TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ GTGT
TẠI VIỆT NAM. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hoài Anh
Lớp : Anh 1 K41- KTNT
Giáo viên hướng dẫn : THS.Ngô Quý Nhâm
1. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CÓ NHIỀU BẤT CẬP 47
2. TỔ CHỨC QUẢN LÝ VIỆC THỰC THI LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
THIẾU HỢP LÝ 57
3. THIẾU PHƢƠNG TIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRỢ GIÚP 60
3. Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÒN KÉM
61
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
1
4. SỰ THOÁI HÓA ĐẠO ĐỨC CỦA MỘT SỐ CÁN BỘ CHỨC NĂNG 62
5. THÓI QUEN MUA HÀNG KHÔNG LẤY HOÁ ĐƠN CỦA NGƢỜI TIÊU
DÙNG 62
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH HÌNH GIAN LẬN VÀ TRỐN THUẾ
GTGT 65
I. CẢI CÁCH MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 65
1. CHUYỂN CÁC HỘ KINH DOANH CÓ QUY MÔ NHỎ SANG ÁP DỤNG HÌNH
THỨC THU THUẾ ĐƠN GIẢN THEO TỶ LỆ % TRÊN DOANH THU NHƢ HẦU
HẾT CÁC NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI ĐÃ THỰC HIỆN 66
2. THU HẸP CÁC MỨC THUẾ SUẤT 67
3. LOẠI BỎ QUY ĐỊNH KHẤU TRỪ CHO CÁC LOẠI BẢNG KÊ 67
4. THU HẸP CÁC TRƢỜNG HỢP ĐƢỢC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI
VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU 68
5. KẾT HỢP CƠ CHẾ HOÀN TRƢỚC KIỂM SAU VÀ KIỂM TRƢỚC HOÀN SAU
68
6. KHUYẾN KHÍCH CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ CÁC DOANH
NGHIỆP TỰ IN HÓA ĐƠN 69
II. THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỰ KÊ KHAI, TỰ NỘP THUẾ 70
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 89
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em xin đƣợc trân trọng gửi lời cảm ơn
đến thầy Ngô Quý Nhâm, giáo viên hƣớng dẫn trực tiếp, đã tận tình giúp đỡ em
trong việc biên tập nội dung và trình bày đề tài.
Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo
trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng đã tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất và thời
gian để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn các bạn lớp A1, K41, khoa KTNT, trƣờng Đại
học Ngoại Thƣơng đã giúp đỡ em tìm kiếm tài liệu và thu thập thông tin phục vụ
cho việc thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Hoài Anh
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp
nhà nƣớc. Những thủ đoạn mà các doanh nghiệp áp dụng để thực hiện hành vi gian
lận ngày càng tinh vi và ngày càng diễn ra với quy mô lớn hơn khiến cho các cơ
quan chức năng rất khó kiểm soát. Các vụ án liên quan đến gian lận và trốn thuế
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
2
GTGT đƣợc phát hiện ngày càng nghiêm trọng, trong đó có những vụ án gây thất
thoát cho ngân sách nhà nƣớc hàng trăm tỷ đồng. Việc gian lận và trốn thuế
GTGT đang trở thành vấn nạn của xã hội và vấn đề này cần sớm đƣợc giải quyết
triệt để. Đặc biệt là trong tình hình hiện nay khi Việt Nam sắp trở thành thành
viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO thì việc giải quyết triệt để hiện
tƣợng gian lận và trốn thuế của các doanh nghiệp là hết sức cần thiết và cần phải
làm càng sớm càng tốt.
Vì vậy ngƣời viết đã lựa chọn đề tài “Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT tại
Việt Nam. Nguyên nhân và giải pháp” để làm khoá luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài nghiên cứu này là nhằm đánh giá thực trạng kê khai và nộp
thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay và tìm ra nguyên nhân của những bất cập trong hệ
thống chính sách quản lý thuế GTGT hiện nay. Từ đó, ngƣời viết đƣa ra một số giải
pháp để nâng cao hiệu quả thực thi Luật thuế GTGT tại Việt Nam và hƣớng tới
hoàn thiện hệ thống Thuế nói chung của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện bài nghiên cứu này đƣợc tổng quát, ngƣời viết đã sƣu tập các thông
tin, số liệu về các doanh nghiệp, cơ quan thuế trên cả nƣớc thông qua các kênh
thông tin đại chúng. Nhƣng vì điều kiện và thời gian có hạn nên ngƣời viết chỉ trực
tiếp phỏng vấn , xin thông tin trực tiếp ở các doanh nghiệp tại Hà Nội và một số
doanh nghiệp ở các tỉnh lân cận.
thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay. Chƣơng III, ngƣời viết sẽ đƣa ra các giải pháp tối
ƣu và khả thi nhất để có thể giải quyết các bất cập đang tồn tại.
