Tiểu luận quản trị rủi ro: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tỷ giá và việc quản lý rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam - Pdf 14


ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
HÀ NỘI

TIỂU LUẬN
Quản trị rủi ro

Những vấn đề cơ bản về rủi ro tỷ giá và việc quản lý rủi ro
tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam



I. Tổng quan về rủi ro tỷ giá
1. Khái niệm rủi ro tỷ giá.
Rủi ro tỷ giá là sự không chắc chắn về giá trị của một khoản thu nhậphay chi phí bằng ngoại tệ
trong tương lai do sự biến động của TGHĐ. Sự biến động của tỷ giá có thể tạo ra những rủi ro
rất lớn đối với DNkhi tỷ giá biến động ngược chiều với mong đợi nhưng lại có thể mang lại
mộtkhoản lợi nhuận bất thường nếu như tỷ giá biến động thuận chiều cho DN.
Như vậy, sự biến động của tỷ giá có thể gây ra tác động hai mặt: tíchcực và tiêu cực cho DN.
Do đó, vấn đề đặt ra là DN phải đối phó trước sự biến động tiêu cực của tỷ giá như thế nào ?
2. Phân loại rủi ro tỷ giá
Rủi ro tài chính: Giá trị của tài sản ngọai tệ nắm giữ so với các tải sản tính bằng đồng tiền hiệu
lực của người giữ sẽ thay đổi khi tỷ giá giữa ngọai tệ và đồng tiền hiệu lực thay đổi.
Rủi ro chuyển đổi: rủi ro chuyển đổi đặc trưng phát sinh khi chuyển đổi các bản báo cáo tài
chính từ đồng tiền hiệu lực sang những đồng tiền khác cho mục đích thông tin hay so sánh.
Bảng cân đối kế toán thể hiện giá trị sổ sách của tài sản, nguồn vốn và các cổ phần ở cuối giai
đọan báo cáo. Tỷ giá hối đoái mà các đồng tiền được mua bán ở cuối giai đọan báo cáo (tỷ
giá giao ngay) thường không phải là tỷ giá có hiệu lực khi các tài khoản được ghi nhận
Rủi ro giao dịch : rủi ro giao dịch phát sinh khi một bên đồng ý mua hay bán hàng hóa với một
ngọai tệ nhất định vào một ngày xác định, nhưng thực sự thanh toán hay nhận thanh tóan vào
một ngày sau đó. Nếu tỷ giá thay đổi trong khoảng thời gian ở giữa, giá của thương vụ
bán hoặc mua bằng đồng tiền hiệu lực sẽ thay đổi. Rủi ro giao dịch phát sinh khi một DN
đồng ý mua hoặc bán ở một giá ngọai tệ nhất định.
Rủi ro kinh tế : rủi ro kinh tế phát sinh khi thay đổi trong tỷ giá hối đoái làm thay đổi sức cạnh
tranh của một DN. Rủi ro này thường xảy ra khi DN có doanh thu bằng một đồng tiền và gánh

giá trị lên đến 3,7 tỷ JPY do phải chịu rủi ro kép từ sự biến động tiêu cực của đồng VND so với
USD, và USD so với JPY. Thêm vào đó sự bảo hộ của NHNN đang dần nới lỏng, khi biên độ
tỷ giá càng nới lỏng thì rủi ro tỷ giá càng lớn. Chính từ bài học của Công Ty CP Phả Lại, các
doanh nghiệp XNK Việt Nam cần chú trọng và thấy được tầm quan trọng của việc dự báo sự
biến động tỷ giá, cũng như việc lựa chọn và sử dụng các công cụ phòng ngừa.
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong
tương lai. Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi
dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro
tỷ giá. Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là hoạt
động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng.
Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa quốc gia
(multinational corporations) hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư
đa dạng hoá trên bình diện quốc tế. Lý do là vốn đầu tư và doanh thu được tính bằng các loại
đồng tiền khác nhau.
Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập là loại rủi ro tỷ giá thường xuyên gặp phải và đáng lo
ngại nhất đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu mạnh. Sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ
so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong tương
lai khiến cho hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng đáng kể
Hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng bằng ngoại tệ cũng chứa đựng rủi ro tỷ giá rất lớn.
Khoản nợ có thể trở nên trầm trọng hơn khi tỷ giá biến động.
II. Thực trạng tình hình rủi ro tỷ giá tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
1. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng
hóa của cả nước trong tháng 8/2013 đạt 23,24 tỷ USD, tăng nhẹ 1,9% so kết quả thực hiện của
tháng 7 trước đó; trong đó, xuất khẩu đạt 11,92 tỷ USD, tăng 2,8% và nhập khẩu là 11,32 tỷ
USD, tăng nhẹ 0,9%. Với kết quả này, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 8 này có mức
thặng dư 0,6 tỷ USD.
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết tháng 8/2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt
Nam đạt 170,15 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt 85,16
tỷ USD, tăng 15,1% và nhập khẩu gần 84,99 tỷ USD, tăng 14,4%. Kết quả là cán cân thương

