đánh giá chất lượng đất và hiện trạng sử dụng đất sau khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI THANH HẢI ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẤT VÀ HIỆN TRẠNG
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Thái Nguyên, 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả số
liệu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào.
Tác giả luận văn Bùi Thanh Hải

văn này.
Xin chân thành cảm ơn.
Thái nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Bùi Thanh Hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 5
1.1. Tài nguyên đất và tầm quan trọng của đất đai đối với phát triển kinh tế - xã
hội 5
1.2. Hoạt động khai thác khoáng sản trên thế giới và các vấn đề liên quan đến sử
dụng đất, thoái hoá đất 8
1.3. Tình hình khai thác khoáng sản tại Việt Nam 13
1.3.1. Quặng sắt 19
1.3.2. Bô xít 19
1.3.3. Quặng titan 20
1.3.4. Quặng thiếc 21
1.3.5. Quặng đồng 22

3.4. Đề xuất giải pháp cải tạo môi trƣờng đất và quy hoạch, quản lý sử dụng đất
sau khai thác khoáng sản 71
3.4.1. Giải pháp về quản lý 71
3.4.2. Giải pháp về công nghệ 71
3.4.3. Giải pháp khắc phục ô nhiễm KLN trong đất 72
3.4.4. Quản lý, quy hoạch sử dụng đất sau khai thác khoáng sản 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1. Kết luận 75
2. Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT
:Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng
BVTV
:Bảo vệ thực vật
CP
:Cổ phần
DT
:Diện tích
GDP
:Tổng thu nhập quốc nội
KLN
:Kim loại nặng
KSVN
:Khoáng sản Việt Nam
KT-KT

Bảng 3.2. Đặc trƣng hình thái các sông lƣu vực Sông Cầu 36
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 38
Bảng 3.4. Danh sách các mỏ và diện tích hoàn thổ 46
Bảng 3.5. Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng đất tại khu vực mỏ sắt Trại Cau 49
Bảng 3.6. Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng đất tại khu vực mỏ than Phấn Mễ 59
Bảng 3.7. Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng đất tại khu vực mỏ thiếc Đại Từ 66
Bảng 3.8. Biểu hiện tác động do hoạt động khai thác khoáng sản tới đất và cây
trồng 69
Bảng 3.9. Các loại cây trồng, cây hoang dại mọc trên vùng đất sau khai thác 70
Trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1. Vị trí tỉnh Thái Nguyên trong vùng Đông Bắc 34
Hình 3.2. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 34
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện pH của đất khu vực mỏ sắt Trại Cau 50
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện hàm lƣợng OM tổng số trong đất khu vực khu vực mỏ
sắt Trại Cau 51
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện hàm lƣợng N
TS
trong đất khu vực mỏ sắt Trại Cau 52
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện hàm lƣợng P
TS
trong đất khu vực mỏ sắt Trại Cau 53
Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện hàm lƣợng K
TS
trong đất khu vực mỏ sắt Trại Cau 54
Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện hàm lƣợng As tổng số trong đất khu vực mỏ sắt Trại Cau 55
Hình 3.9. Biểu đồ thể hiện hàm lƣợng Pb tổng số trong đất khu vực mỏ sắt Trại Cau 56

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thái Nguyên là tỉnh nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích
3.541,1 km
2
. Tỉnh có địa hình đa dạng: phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc có
nhiều dãy núi cao (ở các huyện Định Hóa, Đại Từ, Võ Nhai), các huyện,
thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công ở phía Nam có địa hình gò đồi và
đồng bằng tương đối bằng phẳng.
Thái Nguyên là tỉnh không có sông lớn nhưng có nhiều sông suối nhỏ
và nhiều hồ chứa. Đây là nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, thuỷ lợi và thủy
sản chính cho các địa phương trong tỉnh. Trên địa bàn tỉnh, tài nguyên khoáng
sản rất phong phú và đa dạng: nhiều mỏ kim loại màu, kim loại đen, mỏ than,
mỏ đá, mỏ sét đã, đang được khai thác hoặc sẽ được khai thác trong tương lai.
Và tài nguyên khoáng sản là một trong những thế mạnh của tỉnh Thái Nguyên
trong sự phát triển kinh tế của tỉnh.
Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Thái Nguyên đạt tốc độ phát
triển cao (tổng GDP 8-14%/năm). Sự tăng trưởng đó có một phần không nhỏ
sự đóng góp của ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Theo
quy hoạch phát triển từ nay đến 2020 tốc độ tăng trưởng GDP của Thái
Nguyên đến 12-15%/năm cao hơn mức tăng trung bình của cả nước (8-
9%/năm), trong đó, ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản đóng
góp một tỷ trọng lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh [29].
Thái Nguyên là một trong những tỉnh có trữ lượng khoáng sản lớn nhất
ở Việt Nam, đặc biệt là các khoáng sản phục vụ cho ngành luyện kim và chế
biến vật liệu xây dựng như sắt, chì, kẽm, titan, than, đá, sét, Với tiềm năng
lớn về khoáng sản, trên địa bàn tỉnh có rất nhiều cơ sở khai thác, chế biến
khoáng sản từ quy mô nhỏ đến lớn và đây là một trong những ngành chiếm
dụng diện tích đất sử dụng lớn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