Do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn nên bài viết này chắc hẳn không
tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các độc giả.
Xin chân thành cảm ơn! Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
4
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG
Trong chƣơng 1 này, ngƣời viết xin đƣợc giới thiệu những nét khái quát nhất về
thuế giá trị gia tăng, luật thuế giá trị gia tăng và các khái niệm liên quan để ngƣời
đọc có những hình dung tổng quát nhất về thuế giá trị gia tăng trƣớc khi đi vào xem
xét thực trạng thực thi Luật thuế GTGT áp dụng ở Việt Nam hiện nay đƣợc giới
thiệu ở các chƣơng sau.
I. Một số khái niệm và vai trò của thuế giá trị gia tăng
Phần này sẽ giới thiệu với bạn đọc những khái niệm liên quan đến thuế giá trị
gia tăng và những vai trò của thuế giá trị gia tăng trong lƣu thông hàng hóa và trong
việc quản lý nhà nƣớc về kinh tế.
1. Một số khái niệm liên quan đến thuế GTGT
Để tìm hiểu về thuế giá trị gia tăng, trƣớc hết phải xem xét đến các khái niệm
cơ bản liên quan đến thuế GTGT để từ đó có những hình dung cơ bản về thuế giá trị
về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lƣu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và
các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh
thu sẽ không ảnh hƣởng đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng mà còn làm cho giá cả
hàng hoá, dịch vụ hợp lý hơn, chính xác hơn.
Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ thế
giới (IMF) thì phần lớn các nƣớc trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế
GTGT, giá cả hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỉ lệ
không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân
chúng không giảm sút hoặc có giảm sút thì cũng giảm sút với một tỉ lệ không đáng
kể trong thời gian đầu, ngay cả khi tăng thuế suất thuế GTGT đối với một số mặt
hàng trong định kỳ điều chỉnh.
Nhƣ vậy, thuế GTGT không phải là nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn, trở
ngại cho việc phát triển sản xuất, lƣu thông hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế
GTGT đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, từ đó góp phần
thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu. Sở dĩ, thuế GTGT mang lại
hiệu quả nhƣ vậy là do thuế GTGT đã giải quyết đƣợc tình trạng thuế đánh chồng
lên thuế, đảm bảo đƣợc công bằng cho những nhà sản xuất, giới kinh doanh và
ngƣời tiêu dùng.
Vai trò của thuế GTGT trong quản lý nhà nước về kinh tế
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
6
Một trong những đặc trƣng của thuế là tính chất giai cấp. Thuế mang bản chất
giai cấp. Bản chất giai cấp của nhà nƣớc quyết định bản chất của thuế vì thuế là một
công cụ quản lý của giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị sẽ đặt ra những quy định
về thuế nhƣ thế nào để phục vụ cho lợi ích của giai cấp họ một cách triệt để nhất.
Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự
xuất không đủ thì sẽ đƣợc áp mức thuế suất thuế nhập khẩu và thuế GTGT thấp.
Ngƣợc lại, mặt hàng nào nhà nƣớc cần hạn chế nhập khẩu thì sẽ áp mức thuế suất cao.
Tiếp theo, vai trò thứ năm của thuế GTGT là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống
thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế GTGT đƣợc thực hiện căn cứ trên
hoá đơn mua vào đã thúc đẩy ngƣời mua phải đòi hỏi ngƣời bán xuất hoá đơn, ghi
doanh thu đúng với hoạt động mua bán, khắc phục đƣợc tình trạng thông đồng giữa
ngƣời mua và ngƣời bán để trốn lậu thuế. Tuy nhiên, ở khâu bán lẻ thƣờng xảy ra tình
trạng trốn lậu thuế. Ngƣời tiêu dùng không cần đòi hỏi hoá đơn, vì đối với họ không
còn xảy ra việc khấu trừ thuế. Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm
thƣờng không lớn, vì thế mà nếu có thất thoát ở khâu này thì số thuế cũng không nhiều.
