TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
----------
CÔNG TRÌNH DỰ THI SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2016
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN THEO ĐỊNH HƯỚNG CỦA
CHÍNH PHỦ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT..................................................................................................... 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU ................................................................................................. 5
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 6
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 6
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu: .......................................................................................... 8
5. Kết cấu của đề tài ...................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY NÔNG NGHIỆP NÔNG
THÔN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CỦA CHÍNH PHỦ .. 9
1.1.
Khái quát về các tổ chức tín dụng .......................................................................... 9
1.1.1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại ............................................................. 9
nông thôn .................................................................................................................... 36
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHO VAY NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN NAM ĐỊNH .................................. 42
2.1. Khái quát về tình hình phát triển nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Nam
Định ................................................................................................................................ 42
2.2. Thực trạng cho vay nông nghiệp – nông thôn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn
tỉnh Nam Định. ............................................................................................................... 48
2.2.1. Định hướng cho vay nông nghiệp nông thôn của Chính phủ ........................... 48
2.2.2. Thực trạng cho vay nông nghiệp – nông thôn của nhóm các Ngân hàng thương
mại trên địa bàn tỉnh Nam Định ................................................................................. 52
2.2.3. Thực trạng cho vay nông nghiệp – nông thôn của nhóm Ngân hàng chính sách
trên địa bàn tỉnh Nam Định ........................................................................................ 57
2.2.4. Thực trạng cho vay nông nghiệp – nông thôn của Quỹ tín dụng nhân dân tỉnh
Nam Định .................................................................................................................... 58
2.3. Đánh giá chất lượng cho vay nông nghiệp – nông thôn của các Tổ chức tín dụng
trên địa bàn tỉnh Nam Định ............................................................................................ 60
2.3.1. Nhóm chỉ tiêu an toàn ....................................................................................... 60
2.3.2. Nhóm chỉ tiêu sinh lời ....................................................................................... 72
2.4. Đánh giá của thực trạng .......................................................................................... 74
2.4.1. Những kết quả đạt được .................................................................................... 74
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế .............................................................. 76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔNG TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NAM ĐỊNH ............................................................................................................ 86
3.1. Định hướng cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn.......................................... 86
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn ........... 88
2
NHCSXH
Ngân hàng chính sách xã hội
5.
QTDND
Quỹ tín dụng nhân dân
6.
QTDNDTW
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
7.
QTDNDCS
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
8.
NN-NT
Nông nghiệp – nông thôn
9.
Bảng 2.1.
Cơ cấu kinh tế tỉnh Nam Định giai đoạn 2013 - 2015
Bảng 2.2.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn của
tỉnh Nam Định năm 2014
Bảng 2.3.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm (2011- 2015) về phát triển NNNT của tỉnh Nam Định
Bảng 2.4.
Tình hình dư nợ cho vay phát triển NN-NT
Bảng 2.5.
Kết quả cho vay NN-NT theo lĩnh vực sản xuất
Bảng 2.6.
Tỉ trọng cho vay NN-NT theo lĩnh vực sản xuất
Bảng 2.7.
Tình hình dư nợ cho vay phát triển NN-NT của Ngân hàng Chính sách tỉnh
Nam Định
Tình hình nợ quá hạn cho vay nông nghiệp nông thôn phân theo nhóm tại các
ngân hàng thương mại Nam Định
Bảng 2.16
Tình hình nợ quá hạn cho vay phát triển NN-NT phân theo nhóm của NHPT
tỉnh Nam Định
Bảng 2.17
Tình hình nợ quá hạn cho vay NN-NT phân theo nhóm của QTDND tỉnh
Nam Định
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét trên xu hướng chung cơ cấu kinh tế thế giới, một nước đang phát triển như
Việt Nam đòi hỏi phải giảm dần tỷ trọng của giá trị nông nghiệp trong GDP, song điều đó
cũng không có nghĩa là sản lượng nông nghiệp sẽ chững lại mà phải tiếp tục gia tăng với
chất lượng cao, để đảm bảo đời sống cho nhân dân, tạo tiền đề cho sự phát triển vững
mạnh trong công nghiệp và dịch vụ. Hiện nay, với 60% dân số là nông dân, bước đi của
Việt Nam cần phải làm là coi trọng phát triển nền nông nghiệp một cách bền vững, cùng
với đó là cơ cấu lại mô hình sản xuất, đời sống của nông dân và áp dụng các công nghệ
hiện đại và sản xuất nông nghiệp đem lại giá trị cao. Để làm được những điều trên, khu
vực nông nghiệp rất cần những đầu tư mang tính dài hạn từ các tổ chức tín dụng, song
hành với đó là các chính sách khuyến khích phát triển của Nhà nước trong việc Hỗ trợ
vay vốn đối với khu vực này.
Tìm hiểu những chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay theo định hướng của
chính phủ.
Những thành tựu đạt được theo chỉ tiêu trên.
Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với cho vay nông nghiệp nông thôn
theo định hướng của chính phủ.
Một số hướng đi nhằm khắc phục hạn chế
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay nông nghiệp nông
thôn theo định hướng của chính phủ.
Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ bài viết, nhóm tác giả chỉ nghiên cứu 3
nhóm tổ chức tín dụng, bao gồm: (1) Ngân hàng thương mại; (2) Ngân hàng chính sách
và (3) Quỹ tín dụng nhân dân.
Địa bàn nghiên cứu: Nam Định.