3
nghiệp ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của nhân dân địa phương bị mất đất
và nhiều mỏ sau khi kết thúc khai thác, công tác cải tạo phục hồi môi trường
không được thực hiện triệt để gây khó khăn cho việc sử dụng đất có hiệu quả
sau khai thác.
Đứng trước vấn đề đó, đề tài “Đánh giá chất lượng đất và hiện trạng
sử sụng đất sau khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” được
lựa chọn với mục đích đánh giá được chất lượng đất và hiện trạng sử dụng đất
sau khai thác khoáng sản tại các khu vực khai thác khoáng sản trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên, các tồn tại trong việc quản lý sử dụng đất sau khai thác
khoáng sản, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để sử dụng có hiệu quả
diện tích đất sau khai thác khoáng sản.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
a/ Mục tiêu chung
Đánh giá chất lượng đất và hiện trạng sử dụng đất sau khai thác khoáng
sản tại tỉnh Thái Nguyên nhằm xác định thực trạng sử dụng đất, các vấn đề
tồn tại trong việc quản lý, sử dụng đất sau khai thác khoáng sản. Trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp quy hoạch, quản lý sử dụng đất có hiệu quả sau hoạt
động khai thác khoáng sản.
b/ Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá quy mô diện tích đất, hiện trạng sử dụng đất sau khai thác
khoáng sản tại địa bàn Thái Nguyên.
- Đánh giá chất lượng đất tại các khu vực sau khai thác khoáng sản.
- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất sau khai thác khoáng sản
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài “Đánh giá chất lượng đất và hiện trạng sử sụng đất sau khai
thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” mang ý nghĩa lớn trong việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

4

Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật
khác nhau trên trái đất. Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người
và đất đai ngày càng gắn liền chặt chẽ với nhau. Đất đai trở thành nguồn của
cải vô tận của con người, con người dựa vào đó tạo nên của cải nuôi sống
mình. Đất đai luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.
Không có đất đai thì không có bất kì một ngành sản xuất nào, không có một
quá trình lao động nào diễn ra, không thể có sự tồn tại của loài người (Nguyễn
Khắc Thái Sơn, 2007) [17].
* Đối với con người, đất đai có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Chức năng sản xuất: Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống phục vụ
cuộc sống con người. Qua quá trình sản xuất, đất đai cung cấp lương thực, thực
phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp
cho trồng trọt, chăn nuôi.
- Chức năng môi trường sống: Đất đai là môi trường sống của hầu hết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

6
các sinh vật, là nơi diễn ra tất cả các hoạt động của chúng.
- Chức năng cân bằng sinh thái: Đất đai giúp hình thành một trạng thái
cân bằng về năng lượng thông qua sự phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng
lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển địa cầu.
- Chức năng chứa đựng và cung cấp các loại tài nguyên khác: Đất đai
chứa đựng các loại tài nguyên như khoáng sản, rừng, nước Từ đó, nó cung cấp
các loại tài nguyên này cho con người khai thác, sử dụng trong quá trình sống.
- Chức năng đệm và điều hoà các chất độc hại: Đất đai có khả năng tiếp
nhận, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái của các chất độc hại.
- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ, bảo
tồn các chứng tác lịch sử, văn hoá của loài người, là nguồn thông tin về các điều
kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và cả về sử dụng đất đai trong quá khứ.
- Chức năng vật mang sự sống: Đất đai tạo ra không gian cho sự chuyển

vào đất là khi các hệ sinh thái này bị tác động. Do đó muốn đất có khả năng sản
xuất cao thì hệ sinh thái trong nó phải bền vững, muốn vậy con người phải có
cách khai thác nguồn lực đất đai một cách hợp lý.
Đất là một vật mang, lại được đặc trưng bởi tính chất độc đáo mà không vật
thể tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu. Độ phì nhiêu của đất được thể hiện
qua hàm lượng chất dinh dưỡng chứa trong đất (NPK, các hợp chất mùn, khả
năng giữ nước của đất ), đây là các tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đất
đai. Đối với các hệ sinh thái, độ phì nhiêu giúp cho chúng tồn tại và phát triển.
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên đất cũng đóng vai trò vô
cùng quan trọng:
- Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt: Trong những điều kiện vật chất
cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người thì đất đai là điều
kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kì một quá trình sản xuất nào. Đất
là tư liệu sản xuất chính không thể thay thế được của một số ngành sản xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