Thứ sáu, thuế GTGT có ít mức thuế suất (ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng 3 mức
thuế suất ) nên bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng. Với ít mức thuế suất, loại thuế này mang
tính trung lập, vì về cơ bản sắc thuế này không can thiệp vào mục tiêu khuyến khích
hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể không gây
phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng,ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau
nhiều.
Hơn nữa, thuế GTGT nâng cao đƣợc tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ của ngƣời nộp thuế. Thông thƣờng, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan
thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế. Từ
đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thƣơng, thoả
thuận về mức doanh thu, mƣc thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có
mặt thuận lợi vì đã buộc mọi ngƣời mua, ngƣời bán phải nộp và lƣu trừ chứng từ, hoá
đơn đầy đủ nên việc thu thuế tƣơng đối sát với hoạt động kinh doanh nên tập trung
đƣợc nguồn thu thuế GTGT vào ngân sách nhà nƣớc ngày từ khâu sản xuất. Hơn nữa,
thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra đƣợc việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trƣớc nên hạn
chế thất thu về thuế.
Thuế GTGT còn có vai trò tăng cƣờng công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc
mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra đƣợc khấu trừ số thuế
đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả ngƣời mua và ngƣời bán cùng
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
nhau sẽ quy định những nội dung này khác nhau nhằm đạt đƣợc mục đích cuối cùng
là quản lý nền kinh tế vĩ mô theo một quy định chung. Luật thuế GTGT ở Việt Nam
hiện nay quy định những nội dung này cụ thể nhƣ sau:
Trước hết là quy định về đối tượng nộp thuế: Đối tƣợng nộp thuế GTGT là tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
9
kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là
ngƣời nhập khẩu) thuộc mọi thành phần kinh tế.
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt Nam .
Luật thuế GTGT còn quy định về đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT:
là những đối tƣợng đƣợc nhà nƣớc quy định cụ thể là không thuộc đối tƣợng chịu
thuế giá trị gia tăng. Những đối tƣợng này không phải kê khai, nộp thuế GTGT và
không đƣợc khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào.
Các nguyên tắc tính thuế cũng nằm trong nội dung của Luật thuế GTGT. Các
nguyên tắc tính thuế GTGT đƣợc quy định cụ thể:
Thuế suất đƣợc áp dụng thống nhất cho từng mặt hàng sản xuất trong nƣớc,
nhập khẩu hay bán lẻ, bán buôn.
Thuế đƣợc tính trên giá bán (hoặc giá dịch vụ) không có thuế GTGT.
Thuế tính ở khâu sau đƣợc khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trƣớc, nhƣng phải
căn cứ vào hoá đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lý.
Giá tính thuế GTGT là một nội dung quan trọng của Luật thuế GTGT. Giá tính
thuế đƣợc quy định cụ thể cho từng trƣờng hợp:
Đối với hàng hoá, dịch vụ thông thƣờng, giá tính thuế GTGT là giá bán chƣa
có thuế GTGT.
hoá, dịch vụ là quà tặng, biếu, trao đổi nội bộ, không có hoá đơn, giá tính thuế
GTGT là giá xuất bán thông thƣờng tại thời điểm làm quà tặng, quà biếu. Đối với
hoạt động xây dựng và lắp đặt, giá tính thuế GTGT là giá xây dựng lắp đặt chƣa có
thuế GTGT. Trƣờng hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo tiến độ thì giá
tính thuế là giá thanh toán từng hạng mục công trình hoặc phần việc hoàn thành,
bàn giao.
Nếu dịch vụ do phía nƣớc ngoài cung cấp cho các đối tƣợng tiêu dùng ở Việt
Nam: thì giá chƣa có thuế GTGT đƣợc xác định theo hợp đồng, trƣờng hợp hợp
đồng lại không xác định cụ thể số thuế GTGT phải nộp thì giá tính thuế GTGT là
giá dịch vụ mà phía Việt Nam phải trả cho phía nƣớc ngoài.