kỳ năm 2012, trong đó dầu thô đạt 5,5 tỷ USD, giảm 11,8%; gạo đạt 2,4 tỷ USD, giảm 14,6%;
cao su đạt 1,7 tỷ USD, giảm 16,1%; than đá đạt 0,7 triệu USD, giảm 25,3%.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2013 ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng
trước và tăng 24%so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu chín tháng đạt
96,6 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt
42,1 tỷ USD, tăng 5,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 54,5 tỷ USD, tăng 24,8%.
Trong chín tháng qua, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm
trước là: Điện tử máy tính và linh kiện đạt 13 tỷ USD, tăng 40,5%; vải đạt 6,1 tỷ USD, tăng
19,1%; chất dẻo đạt 4,2 tỷ USD, tăng 17%; nguyên phụ liệu dệt may, giày, dép đạt 2,7 tỷ USD,
tăng 19,6%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,4 tỷ USD, tăng 39,4%. Một số mặt hàng
có kim ngạch nhập khẩu tăng khá là: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 13,2 tỷ USD,
tăng 9,3%; sắt thép đạt 5 tỷ USD, tăng 11,7%; sản phẩm hóa chất đạt 2 tỷ USD, tăng 11,7%.
Một số mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước là: Xăng dầu đạt 5,3
tỷ USD, giảm 25,4%; cao su đạt 502 triệu USD, giảm 17,1%; dầu mỡ động thực vật đạt 467
triệu USD, giảm 18,3%; khí đốt hóa lỏng đạt 439 triệu USD, giảm 12,6%.
2. Thực trạng tình hình rủi ro tỷ giá tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
Sự can thiệp của Nhà nước vào tỷ giá rõ ràng là ngày càng suy giảm và dường như đang
theo một cơ chế truyền động có chủ đích để tiến tới bước đi cuối cùng là xóa bỏ tỷ giá bình
quân liên ngân hàng. Đây có lẽ chính là điểm khởi sự đầu tiên cho một chính sách tỷ giá
thả nổi có quản lý một cách thực chất, theo hướng tỷ giá phải linh hoạt hơn nữa theo
khuyến cáo của IMF và phù hợp với việc Việt Nam là thành viên của WTO. Khi cơ chế tỷ giá
linh hoạt, thì rủi ro tỷ giá sẽ xẩy ra thường xuyên hơn, mức độ ảnh hưởng tới hoạt động
sản xuất kinh doanh sẽ lớn hơn. Thời gian gần đây trên báo chí những tiêu đề như “ảnh
hưởng của biến động tỷ giá” hay “khó khăn về tỷ giá”, “thiệt đơn thiệt kép vì USD” xuất
hiện ngày càng nhiều hơn. Điều đó chứng tỏ ảnh hưởng của biến động tỷ giá đã bắt đầu
được các doanh nghiệp quan tâm. Nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, đòi
hỏi các ngân hàng và các thành viên tham gia thị trường ngoại hối phải nâng cao khả
năng phòng ngừa biến động tỷ giá.
Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK xảy ra với tần suất lớn hơn thực hiện
hợp đồng trong nước

