Tiểu luận môn học ĐH Quản lý và Kinh doanh Hà Nội
LỜINÓIĐẦU
Xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoáđang diễn ra một cách sâu sắc,
toàn diện trên phạm vi toàn thế giới. Nó là quy luật khách quan mà Việt Nam
cần sớm nắm bắt vận dụng.Việc tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới
sẽ mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức
không nhỏđòi hỏi phải có chính sách phù hợp.Một hoạt động cóý nghĩa quan
trọng trong quá trình hội nhập kinh tế là ngoại thương. Quyết định sự thành
công hay thất bại của chính sách kinh tế phải kểđến vai trò quan trọng của
đồng tiền thanh toán và chếđộ tỷ giá hối đoái (TGHĐ) trong mỗi quốc gia.
Là một nước đang đi những bước đi đầu tiên cả về phương tiện lý luận
và thực tiễn, hơn bao giờ hết việc nghiên cứu TGHĐđang trở thành vấn đề
cấp bách đặt ra cho chúng ta, đặc biệt là các doanh nghiệp XNK của Việt
Nam.Để hiểu sâu hơn về vấn đề này tôi đã quyết định đi vào phân tích đề tài:
"Đồng tiền thanh toán và tỷ giá hối đoái - Những vấn đề đặt ra đối với các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và các giải pháp".
Để tiện cho việc theo dõi tôi xin chia bố cục bài viết gồm các phần sau:
I. Tổng quan vềđồng tiền thanh toán và TGHĐ
II. Những vấn đềđặt ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng
đồng tiền thanh toán và TGHĐ.
III. Các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro vềđồng tiền thanh toán và TGHĐ
trong kinh doanh xnk của các doanh nghiệp Việt Nam.
Do đây là một đề tài khá rộng và phức tạp nên trong quá trình nghiên
cứu, những khiếm khuyết hạn chế là khó tránh khỏi, vì vậy em rất mong được
sự phê bình góp ý của các thầy côđể những bài viết sau được chất lượng hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2003
Lê Thị Bích Liên - 6A07
Tiểu luận môn học ĐH Quản lý và Kinh doanh Hà Nội
PHẦN NỘI DUNG
I. Tổng quan về đồng tiền thanh toán và TGHĐ
mình ra tiền nước đóđể thực hiện các giao dịch.TGHĐ sẽ qui định tỷ lệ quy
đổi giữa 2 loại đồng tiền đó.
Thứ hai, nó có tác động trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu.Khi đồng
tiền của một nước tăng giá (tăng trị giá so với các đồng tiền khác) thì hàng
hoá của nước đóở nước ngoài trở nên áăt hơn và hàng hoá của nước ngoài tại
nước đó trở thành rẻ hơn và ngược lại.
Tỷ giá tác động tới hoạt động XNK, vì vậy nó tác động tới cán cân
thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân.
Thứ ba, tỷ giá là công cụđiều tiết vĩ mô. Tác động vào tỷ giá sẽ làm ảnh
hưởng tới XNK từđóảnh hưởng tới tổng cầu, sản phẩm quốc dân, thất
nghiệp… việc điều hành tỷ giá không tốt có thể dẫn tới lạm phát, khủng
hoảng.
Tỷ giá còn góp phần vào việc cải thiện cung cầu về ngoại tệ, giải quyết
các vấn đề nợ nước ngoài…
3. Các loại TGHĐ
- Tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng là tỷ giáđiện hối, tức là tỷ
giá chuyển ngoại hối bằng điện. Tỷ giáđiện hối là tỷ giá cơ sởđể xác định ra
các loại tỷ giá khác.
- Tỷ giáthư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
- Tỷ giá của séc và hối phiếu trả tiền ngay: được xác định bằng tỷ
giáđiện hối trừđi số tiền lãi của một đơn vị ngoại tệ trong trị giá toàn bộ của
séc và hối phiếu.
- Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn: bằng tỷ giáđiện hối (-) tiền lãi phát sinh
tính từ lúc ngân hàng bán hối phiếu đến lúc hối phiếu đóđược trả tiền.
- Tỷ giá giao nhận ngay: tức là tỷ giááp dụng khi bán ngoại hối thìđược
nhận tiền ngay vào hôm đó hay sau đó 2 ngày.
Lê Thị Bích Liên - 6A07
Tiểu luận môn học ĐH Quản lý và Kinh doanh Hà Nội
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giááp dụng khi bán ngoại hối nhưng
sau một thời hạn nhất định (1-3 tháng)… mới được nhận tiền.
tác động ngược lại: khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi mặt khác do tỷ giá
ngoại tệ giảm xuống làm cho hàng xuất khẩu của nước ngoài vào nước này
tăng lên, khối lượng hàng nhập khẩu của nước này tăng lên.
Bên cạnh đó, TGHĐ cũng tác động trực tiếp đến tình hình tiền tệ và giá
cả trong nước cũng như giá cả hàng XNK.
Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi (do nhà nước chủ trương
phá giá tiền tệđểđẩy mạnh xuất khẩu hay do lạm phát tăng lên) thì tỷ giá nội
tệ hạ xuống, tỷ giá ngoại tệ tăng lên dẫn đến chỉ số giá cả hàng hoá trong
nước tăng lên do giá hàng tính bằng nội tệ tăng lên. Giá nhập khẩu các
nguyên liệu, bán thành phẩm, thiết bị máy móc tăng lên…
Ngược lại, khi tỷ giá nội tệ tăng, một đơn vị nội tệđổi được một số
lượng ngoại tệ nhiều hơn trước thì giá cả hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ rẻ
hơn, làm cho chỉ số giá cả trong nước giảm xuống.
Như vậy, TGHĐđã trở thành một công cụ trong tay các nhà nước
đểđiều tiết quan hệ thương mại với nước ngoài trong từng thời kỳ nhất định.
3. Thực trạng áp dụng TGHĐ trên thị trường Việt Nam và các cơ chế
quản lý, điều hành tỷ giá.
3.1. Bối cảnh áp dụng TGHĐ tại Việt Nam
Trước kia, đồng nội tệ của ta chỉ gắn chặt với đồng nhân dân tệ (Trung
Quốc) vàđồng Rúp (Liên Xô) (do đặc thù của Việt Nam trong thời gian đó
quan hệ chủ yếu với các nước XHCN, đặc biệt là khối SEV). Do vậy, chếđộ
tỷ giá trong giai đoạn này có một sốđặc trưng sau:
• Tỷ giáđược xác lập nhằm phục vụ cho kế hoạch do nhà nước quyết
định, không xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong và ngoài
nước. TGHĐ giữ vai trò thụđộng, chưa phải là công cụđiều chỉnh vĩ mô thực
thụ.
• Do việc xác lập TGHĐ duy ý chí, không tuân thủ qui luật kinh tế. Vì
vậy, nó không chỉ cản trở các quan hệ kinh tế của nước ta với khối SEV
Lê Thị Bích Liên - 6A07
Tiểu luận môn học ĐH Quản lý và Kinh doanh Hà Nội