Thuế suất thuế GTGT: giống nhƣ tất cả các sắc thuế khác, một nội dung rất quan
trọng của thuế GTGT là thuế suất thuế GTGT. Trƣớc đây luật thuế GTGT quy định
4 mức thuế suất là 0%, 5%, 10% và 20%, nhƣng hiện nay nhà nƣớc quy định chỉ
còn 3 mức thuế suất thuế GTGT là 0%, 5% và 10% nhằm đơn giản hóa công tác thu
thuế. (2)
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
11
Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện hệ thống quản lý thuế GTGT theo hƣớng giảm bớt
số lƣợng nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế tạo điều kiện cho việc tính thuế,
khấu trừ thuế đƣợc liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh; áp
dụng một mức thuế suất để đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và đơn giản trong
việc tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ; hoàn thiện phƣơng pháp tính
thuế, tiến tới xác định ngƣỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng để thực hiện một
phƣơng pháp tính thuế khấu trừ, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Phương pháp tính thuế: Để xác định đƣợc thuế GTGT phải nộp thì cần phải biết
phƣơng pháp tính thuế. Thuế GTGT mà các đơn vị kinh doanh phải nộp đƣợc tính
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
12
Nếu số thuế GTGT đầu vào đƣợc khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra thì
chỉ đƣợc khấu trừ thuế GTGT đầu vào bằng thuế GTGT đầu ra của tháng đó. Số
thuế GTGT đầu vào còn lại đƣợc khấu trừ tiếp vào kỳ tính thuế sau (hoặc đƣợc xem
xét hoàn thuế theo quy định).
Trƣờng hợp hàng hóa dịch vụ mua vào đồng thời dùng để sản xuất kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT, thì số thuế GTGT
đầu vào đƣợc khấu trừ là số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng để sản
xuất kinh doanh dịch vụ, hàng hoá chịu thuế GTGT. Nếu không hạch toán riêng
đƣợc thuế đầu vào cho từng loại thì thuế GTGT đƣợc khấu trừ theo tỷ lệ (%) trên
doanh số bán ra của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng hàng hoá, dịch
vụ bán ra trong tháng của cả 2 loại hàng hoá dịch vụ.
Trƣờng hợp số thuế GTGT không đƣợc khấu trừ có giá trị lớn thì tính vào
giá vốn hàng hoá bán ra trong kỳ tƣơng ứng với doanh thu trong kỳ, số còn lại tính
vào giá vốn hàng bán của kỳ sau.
Trƣờng hợp cơ sở sản xuất chế biến, mua nguyên liệu là nông, lâm, thuỷ sản
chƣa qua chế biến của ngƣời sản xuất bán ra không có hoá đơn thì sẽ đƣợc khấu trừ
thuế đầu vào theo tỷ lệ (%) trên giá trị hàng hóa mua vào. Điều này không áp dụng
đối với trƣờng hợp các sản phẩm này đƣợc làm nguyên liệu để sản xuất, chế biến
hàng XK.
Trƣờng hợp cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ dùng vào hoạt động
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tƣợng không chịu thuế GTGT (hoạt động sự
nghiệp, dự án, hoạt động văn hoá…) thì số thuế GTGT đầu vào đƣợc tính vào giá trị
vật tƣ, hàng hoá, dịch vụ mua vào.
Phƣơng pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng
các căn cứ để xác định thuế GTGT.
Từ chối việc xuất trình sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết
liên quan tới việc tính thuế GTGT.
Kinh doanh không có đăng ký kinh doanh mà bị phát hiện.
Trong các trƣờng hợp trên, cơ quan thuế căn cứ vào tài liệu điều tra về tình
hình hoạt động kinh doanh của cơ sở kinh doanh hoặc căn cứ vào số thuế phải
nộp của cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề, có quy mô kinh doanh tƣơng đƣơng
để ấn định số thuế phải nộp.
III. Hoá đơn, chứng từ sử dụng trong thuế kê khai và nộp thuế GTGT
Trong nền kinh tế thị trƣờng, các hoạt động kinh tế diễn ra thƣờng xuyên liên
tục thông qua việc trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ. Tờ hoá đơn đóng vai trò rất
quan trọng, không thể thiếu trong các giao dịch này.