+ Phân tích kĩ thuật : Là phương pháp dự báo về quá khứ , tâm lý và quy luật xác suất. Chủ yếu
dựa vào đồ thị tỷ giá và số lượng mua bán trong quá khứ đã được tập hợp lại để dự báo khuynh
hướng tỷ giá trong tương lai.Phân tích tỷ giá có tính linh hoạt, dễ sử dụng và nhanh chóng.
Trong phân tích kĩ thuật có các giả định : Thị trường phản ứng trước mọi sự kiện diễn ra, giá cả
biến động theo một khuynh hướng nhất định, sự biến động giá cả thường lặp lại theo chu kì, và
có sự lặp lại của giá trong quá khứ vào tương lai.
+ Phân tích cơ bản: Là phương pháp nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các lý do làm tăng giá
lên hoặc xuống. Nó chú ý đến các lực lượng tác động lên cung cầu ngoại tệ trên thị trường như
lạm phát, lãi suất, …Dựa vào các yếu tố tác động đó để đưa ra một giá trị dự đoán về giá trị
sinh lời tiềm ẩn của một thị trường, để xác định thị trường được đánh giá cao hơn hay thấp hơn
giá trị thực. Một vài lý thuyết của phân tích cơ bản là: Lý thuyết ngang giá sức mua, lý thuyết
ngang giá lãi suất, mô hình cán cân thanh toán quốc tế…
2. Lựa chọn ngoại tệ để thanh toán
Sự biến động của các đồng tiền trên các nước khác nhau phụ thuộc vào tình hình biến động
kinh tế chính trị xã hội của từng quốc gia.Do đó, mức độ rủi ro tỷ giá phát sinh đối với từng
đồng tiền là không giống nhau. Việc lựa chọn ngoại tệ có tỷ giá ổn định có thể giúp cho các
doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong vấn đề biến động tỷ giá.
3. Sử dụng hợp đồng xuất khẩu song hành.
Doanh nghiệp có thể tiến hành song song hai hợp đồng xuất khẩu và nhập khẩu với cùng một
loại tỷ giá, khi có biến động về tỷ giá thì doanh nghiệp cũng có thể tạo lập cân bằng, không gặp
rủi ro. Cách thức này khá là đơn giản để thực hiện, tuy nhiên lại rất khó khăn trong thực tế, bởi
hiện nay không mấy doanh nghiệp cùng một lúc kiếm được cả hai hợp đồng song hành như
vậy. Đối với những doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu và xuất khẩu theo hình thức FOB tức là
nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm thì rất phù hợp để tiến hành cách giảm thiểu
rủi ro này.
4. Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tỷ giá.
Doanh nghiệp có thể trích lập một khoản quỹ dự phòng trong quá trình hoạt động kinh doanh
để dự phòng trong trường hợp biến động tỷ giá bất lợi bằng lợi nhuận từ hoạt động hoặc bằng
thặng dư tỷ giá khi biến động tỷ giá là thuận lợi. Các thức này khá đơn giản, dễ quản lý, theo
dõi, tuy nhiên phương pháp này sẽ phát sinh thêm khâu quản lý trong kế toán, và dễ gây tình

chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả
thuận huỷ hợp đồng.
Tại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn, không hề có sự trao đổi tài sản cơ sở hay thanh toán
tiền. Hoạt động thanh toán xảy ra trong tương lai tại thời điểm xác định trong hợp đồng. Vào
lúc đó, hai bên thoả thuận hợp đồng buộc phải thực hiện nghĩa vụ mua bán theo mức giá đã xác
định, bất chấp giá thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.
Hợp đồng kỳ hạn không được tiêu chuẩn hóa và không giao dịch trên các thị trường giao dịch
hàng hóa tương lai. Xét về bản chất, hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng tương lai nhưng không giao
dịch trên sàn, tuy nhiên, hợp đồng kỳ hạn có độ rủi ro cao hơn do không được quản lý tập
trung.Hợp đồng kỳ hạn có thể đảm bảo cho người tham gia trước những bất định của tương lai.
Ở Việt Nam, hợp đồng kỳ hạn mặc dù đã được chính thức đưa ra thực hiện từ năm 1998,
nhưng đến nay nhu cầu giao dịch loại hợp đồng này vẫn chưa nhiều. Lý do, một mặt, là khách
hàng vẫn chưa am hiểu lắm về loại giao dịch này. Mặt khác, do cơ chế điều hành tỷ giá của
Ngân hàng Nhà nước trong suốt thời gian qua khá ổn định theo hướng VND giảm giá từ từ so
với ngoại tệ để khuyến khích xuất khẩu nhưng vẫn đảm bảo ổn định đối với hoạt động nhập
khẩu. Chính lý do này khiến các nhà xuất khẩu không cảm thấy lo ngại ngoại tệ xuống giá khi
ký kết hợp đồng xuất khẩu nên không có nhu cầu bán ngoại tệ kỳ hạn. Về phía nhà nhập khẩu,
tuy ngoại tệ có lên giá so với VND khiến nhà nhập khẩu lo ngại, nhưng sự lên giá của ngoại tệ
vẫn được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức có thể kiểm soát được nên nhà nhập khẩu vẫn chưa
thực sự cần giao dịch kỳ hạn để quản lý rủi ro tỷ giá.
Tuy nhiên, giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thoả mãn được nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng
mà việc chuyển giao được thực hiện trong tương lai. Tuy nhiên, do giao dịch kỳ hạn là giao
dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng.
Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng chỉ
cần mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại
tệ. Đôi khi trên thực tế, khách hàng vừa có nhu cầu mua bán ngoại tệ ở hiện tại đồng thời vừa
có nhu cầu mua bán ngoại tệ ở trong tương lai.
Tỷ giá giao dịch Forward cần được xác lập theo yếu tố thị trường trên cơ sở sự biến động lãi
suất của hai đồng tiền hoán đổi, do đây là một trong các yếu tố cơ bản để xác định tỷ giá quyền
lựa chọn. Công thức tính tỷ giá Forward phải trả về đúng vị trí, bản chất khoa học của nó.

