TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ThÞ tr-êng vµng viÖt nam thùc Tr¹ng
vµ gi¶i ph¸p
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Mỹ Linh
Lớp :
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Thị Thu Thủy
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
1.1. Các bước phát triển của thị trường vàng Việt Nam 26
1.2. Thực trạng về tình hình hoạt động thị trường vàng giai đoạn 2007-2009 30
1.3. Phân tích những nguyên nhân gây biến động đến thị trường vàng 38
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam 40
1.4.1. Chính sách nhà nước 40
1.4.2. Biến động thị trường vàng thế giới 42
1.3.3. Những yếu tố khác ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam 49
2. TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƢỜNG VÀNG ĐẾN NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM 52
2.1. Ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu 52
2.2. Ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư 53
2.3. Ảnh hướng đến thị trường bất động sản 54
2.4. Ảnh hưởng đến hàng hoá khác 55
2.5. Ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của nhân dân 56
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG VÀNG VIỆT NAM 58
3.1. Thành công 58
3.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 58
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG VÀNG VIỆT
NAM 60
1. DỰ BÁO XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG VÀNG THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM 60
1.1. Thị trường vàng thế giới 60
1.2. Thị trường vàng Việt Nam 611.3. Những chính sách của nhà nước tác động đến thị trường vàng trong thời
gian tới. 62
2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG VÀNG VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP 63
2.1. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thị trường vàng 63
2007
Biểu đồ 3: Nhu cầu trung bình vàng trên thế giới 5 năm từ năm
2004 - 2008
Biểu đồ 4: Giá vàng 10 tháng đầu năm 2008
Biều đồ 5: Giá vàng trong nƣớc so với giá vàng thế giới ngày
11/11/2009
Biều đồ 6: Diễn biến giá vàng từ lúc khởi điểm khủng hoảng kinh tế
đến cuối năm 2008
Biểu đồ 7: Nhu cầu vàng trang sức quý 3 năm 2008 tại một số quốc
gia
Biểu đồ 8: Nhu cầu vàng công nghiệp (Đơn vị: tấn)
Biểu đồ 9: Biểu đồ giá vàng trong nƣớc và quốc tế 18/3/2008 đến
20/2/2009 2
LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính thiết yếu của đề tài
Từ xưa đến nay vàng vẫn luôn được coi là biểu tượng của quyền lực và
của cải, luôn được lưu giữ như một khoản tiết kiệm trong mỗi gia đình. Vàng
tượng trưng cho vẻ đẹp, sự giàu có thịnh vượng của mỗi con người, của mỗi
quốc gia. Mọi người luôn quan tâm đến vàng vì nó là công cụ chính để bảo vệ
tài sản, chống rủi ro kinh tế và biến động chính trị. Những năm gần đây, giá
vàng liên tục biến đổi theo chiều hướng gia tăng, làm cho thị trường vàng
Việt Nam nói riêng, thị trường vàng Thế giới nói chung trở nên sôi nổi, và sự
biến động không ngừng của nó kéo theo những ảnh hưởng không nhỏ đến nền
kinh tế Việt Nam. Và Vàng trở thành một kênh đầu tư hẫp dẫn thu hút nhiều
nhà đầu tư với một số vốn khổng lồ. Thị trường vàng với rất nhiều vấn đề từ
Nội dung của khoá luận hướng tới khá rộng và phức tạp. Mặc dù đã có
nhiều cố gắng và nỗ lực song do những hạn chế về tài liệu, thời gian và kinh
nghiệm nên không tránh khỏi các thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại
học Ngoại thương đã trang bị cho em những kiến thức quý báu trong thời gian
học tập tại trường. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS. Lê thị Thu Thuỷ,
người đã hết lòng hướng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm
khoá luận.