8
như nông nghiệp, lâm nghiệp. Mác cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ
đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là
nền tảng của tập thể.
- Đất đai là nguồn nguyên liệu của một số ngành: Đất đai là nguyên liệu
sản xuất của một số ngành như làm gạch ngói, đồ gốm, xi măng Đất đai là địa
điểm để đặt máy móc, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng và là chỗ đứng cho người
công nhân trong sản xuất công nghiệp.
- Đất đai là môi trường sống: Đối với đời sống, đất là nơi trên đó con
người xây dựng nhà cửa, các công trình làm chỗ ở và nơi tiến hành các hoạt
động văn hoá, là nơi phân bố các vùng kinh tế, khu dân cư hầu hết mọi của
cải của con người đều lấy từ đất.
- Đất đai là một bộ phận quốc gia: Dưới góc độ chính trị - pháp lý, đất
đai là một bộ phận không thể tách rời khỏi lãnh thổ quốc gia, gắn liền với lãnh

quá trình khai thác và các hoạt động liên quan như dọn mặt bằng mỏ, vận
chuyển và chế biến quặng. Suy thoái rừng và ô nhiễm nước do khai thác
khoáng sản không chỉ tác động đến hệ sinh thái mà còn tác động đến sinh kế
của người dân sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này.
Điều đáng tiếc là các công ty khai khoáng ở các nước đang phát triển
trên thế giới đều rất ít quan tâm đến tác động môi trường. Trong khi đó, bản
thân chính phủ các quốc gia này lại thiếu năng lực hành chính - kỹ thuật cũng
như ý chí chính trị để quản lý và kiểm soát hiệu quả lĩnh vực này. Vấn đề này
lại càng trở nên trầm trọng hơn bởi một thực tế là thoả thuận khai thác khoáng
sản giữa chính phủ và các doanh nghiệp còn thiếu minh bạch và nỗ lực nhằm
kiểm soát nghiêm minh các hoạt động khai khoáng còn bị làm ngơ do sức hấp
dẫn lợi nhuận mang lại. Những khu vực bị tàn phá do khai thác thường bị bỏ
quên và tổn hại môi trường hầu như không thể ngăn chặn được [25], [26].
Sự phát triển của các ngành khai thác khoáng sản không đồng bộ với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

10
biện pháp bảo vệ môi trường, cải tạo phục hồi môi trường đã để lại những hậu
quả suy thoái môi trường tại các khu vực khai thác khoáng sản:
- Một diện tích lớn đất nông nghiệp, lâm nghiệp trước đây bị chiếm
dụng cho mục đích khai thác khoáng sản vẫn để hoang hoá sau khi khai thác.
- Tầng đất mặt bị xáo trộn gây khó khăn cho việc hoàn thổ, phục hồi
môi trường sau khai thác.
- Cân bằng nước khu vực bị phá vỡ, gia tăng các hiện tượng trượt lở,
bồi lấp, tích tụ các chất rắn do sự biến đổi chế độ thuỷ văn của dòng chảy mặt
và dòng chảy ngầm.
- Làm suy thoái thảm thực vật, suy giảm diện tích rừng, cạn kiệt trữ
lượng gỗ,
Phá rừng
Khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến

bẩn các nguồn nước dự trữ khác như các túi nước ngầm. Xói lở từ các mái
dốc không có rừng bao phủ làm các con sông đầy ắp bùn phù sa và làm tăng
khả năng lũ lụt. Khai thác khoáng sản gần các lưu vực sông, đặc biệt là mỏ
than hầm lò càng làm tăng thêm những nguy cơ tai nạn do bị ngập lụt.
Độc chất xyanua và thủy ngân được sử dụng trong quá trình tuyển vàng
đã gây ra ô nhiễm nước mặt và nguồn nước ngầm ở các quốc gia như
Campuchia, Myanmar và Philipines [25]. Việc sử dụng hóa chất không đúng
tiêu chuẩn gây ra những thiệt hại lớn cho môi trường và có thể dẫn tới những
tác động nguy hại cho sức khỏe cộng đồng và các hệ sinh thái.
Nhu cầu tiêu thụ nước quá lớn của hoạt động khai thác khoáng sản
cũng gây ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước. Ở Ấn Độ, từ 2005 - 2006, ước
tính 77 triệu tấn nước đã được sử dụng để khai thác quặng sắt; lượng nước
cung cấp đủ cho nhu cầu sinh hoạt của hơn 3 triệu người. Tại mỏ khai thác
than non Neyveli ở Tamil Nadu, 40 triệu lít nước được bơm và thải ra hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