1. Khái quát về hoá đơn, chứng từ thuế giá trị gia tăng
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
14
Theo cách quy định về thuế GTGT của nhà nƣớc nhƣ hiện nay thì thuế GTGT
đƣợc quản lý trực tiếp và chủ yếu qua hoá đơn. Mọi thông tin về bên mua, bên bán,
doanh thu và số thuế GTGT phải nộp đều đƣợc thể hiện trên hoá đơn. Trên nhiều
góc độ khác nhau, hoá đơn đƣợc nhìn nhận một cách rất khái quát. Trƣớc hết hoá
đơn là một bộ phận của ấn chỉ thuế đƣợc in theo chỉ định tại các luật thuế, pháp lệnh
thuế và các văn bản pháp quy dùng để quản lý thu thuế cho ngân sách nhà nƣớc.
Trong giao dịch, hoá đơn đƣợc sử dụng để mua bán hàng hoá - dịch vụ, là chứng từ
để đảm bảo chất lƣợng hàng hoá - dịch vụ và bảo hành hàng hoá. Trong quan hệ
thanh toán, hoá đơn đƣợc dùng để thanh quyết toán tài chính khi mua hàng cho
công ty, cơ quan, tập thể… Hoá đơn cũng là chứng từ để thu tiền bán hàng và thể
hiện doanh số của nội bộ một doanh nghiệp. Trong mối quan hệ giữa cơ quan thuế
các cơ sở sản xuất kinh doanh theo phƣơng pháp khấu trừ phải sử dụng hoá đơn
GTGT. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi
đầy đủ, đúng các yếu tố: giá bán chƣa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài giá bán
(nếu có), thuế GTGT, giá thanh toán đã có thuế. Hóa đơn thuế GTGT đƣợc lập
thành 3 liên giống nhau, liên 1 lƣu tại doanh nghiệp, liên 2 giao cho khách hàng và
liên 3 dùng để thanh toán thuế GTGT.
Trong trƣờng hợp trong hoá đơn không ghi khoản thuế GTGT thì thuế GTGT
đƣợc xác đinh bằng giá thanh toán theo giá hoá đơn nhân với thuế suất thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh không đƣợc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với trƣờng hợp
hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ không ghi thuế GTGT trừ trƣờng hợp hàng hoá,
dịch vụ đặc thù đƣợc dùng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT nhƣ
tem bƣu điện, vé xổ số, vé máy bay…
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh nộp thuế GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ sử
dụng các mẫu hoá đơn sau:
Hoá đơn GTGT mẫu 01GTKT – 3LL: Đây là loại hoá đơn dùng cho các tổ
chức, cá nhân tính thuế theo phƣơng pháp khấu trừ, bán hàng hoá, dịch vụ với số
lƣợng lớn. Hóa đơn này do ngƣời bán lập khi bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ
thu tiền. Mỗi số hoá đơn đƣợc lập cho những hàng hoá, dịch vụ có cùng thuế
suất.
Hoá đơn 01GTKT – 2LN: là loại hoá đơn sử dụng cho các tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh tính thuế GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ, bán lẻ hàng
hoá, dịch vụ với số lƣợng nhỏ.
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
16
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
và các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tƣợng chịu
Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
17
Cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế GTGT kể cả các cơ sở trực
thuộc phải đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo hƣớng
dẫn của cơ quan thuế. Các tổng công ty, công ty và các cơ sở kinh doanh có các đơn
vị chi nhánh trực thuộc đều phải đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan thuế nơi đóng
trụ sở.
Việc đăng ký nộp thuế theo quy định này nhằm tránh bơ sót các cơ sở kinh
doanh, tránh việc thu thuế trùng lặp giữa các cơ quan thuế đối với cùng một cơ sở
kinh doanh và là cơ sở để cơ quan thuế theo dõi, quản lý hoạt động kinh doanh cuả
cơ sở kinh doanh.
Theo quy định, cơ sở kinh doanh mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế
GTGT chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
trƣờng hợp cơ sở chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhƣng có
hoạt động kinh doanh, cơ sở phải đăng ký nộp thuế trƣớc khi kinh doanh. Trƣờng
hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản hoặc thay đổi kinh doanh, cơ sở
kinh doanh phải khai báo với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trƣớc khi tiến hành
các hoạt động trên.