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2010 4
CHƢƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƢỜNG VÀNG
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG
1.1. Các đặc tính của vàng
1.1.1. Tính chất hoá học
Vàng là một nguyên tố hoá học với ký hiệu Au ( L.aurum ) và số nguyên
tử là 79 trong nhóm I hệ thống tuần hoàn Mendeleep, khối lượng nguyên tử từ
197, 967. Hàm lượng trong vỏ trái đất chiếm 4,3 x 10 -7% khối lượng. Vàng
không bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn
mòn, vì vậy nó thích hợp để đúc tiền kim loại và trang sức.Các halogen có tác
dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó. Màu của vàng
rắn cũng như dung dịch keo từ vàng (có màu đậm) được tạo ra bởi tần số
plasmon của nguyên tố này nằm trong khoảng thấy được, tạo ra ánh sáng
của dung dịch keo từ vàng (có màu đậm, thường là tía) được tạo ra bởi tần số
plasmon của nguyên tố này nằm trong khoảng thấy được, tạo ra ánh sáng
vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanh khi hấp thụ. Vàng tạo hợp kim với
nhiều kim loại khác, hợp kim với đồng cho màu đỏ hơn, hợp kim với sắt màu
xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch kim cho màu trắng, bismuth
tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen. Với các tính thẩm mỹ trên vàng thích
hợp nhất để làm đồ trang sức. Đồ trang sức bằng vàng trở nên đa dạng hơn
khi được kết hợp với các kim loại khác. Và làm đồ trang sức cũng làm tăng
giá trị thẩm mỹ của vàng.
1.2. Ứng dụng của vàng
Với các đặc tính như trên của vàng, vàng được ứng dụng vào cuộc sống
với nhiều mục đích khác nhau. 6
1.2.1. Làm đồ trang sức
Vàng là một trong những kim loại được yêu thích nhất để sản xuất đồ
trang sức. Đồ trang sức làm bằng vàng thường có: nhẫn, vòng cổ, vòng đeo
tay, lắc, hoa tai, cài áo…thậm chí vàng còn được sử dụng để trang trí vào các
vật dụng như bình hoa, bật lửa, bút máy…Đồ trang sức bằng vàng được chế
tạo theo các tiêu chuẩn sau: 9, 14, 18 và 24 cara. Vàng 18 cara nghĩa là 18
phần vàng ròng trong 24 phần vàng, tương đương 75% vàng ròng. Vàng 24
cara thì quá mềm nên khó có thể tạo ra trang sức hay dùng để đúc tiền. Vì thế
vàng trong trang sức là vàng đã được kết hợp với các kim loại khác như bạc,
đồng, v.v…không chỉ để tạo độ cứng mà còn tạo ra các màu sắc khác nhau,
tạo ra được nhiều kiểu dáng phong phú và đa dạng. Đồng là kim loại thường
được kết hợp với vàng tạo ra màu đỏ hơn. Vàng 18k kết hợp với 25% đồng
thường được dùng làm đồ giả cổ hoặc nữ trang, và cũng có thể làm hoa bằng
vàng có màu đỏ. Vàng 14k có màu đồng đỏ được sử dụng để làm huy hiệu
như làm huy hiệu cảnh sát hay trong quân đội. Vàng xanh được tạo ra bằng
-Nhiều năm nay, vàng trở thành tiền tệ dự trữ của các quốc gia trong
thanh toán quốc tế
-Vàng không dùng để thanh toán hàng ngày của các giao dịch phát sinh
giữa các quốc gia 8
-Không dùng vàng để thể hiện giá cả cũng như tính toán tổng giá trị hiệp
định hoặc hợp đồng
-Tiền giấy không được đổi ra vàng một cách tự do thông qua hàm lượng
vàng của tiền tệ.
-Vàng chỉ được sử dụng để các quốc gia trả nợ cho nhau khi mà không
tìm ra được các công cụ khác để trả nợ.
1.3. Đơn vị đo lƣờng và cách quy đổi của Vàng
Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, đơn vị đo lường được tính theo cây
(lượng hay lạng) hoặc nhỏ hơn là chỉ. Một cây vàng nặng 37,50 gram. Một
chỉ bằng 1/10 cây vàng. Còn trên thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị
là ounce hay troy ounce. 1 ounce tương đương với 31,103476 gram.
Tuổi vàng được tính theo thang độ K (karat). Một Karat tương đương
1/24 vàng nguyên chất. Vàng 9999 tương đương với 24K. Khi người ta nói
tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng xấp xỉ 75%. Vàng
được sử dụng làm đồ trang sức còn được gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.
- Thị trường vàng thế giới
*Đơn vị yết giá : USD/ounce
*1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
*1 lượng = 1,20556 ounce
- Thị trường vàng trong nước
*Đơn vị yết giá VNĐ/lượng
*Công thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàng trong
nước (TN)
đặc tính màu sắc, tính dễ chia nhỏ nên các mệnh giá khác nhau để người bán
và người mua có thể trao đổi, tính lâu bền nên được sử dụng lâu dài qua thời
gian, vàng có tính dễ vẫn chuyển, và thêm vào đó vàng có tính khan hiếm nên
nó có giá trị. Vàng đáp ứng tất cả các yêu cầu trên và có thể nói rằng nó là
dạng vật chất duy nhất trên thế giới đáp ứng được. Lượng vàng mà con người 10
có được không thay đổi đột biến trong nhiều thế kỷ; lượng vàng bổ sung nhờ
khai thác được là khá nhỏ và dự tính được.