12
ngày. Phần lớn tại các khu vực khai khoáng ở Ấn Độ, người dân đều nhận
thấy sự khan hiếm nước nghiêm trọng do khai thác khoáng sản. Cộng đồng
địa phương ở Philipines lo sợ rằng ô nhiễm và hiện tượng lắng đọng trầm tích
ở các con sông do khai thác khoáng sản có thể làm suy giảm nguồn nước,
giảm năng suất lúa gạo và thủy sản.
Tác động của việc đốn gỗ
Khai thác gỗ trái phép, phát triển đồn điền cây công nghiệp (như cọ
dầu, cao su) và khai thác khoáng sản đã và đang dẫn tới vấn nạn mất rừng ở
nhiều quốc gia Châu Á. Trong những năm gần đây, nhận thức của các nhà
hoạch định chính sách, nông dân và cộng đồng nói chung về tác động do suy
thoái rừng đối với nguồn nước, đặc biệt là hiện tượng lũ lụt, đã được nâng cao
hơn.
Rừng và nước

phú với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác
nhau. Những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tình
trạng hoạt động khai thác khoáng sản đang là vấn đề bức xúc diễn ra trên
khắp cả nước. Một thực tế không thể phủ nhận rằng, không dễ dàng kết hợp
hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, khai thác và sử
dụng một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với nước ta, trong
giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khi mà nền kinh tế
về cơ bản vẫn phải dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có hạn. Tuy
vậy, nếu chúng ta quản lý tốt hoạt động khai thác khoáng sản và khai thác
nước ngay từ khâu cấp phép thì tác động của nó tới môi trường phần nào sẽ
đựơc giảm thiểu và hiệu quả khai thác, sử dụng sẽ được tăng lên [30].
Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam:
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và
tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

14
Việt Nam. Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất
khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển
vọng lớn. Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy,
Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng. Nhiều khoáng
sản có trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít,… chủng loại
khoáng sản đa dạng.
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai
thác lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội. Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác
quy mô nhỏ và khai thác quy mô vừa.
Quá trình khai thác khoáng sản thường qua ba bước: mở cửa mỏ, khai
thác và đóng cửa mỏ. Như vậy, tất cả các công đoạn khai thác đều tác động
đến tài nguyên và môi trường đất.

Khai thác mangan Chiêm Hoá
(Tuyên Quang)
2
Đất đồi bị đào phá, hoang hoá
4
Khai thác thiếc Bắc Lũng (Thái
Nguyên)
218
Đất đồi bị đào phá, thu hẹp rừng
nguyên sinh
5
Khai thác than Thái Nguyên
671
Rừng và đất rừng bị thu hẹp để
làm khai trường, bãi thải
6
Khai thác barit Ao Sen-Thượng Ấm
150
Đất đồi hoang hoá do đào phá
7
Khai thác Vonfram - Thiện Kế
25
Rừng tự nhiên bị thu hẹp, đất đồi
hoang bị đào phá
8
Các mỏ kim loại khác ở Thái
Nguyên, Bắc Kạn
960
Rừng và đất rừng bị thu hẹp để
làm khai trường, bãi thải

DT đất
LN bị
phá (ha)
Mức độ suy thoái
1
Mỏ than Núi Hồng
274
Chiếm dụng đất để làm khai trường, bãi thải và
thải nước thải làm ô nhiễm đất mông nghiệp
2
Mỏ than Khánh Hoà
100
Chiếm dụng đất để làm khai trường, bãi thải và
thải nước thải làm ô nhiễm đất mông nghiệp
3
Các mỏ vàng ở Bắc Kạn,
Thái Nguyên
114.5
Chiếm dụng đất để làm khai trường, bãi thải gây
ô nhiễm đất
4
Các mỏ ở huyện Quỳ Hợp-
Nghệ An
145
Đất nông nghiệp bị ô nhiễm do lắng bùn, cát
29
Thiếu nước, suy giảm năng suất
5
Các mỏ ở huyện Quỳ
Châu-Nghệ An


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status