn lại chia đều cho tất cả.
Khi đấu thầu theo giá, xét theo thứ tự giảm dần từ giá trúng cao nhất cho tới
thấp nhất mà tại đó NHNN bán dược khối lượng tối đa; hoặc xét theo thứ tự từ
thấp đến cao nếu NHNN mua được khối lượng tối đa, Giá trúng thầu của từng đơn
vị là giá đặt thầu của chính đơn vị đó.
Tính cho đến hết ngày 26/7/2013, sau 4 tháng triển khai, đã có 47 phiên đấu
thầu bán vàng miếng SJC, tổng khối lượng trúng thầu là 1.271.400 lượng (giảm 49

ngoài ra, đã mua lại được của dân gần 100 tấn vàng.
Có thể nói, tuyệt đại đa số yêu cầu của Quốc hội về thị trường vàng đã được
thực hiện và bước đầu có kết quả rất tích cực, ngoại trừ thực tế giai đoạn 2012 -
2013, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới ở mức cao hơn nhiều so với
giai đoạn trước. Theo Thống đốc NHNN, đến nay, toàn bộ hoạt động nhập vàng
do nhà nước đảm nhiệm và toàn bộ chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá
vàng thế giới là thuộc về NSNN để đầu tư lại cho nền kinh tế, thực hiện các công
trình phúc lợi xã hội.
Việc thu hẹp giá vàng trong nước và thế giới không làm bình ổn thị trường
vàng, không loại bỏ được các tác động tiêu cực lên kinh tế vĩ mô, không làm giảm
vàng hóa, mà trái lại, ở các chừng mực khác nhau lại có tác động ngược lại. Chính
chênh lệch giá vàng cao ở những thời điểm nhất định và hoạt động can thiệp theo
hình thức đấu giá của NHNN đã giữ cho giá vàng trong nước và thị trường vàng
trong nước ổn định trước những biến động bất thường của giá vàng thế giới, đã
làm mất đi động lực đầu cơ, làm giá, tạo sóng kiếm lờí của giới đầu cơ, và do vậy,
góp phần kiềm chế "vàng hóa" nền kinh tế.
Ngoài ra, thực hiện cơ chế quản lý vàng mới theo tinh thần Nghị định
24/2012/NĐ-CP đã giúp tiết giảm nguồn ngoại tệ cho mục tiêu nhập khẩu vàng.
19

NHNN cho biết đã cấp phép nhập khẩu bình quân khoảng 50 - 60 tấn vàng nguyên
liệu để sản xuất vàng miếng. Đồng thời, khối lượng ngoại tệ NHNN sử dụng để
nhập khẩu vàng lá nhỏ hơn nhiều lần lượng ngoại tệ nền kinh tế phải bỏ ra để nhập
khẩu vàng trong những năm trước đây, Và lượng ngoại tệ này chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ so với lượng ngoại tệ NHNN đã mua vào tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước
trong thời gian qua.
Đặc biệt, trả lời câu hỏi, liệu chúng ta có thể thu hẹp chênh lệch giá vàng
trong nước và thế giới lại được không, làm như thế nào và bao giờ làm được,
Thống đốc NHNN nhấn mạnh, mục tiêu trước mắt và mục tiêu trực tiếp là bình ổn
thị trường vàng nói chung, trong đó có bình ổn giá vàng trong nước để tránh việc

như trước đây.
- Tránh được tác động lên xuống thất thường của giá vàng nước ngoài
- Giúp tiết giảm nguồn ngoại tệ cho mục tiêu nhập khẩu vàng. Vàng không còn
ảnh hưởng mạnh tới thị trường ngoại hối, tỷ giá ổn định, lạm phát được kiểm chế.
- Đã mua lại được của dân gần 100 tấn vàng, góp phần kiềm chế "vàng hóa"
nền kinh tế, dần đưa lượng tiền tích trữ bằng vàng vào trong lưu thông.
b) Mặt hạn chế: Thi trường vàng độc quyền làm giảm thặng dư xã hội.
- Người mua vàng chịu thiệt.
- Thị trường vàng trong nước hiện không có sự liên thông vớí thế giới và có
mức giá vàng miếng thường cao hơn so với giá quốc tế.
- Sự chênh lệch giá vàng dẫn đến nạn buôn lậu, hàng giả.
- Về công tác quản lý: Việc “vừa đá bóng vừa thổi còi” hiện nay của
NHNN làm cho thị trường vàng Việt Nam phát triển thiếu minh bạch. Cần sự mẫn
cán của cán bộ cho việc quản lý thị trường độc quyền “béo bở”, có gì bảo đảm
rằng quyền mua và quyền bán vàng… không bị cá nhân lợi dụng. Điều này dễ dẫn
21