Ngoài vai trò để dự trữ và tiết kiệm vàng còn có vai trò to lớn trong sản
xuất công nghiệp để sản xuất thiết bị, công nghiệp sản xuất vũ khí cũng như
sản xuất đồng hồ.
2.2. Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ
2.2.1. Chế độ đồng bản vị
Trong chế độ phong kiến, bạc là kim loại tiền tệ chủ yếu. Ở giai đoạn
đầu chủ nghĩa tư bản, Nhà nước quy định dùng bạc làm kim loại tiền tệ. Khi
sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, nhất là những khoản giao dịch với
khối lượng hàng hoá có giá trị lớn ngày càng tăng khiến cho việc dùng bạc
làm vật ngang giá chung không còn thích hợp nữa. Vì giá trị của bạc rất nhỏ,
do vậy người ta phải tìm kim loại khác có giá trị cao hơn bạc để đưa vào lưu
thông. Kim loại đấy chỉ có thể là vàng. [1]
Vì vậy, vàng bạc luôn là kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn hẳn các
kim loại khác, bởi những đặc tính của chúng đã đáp ứng được nhiều nhất
những gì mà một đồng tiền hàng hoá cần có: sự khan hiếm, tính bền, có thể
chuyên chở, dễ chia nhỏ, và chất lượng được duy trì lâu bền
Sự chấp nhận vàng và bạc như tiền còn được củng cố từ một thực tế là
các loại kim loại này được thừa nhận rộng rãi là có giá trị sử dụng phi tiền tệ
trong các ngành công nghiệp và trang sức. Hơn nữa giá trị của vàng và bạc
được ổn định tương đối so với các hàng hoá khác, ngoài ra, chất lượng của
tăng giá vàng từ $19,394/ounce len $20,76/ounce, trong khi đó bạc vẫn giữ
nguyên nhằm khôi phục lại chế độ đồng bản vị kim loại. Như vậy tỉ lệ bạc:
vàng là 16, trong khi thế giới vẫn là 15,5. Một lần nữa trong thực tế nước Mỹ
lại chỉ có chế độ bản vị kim loại vàng.
Năm 1879, Mỹ quyết định chuyển đổi trở lại USD ra vàng mà không
chuyển đổi ra bạc, đây là một bước quan trọng trong việc hình thành chế độ 12
đơn bản vị vàng (bản vị vàng) ở Mỹ. Tuy nhiên chế độ này vẫn không được
chính thức phê chuẩn cho tới khi có Đạo luật bản vị vàng vào năm 1990.[8]
Chế độ đồng bản vị là một chế độ tiền tệ không ổn định bởi bản tính của
tiền tệ là độc chiếm, gạt bỏ cái khác. Việc pháp luật thừa nhận cả bạc và vàng
đều là kim loại tiền tệ là trái với bản tính đó của tiền tệ.
Trong chế độ bản vị song song do lưu thông tiền vàng và tiền bạc căn cứ
theo giá trị thực tế của kim loại tiền tệ chứa trong nó, cho nên giá cả hàng hoá
và dịch vụ trên thị trường tất nhiên được thể hiện bằng hai loại giá cả: giá cả
tính bằng tiền vàng và giá cả tính bằng tiền bạc. Hai loại này tất nhiên sẽ thay
đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kim loại vàng và kim loại bạc hình thành tự
phát trên thị trường, vì vậy giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ bị hỗn loạn và dẫn
đến sự hỗn loạn của thị trường.
Trong chế độ bản vị kép, Nhà nước quy định tỷ giá cố định giữa tiền
vàng và tiền bạc để khắc phục tình trạng không ổn định của lưu thông hàng
hoá do chế độ bản vị song song gây ra, nhưng lại gây ra hiện tượng tiền xấu
đẩy tiền tốt ra khỏi lưu thông, điều đó làm cho chế độ tiền tệ bị hỗn loạn
nghiêm trọng.