Kê khai thuế
Cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp tờ khai thuế cho
cơ quan thuế trong vòng 10 ngày đầu của tháng tiếp theo. Trong trƣờng hợp không
phát sinh thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở kinh doanh vẫn kê khai và nộptờ khai cho
cơ quan thuế. Cơ sở kinh doanh phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu tờ kê khai thuế và
chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.
Cơ sở kinh doanh, ngƣời nhập khẩu hàng hoá phải kê khai và nộp tờ khai thuế
GTGT theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan
thu thuế nơi có cửa khẩu nhập hàng hoá.
Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải kê khai và nộp thuế theo từng chuyến hàng
với cơ quan thuế nơi mua hàng trƣớc khi vận chuyển hàng đi.
thuế và phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nƣớc trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán, nếu nộp thừa thì đƣợc trừ vào số thuế phải
nộp của kỳ tiếp theo.
Trong trƣờng hợp kinh doanh sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản cơ
sở kinh doanh cũng phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế trong thời hạn
45 ngày kể từ ngày có quyết định trên.
Hoàn thuế
Thực trạng kê khai và nộp thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân và giải pháp Nguyễn Hoài Anh A1 - K41 - KTNT
19
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế theo phƣơng pháp khấu trừ thuế
đƣợc xét hoàn thuế hàng quý nếu số thuế đầu vào đƣợc khấu trừ cuả các tháng trong
quý thƣờng xuyên lớn hơn số thuế đầu ra phát sinh trong các tháng trong quý.
Những cơ sở kinh doanh xuất khẩu theo theo thời vụ hoặc theo từng thời kỳ với số
lƣợng hàng lớn, nếu phát sinh số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá xuất khẩu lớn
thì đƣợc xét hoàn thuế GTGT từng kỳ.
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế theo phƣơng pháp khấu trừ thuế, có
đầu tƣ, mua sắm tài sản cố định, nếu giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố định
đƣợc khấu trừ lớn thì đƣợc giải quyết hoàn thuế đầu vào của tài sản cố định nhƣ
sau:
Đối với, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tƣ mới, đã đăng ký nộp thuế với cơ quan
thuế nhƣng chƣa phát sinh thuế đầu ra, nếu thời gian đầu tƣ từ một năm trở lên đƣợc
xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Trƣờng hợp cơ sở có số thuế GTGT đầ vào
của tài sản đầu tƣ đƣợc hoàn lớn thì đƣợc xét hoàn thuế từng kỳ.
Đối với cơ sở kinh doanh đầu tƣ mở rộng, đầu tƣ chiều sâu, nếu số thuế đầu vào
của tài sản đầu tƣ đã tính khấu trừ sau 3 tháng mà số thuế chƣa khấu trừ vẫn lớn hơn
số thuế đã đƣợc khấu trừ thì đƣợc hoang lại số thuế chƣa đƣợc khấu trừ.
Trƣờng hợp bên mua hàng không phải là cơ sở kinh doanh, không có hoá đơn
thì khi trả lại hàng, bên bán và bên mua phải lập biên bản hoặc thoả thuận bằng văn
bản ghi rõ loại hàng hoá, số lƣợng, giá trị hàng hoá bị trả lại theo hoá đơn đã lập khi
bán hàng (số, ký hiệu, ngày tháng của hoá đơn), lý do trả lại hàng kèm theo hoá đơn
gửi trả cho bên bán làm căn cứ điều chỉnh kê khai thuế GTGT của bên bán.
Nhập khẩu
Cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, kể cả nhập khẩu từ các khu chế xuất, khu
kinh tế cửa khẩu, khu vực khuyến khích phát triển kinh tế thƣơng mại…theo các
quyết định của thủ tƣớng Chính phủ phải làm thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải
quan theo quy định về hàng hoá nhập khẩu khi vận chuyển vào nội địa phải có các
chứng từ sau:
Tờ khai hải quan đã có xác nhận hoàn thành tủ tục Hải quan (bản chính) kèm
theo giấy thông báo thuế hoặc biên lai thu thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ
đặc biệt (nếu có).
Nếu hàng hoá nhập khẩu với số lƣợng lớn phải chuyên chở làm nhiều lần thì
phải có lệnh điều động của doanh nghiệp kèm theo tờ khai Hải quan (bản chính