Như đã trình bày ở trên, hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên của hợp đồng.
Điều này không đúng đối với các hợp đồng tương lai. Nhà đầu tư muốn mua hay bán hợp đồng
tương lai sẽ liên lạc với công ty môi giới. Công ty môi giới sẽ chỉ thị cho người mua bán trên
sàn giao dịch thực hiện lệnh mua hay bán hợp đồng tương lai.
Đối với hợp đồng tương lai, các khoản lãi hay lỗ được tính hàng ngày(cộng vào hay trừ đi từ
tài khoản của các bên của hợp đồng) theo sự biến động của giá tương lai. Việc tính toán này là
để loại trừ một phần rủi ro cho công ty thanh toán bù trừ trong trường hợp một bên của hợp
đồng không có khả năng thanh toán khi đáo hạn.

Tùy theo biến động giá cả hàng ngày, người
mua hoặc bán hợp đồng có thể lãi hoặc lỗ. Hàng ngày giá cả hàng hóa và mức lãi hoặc lỗ sẽ
được Phòng thanh toán bù trừ ghi nhận và thanh toán. Người mua trong hợp đồng tương lai
phải mua tài sản cơ sở với mức giá xác định trong tương lai và sẽ được lợi nếu giá tài sản trên
thị trường tăng lên. Người bán trong hợp đồng tương lai phải bán tài sản cơ sở với mức giá xác
định trong tương lai và sẽ được lợi nếu giá tài sản trên thị trường giảm xuống.
-
Option (Hợp đồng quyền chọn)
Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc,
được mua hoặc được bán:
• Một số lượng xác định các đơn vị tài sản cơ sở
• Tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai
• Với một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng.
Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiện hoặc không thực
hiện quyền mua (hay bán) tài sản cơ sở. Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì
người bán quyền buộc phải bán (hay mua) tài sản cơ sở. Thời điểm xác định trong tương lai gọi
là ngày đáo hạn; thời gian từ khi ký hợp đồng quyền chọn đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn
của quyền chọn. Mức giá xác định áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện (exercise
price hay strike price).
Quyền chọn cho phép được mua gọi là quyền chọn mua (call option), quyền chọn cho phép
được bán gọi là quyền chọn bán (put option).

Như

c đi

m

Chi phí

Dự báo tỷ giá Linh hoạt, nhanh chóng, dễ
sử dụng.
Dự báo chỉ mang tính
tương đối, đôi khi xa rời
thực tế do dựa vào số liệu
quá khứ.
Không cao
Lựa chọn ngoại tệ
để thanh toán
Doanh nghiệp khá chủ
động, giảm thiểu các tác
động không đáng có của
việc thay đổi tỷ giá.
Doanh nghiệp sẽ gặp khó
khăn khi trao đổi đàm phán
với đối tác trong việc sử
dụng đồng tiền như mong
muốn
Không cao
Sử dụng hợp đồng
xuất nhập khẩu
xong hành

chọn các công cụ phái sinh
phù hợp để không mắc sai
lầm.
Khá cao.

Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn để có nhiều DN Việt Nam quen dần với các nghiệp
vụ giao dịch hối đoái, trong đó có giao dịch hối đoái quyền lựa chọn.
IV. Kết Luận
Các kiến nghị trên là những điều cơ bản, cần thiết giúp cho các DN Việt Nam có thêm công
cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái, cũng là bước chuẩn bị cho các DN quen dần với môi
trường kinh doanh tài chính quốc tế. Đây cũng là vấn đề mang tính chất chiến lược góp phần
vào việc hỗ trợ cho các DN trong quá trình phát tiển và hội nhập quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status