Khi hai loại tiền có giá trị thực tế không bằng nhau mà giá trị danh nghĩa
của chúng được nhà nước quy định tách rời nhau khỏi giá trị thực tế của nó và
cùng lưu thông theo giá trị danh nghĩa đó thì loại tiền có giá trị thực tế cao hơn
tất nhiên dẫn dần sẽ bị rút khỏi lưu thông, còn loại tiền kém hơn sẽ được đưa vào
Việc xuất nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động.
Ngân hàng trung ương luôn phải duy trì một số lượng vàng dự trữ trong
mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành. Số vàng dự trữ này cho phép
ngân hàng trung ương xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi ra tiền và vàng mà
không gặp bất cứ một trở ngại nào, tiền được tự do chuyển đổi ra vàng không
hạn chế. Quy tắc bảo đảm bằng vàng buộc ngân hàng trung ương khi mở rộng
cung ứng tiền cho nền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật “chỉ phát hành tiền khi có 14
luồng vàng từ công chúng chảy vào Ngân hàng trung ương”. Kết quả là, khả
năng thay đổi cung ứng tiền chính là sự thay đổi lượng vàng có sẵn trong tay
những người cư trú.
Đây là chế độ tiền thông thoáng và ổn định nhất trong lịch sử, vì theo
như quy định, vàng luôn được phản ánh trung thực giá trị của mình, do đó sẽ
khó có khả năng xảy ra hiện tượng lạm phát.
Tuy nhiên nhược điểm của chế độ là là đồng tiền vàng vẫn là hàng hoá,
do đó với nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, việc sản xuất vàng không thể
theo kịp để đáp ứng. Thêm vào đó giá trị thực của đồng tiền trong lưu thông
càng ngày càng kém đi so với lượng giá trị mà nó đại diện.
Chế độ bản vị vàng thứ hai đó là chế độ bản vị vàng thỏi, người ta gọi
là chế độ bản vị vàng thỏi vì vàng không còn tồn tại dưới dạng tièn nữa mà
được đúc thành thỏi. Trong chế độ bản vị vàng thỏi, vàng không còn được tự
do đúc thành tiền để đưa vào lưu thông nữa, lúc này tiền trong lưu thông phải
được quy định chặt chẽ về hàm lượng vàng. Bên cạnh đó, các loại giấy bạc
ngân hàng không được đổi ra vàng một cách tự do mà phải đạt một tiêu chuẩn
nhất định do Nhà nước đề ra thì mới có thể đổi ra vàng. Hoạt động xuất nhập
khẩu vàng cũng bị kiểm soát chặt chẽ và có lúc bị cấm.
Cuối cùng là chế độ bản vị vàng hối đoái, chế độ vàng này được áp dụng
trong một quãng thời gian tương tự chế độ bản vị vàng thỏi. Cũng có những
cho tiền kim loại đã từng tồn tại trong trao đổi. “Tiền giấy là đại biểu cho tiền
kim loại tiền tệ, biểu hiện cho giá trị hàng hoá, và tiến giấy trở thành dấu hiệu
của giá trị. Như vậy, tiền giấy chỉ là dầu hiệu của giá trị chíng nó đại biểu
cho số lượng vàng, những số lượng vàng này cũng như tất cả những số lượng
hàng hoá khác đều là số lượng giá trị” [2]
Tiền giấy đại biểu cho tiền vàng trong trao đổi, vì vậy lượng tiền giấy
phát hành đưa vào trao đổi phải do lượng tiền vàng cần thiết đáng lẽ tồn tại 16
trong trao đổi quyết định. Do tiền giấy không đổi được ra vàng, nên lưu thông
tiền giấy khác với lưu thông tiền vàng: lưu thông tiền vàng do có tính co dãn
tương đối, nên lưu thông tiền tệ tự phát được điều hoà, ngược lại lưu thông
tiền giấy không có tính co giãn, nên lượng tiền giấy phát hành không thể thích
ứng với lượng tiền tệ cần thiết trong trao đổi được. [1]
Hệ thống tiền tệ Bretton Woods : [3]
Bản chất của hệ thống tỷ giá cố định là tỷ giá của các đồng tiền được cố
định giá với đô la Mỹ. Trong đó đô la Mỹ, được cố định giá với vàng và được
tự do chuyển đổi ra vàng. Vàng và đô la Mỹ là phương tiện dự trữ chủ yếu,
ngoài ra các đồng tiền khác cũng có thể được dùng dự trữ nhưng rất hạn chế.