đến tình trạng thị trường hoạt động không còn hiệu quả như thuở ban đầu. Đây
chính là sự mong manh của thị trường vàng hiện nay.
Nguyên nhân: Do chính phủ mong muốn ổn định thị trường vàng và kinh tế
vĩ mô và đã can thiệp quá sâu vào thị trường. Do thị trường vàng Việt Nam chưa
phát triển.
22

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỊ TRƢỜNG HOẠT
ĐỘNG HIỆU QUẢ HƠN
4.1 Giải pháp trƣớc mắt
 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý, không để xảy ra tình trạng lợi
ích nhóm, lợi ích cá nhân.
 Cần có cơ chế hợp lý để đưa giá vàng trong nước gần hơn với giá vàng

Đầu tư và Kinh doanh Vàng VN, chia sẻ. Nếu xét một cách căn cơ, cứ để vàng
được giao dịch như một hàng hóa trên thị trường, người mua bán được quyền giao
dịch qua chứng chỉ vàng và có sàn vàng quốc gia kiểm soát nó, thì lại là một cách
quản lý bền vững và phù hợp theo nguyên lý thị trường. Kinh nghiệm làm các sàn
vàng trước đây của chúng tôi là có thể cân đối được, bởi chúng tôi có kỹ quý
khoảng 7-10% qua các tài khoản ở nước ngoài. Khi vàng thế giới lên, mức ký quỹ
đủ đảm bảo nguồn vàng đối ứng. Hơn nữa, xét hiệu quả kinh tế lâu dài, khi dân đã
thấy bất kỳ lúc nào họ cũng có thể mua bán vàng ngang với giá vàng thế giới, thì 1
năm, 2 năm, 5 năm sau, họ có nhu cầu giữ vàng nữa không? Khi dân không còn
nhu cầu giữ vàng, áp lực dân rút vàng đồng loạt cũng giảm thiểu. Đây có thể nói là
một mũi tên bắn 2 đích, huy động được vàng trong dân, giảm bớt sự phân tán
nguồn lực ngoại tệ nhập khẩu vàng và mũi tên trúng đích thứ ba trong dài hạn là sẽ
hạn chế được vàng hóa trong nền kinh tế – như tinh thần Nghị quyết 24.
Dưới đây là một số mặt tích cực và mặt hạn chế so sánh giữa tình trạng nhà
nước độc quyền kinh doanh vàng hiện tại và giải pháp thành lập sàn vàng. Nhà nước độc quyền kinh
doanh vàng
Thành lập sàn vàng
Mặt tích cực
- Thị trường hoạt động ổn định.
- Tiết giảm được nguồn ngoại
24

- Tránh được tác động lên
xuống thất thường của giá vàng
nước ngoài
- Giúp tiết giảm nguồn
ngoại tệ cho mục tiêu nhập khẩu

giới.
- Sự chênh lệch giá vàng dẫn
đến nạn buôn lậu, hàng giả.
- Thị trường thiếu minh bạch.
Nhà nước quản lý chính mình
có thể là nguyên nhân gây ra
- Phụ thuộc vào thị trường vàng
thế giới và tình hình trên thế
giới. Vàng thế giới không phải
không có những bất ổn như nạn
đầu cơ và những toan tính
- Ngân hàng vàng có thể phải
chịu những rủi ro về sự biến
động của giá vàng thế giới.
- Việt Nam còn non kém trong
việc quản lý một thị trường
25

nhiều vấn đề phát sinh.
- Thị trường hoạt động không
bền vững và tự nhiên.
vàng hoạt động tự do và có sự
liên thông với thế giới. Điều
này có thể phát sinh những vấn
đề không lường trước được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status