Sự hoạt động của hệ thống Bretton Woods:
Giai đoạn những năm 1950: Đây là thời kỳ thống trị tuyệt đối của đô la
Mỹ. Trong thời kỳ này, hệ thống tỷ giá hoạt động ổn định sau những biến
động (phá giá) của đồng tiền các quốc gia Châu Âu vào năm 1940. Thời kỳ
này đồng đô la Mỹ chiếm vị trí thống trị do Mỹ có nền kinh tế mạnh và đô la
Mỹ có thể tự do chuyển đổi ra vàng. Mặt khác, các quốc gia Châu Âu và Nhật
Bản bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên có nhu cầu lớn về máy móc, thiết bị
và hàng hoá để phục hồi nền kinh tế. Đặc trưng của giai đoạn này là sự thiếu hụt
đô la Mỹ. Lúc đầu đô la Mỹ được đáp ứng chủ yếu thông qua chu chuyển vốn
hình thức. Sau đó, gia tăng chu chuyển vốn tư nhân dưới dạng đầu tư trực tiếp.
của một số đồng tiền là dầu hiệu khủng hoảng của hệ thống Bretton Woods.
Năm 1971, cuộc khủng hoảng mới thực sự bắt đầu khi Mỹ thường xuyên
thâm hụt cán cân thanh toán, và lên đến con số tỷ lục là 30 tỷ USD.
15/8/1971 Tổng thống Mỹ Nixon đã tuyên bố dừng chuyển đổi dự trữ đô
la Mỹ ra vàng đồng nghĩa với thả nổi đồng đô la Mỹ và trên thực tế hệ thống
Bretton đã sụp đổ. Mỹ áp dụng mức thuế quan 10% đối với hàng hoá nhập
khẩu nhằm buộc các quốc gia khác phải nâng giá đồng tiền. 18
Để cứu vãn sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods 10 quốc gia đã đưa ra
một số giải pháp:
+ Điều chỉnh lại tỷ giá của các đồng tiền, quan trọng nhất là phá giá đồng
đô la Mỹ. Giá vàng chính thức tăng 35 USD- 38 USD/ounce.
+ Mở rộng biên độ dao động từ 1%-2.25%.
+ Mỹ bãi bỏ thuế quan 10% đối với hàng nhập khẩu.
Những biện pháp này chỉ mang tính tạm thời nhằm giúp Mỹ lành mạnh
hoá nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực tài chính.
Mỹ đã không tận dụng cơ hội này. Thâm hụt Ngân sách vẫn tăng và
thâm hụt cán cân thanh toán vẫn không giảm. Do đó, các quốc gia châu âu đã
phải đối mặt với một lượng cung lớn trên thị trường ngoại hối và buộc các
quốc gia này phải mua vào để giữ mức tỷ giá của mình trong giới hạn giao
động. Tình trạng này không thể kéo dài khi đến tháng 1/1973 Thụy Sĩ thả nổi
đồng france, Mỹ phá giá đồng đô la 10%, Nhật thả nổi đồng yên Thực chất
Mỹ đã từ chối can thiệp để duy trì tỷ giá đô la Mỹ, còn các quốc gia châu âu
từ chối can thiệp một mình trên thị trường ngoại hối. Hệ thống Bretton Woods
sụp đổ, và thay vào đó là sự thay đổi của một số đồng tiền.
3. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG VÀNG
3.1. Khái niệm về thị trƣờng vàng
Trong số các kim loại quý hiếm, vàng là một kênh đầu tư phố biến nhất.
Vàng là một thứ hàng hóa đặc biệt, bởi nó là một thứ kim loại được khai
thác dưới lòng đất và được đào lên qua quá trình chế tác trở thành vàng thỏi,
vàng miếng hay vàng trang sức, vì vậy vàng có thể được huy động một cách
linh hoạt. 20
Biểu đồ 1: Nguồn cung cấp vàng trung bình trong 5 năm
từ năm 2004-2008
vàng khai thác tự
nhiên, 60%
vàng từ ngân hàng
trung ương bán, 12%
vàng tái chế, 28%
vàng khai thác tự nhiên
vàng từ ngân hàng trung ương
bán
vàng tái chế
vàng khai thác tự
nhiên, 60%
vàng từ ngân hàng
trung ương bán, 12%
vàng tái chế, 28%
vàng khai thác tự nhiên
vàng từ ngân hàng trung ương bán
vàng tái chế
Nguồn: Investing in Gold- World Gold Council
Nguồn cung cấp vàng trên thế giới chủ yếu từ 3 nguồn là vàng được khai