7
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2013 đến năm 2015
Thời gian hàm ý chính sách: đến năm 2020
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp so sánh, phân tích
- Phương pháp thống kê.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng cho vay nông nghiệp nông thôn của các tổ
chức tín dụng theo định hướng của Chính phủ
Chương 2: Đánh giá chất lượng cho vay nông nghiệp nông thôn tại các tổ chức tín
dụng trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay phát triển nông nghiệp nông
nghiệp vụ chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác.
Ở Việt Nam, Quốc hội (2010) cho rằng: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ
chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động
khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Các hoạt động ngân hàng được đề cập đến
bao gồm: (1) Nhận tiền gửi; (2) Cấp tín dụng và (3) Thanh toán. Việc định nghĩa theo
nghiệp vụ đã giúp Ngân hàng nhà nước Việt Nam hạn chế một số lượng lớn các tổ chức
tài chính trên thị trường bị điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng, cũng tạo điều kiện
9
cho các tổ chức này phát triển theo xu hướng ổn định hơn, và giảm áp lực đối với hệ
thống bảo hiểm tiền gửi còn non trẻ tại Việt Nam.
Đặc trưng của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, về cấu trúc tài sản: Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô
lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả giác độ vốn chủ sở
hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng thương mại là hàng
nghìn tỷ đồng. Đối với các Ngân hàng thương mại trên thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới
nhiều tỷ đô la Mỹ. Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng
về địa lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của Ngân hàng
thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài Ngân hàng. Cấu trúc tài sản của
Ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là
ở tỷ trọng tài sản tài chính. Phần lớn tài sản của Ngân hàng thương mại là tài sản tài chính,
mang đặc trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí chỉ là
dữ liệu điện tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định. Bên cạnh đó, Ngân hàng thương
mại thường có xu hướng liên tục phát triển các sản phẩm, công cụ tài chính mới.
Thứ hai, hoạt động của Ngân hàng thương mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và
chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp
Trên giác độ tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn đến rủi
Hệ thống Ngân hàng – tài chính trong nền kinh tế rất nhạy cảm với mọi biến động
về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Những biến động này thường có tác động gần
như tức thời đến hoạt động của thị trường tài chính, điển hình là thị trường chứng khoán,
theo đó, nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng. đối với công
tác quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc nắm bắt được cơ chế hoạt động, ảnh hưởng lẫn nhau
của các phần tử trong hệ thống tài chính là một trong những vấn đề cốt yếu, quyết định
thành bại.
11
1.1.1.2.
Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn
Tại mỗi NHTM, vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Thứ nhất, huy động vốn nợ
Nhận tiền gửi: Đây là hoạt động huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất của các
NHTM, bao gồm các hoạt động như huy động tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết
kiệm và tiền gửi kỳ hạn của mọi đối tượng trong nền kinh tế. Hoạt động này tạo ra
nguồn vốn từ ngắn hạn đến dài hạn cho các ngân hàng, đồng thời cũng bị điều
chỉnh bởi các quy định của ngân hàng trung ương các nước như phải tham gia dự
trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi… Nguồn này có đặc điểm là phải tiến hành chi trả
khi các đối tượng gửi tiền có yêu cầu.
Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các
hình thức sau:
Cho vay ngắn hạn thường được thực hiện đối với hoạt động cho vay tiêu dùng đối
với cá nhân, hoặc đối với các doanh nghiệp trong quá trình bổ sung vốn lưu động hay các
nhu cầu khác. Đây là hoạt động mang lại doanh thu tương đối lớn trong hoạt động cho
vay của ngân hàng, đồng thời mang tính an toàn cao do thời gian đáo hạn dưới 1 năm, ít
gây ra rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ vì ít chịu ảnh hưởng của chu kì kinh tế
hay những thay đổi liên quan đến chính sách của nhà nước hay biến động của thiên tai…
Các hoạt động cho vay ngắn hạn cũng thường được cấp các khoản vốn không quá lớn (so
với cho vay trung và dài hạn), do vậy thường có thể sử dụng trực tiếp vốn của chi nhánh
hoặc của ngân hàng mà không cần tiến hành cho vay hợp vốn hoặc thông qua bất cứ một
ngân hàng đầu mối nào. Tài sản đảm bảo của các khoản vay này thường sẽ là bất động
sản hoặc chính tài sản hình thành từ nguồn vốn vay nên sẽ đáp ứng nhu cầu chi trả của
khách hàng – việc này vừa giúp ngân hàng hạn chế rủi ro tín dụng, vừa giảm thiểu được
dự phòng. Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện tại, khi các hoạt động cấp tín dụng trung và
dài hạn đang gặp nhiều vấn đề về cạnh tranh; đồng thời gặp nhiều vấn đề do khủng hoảng
kinh tế thì tín dụng ngắn hạn càng được chú trọng để mở rộng, thông qua nhiều chương
trình như cho vay ngắn hạn qua thẻ… Chính sách này giúp các ngân hàng vừa tạo được
lợi nhuận vừa giúp mở rộng danh tiếng và thị phần.
13
Cho vay trung và dài hạn: bên cạnh cho vay ngắn hạn thì hoạt động này mang lại
tỷ trọng lợi nhuận lớn cho ngân hàng, do tổng vốn cấp tín dụng lớn – và có những hoạt
động cần phải đứng ra đồng tài trợ hoặc cho vay hợp vốn giữa nhiều chi nhánh, nhiều
ngân hàng; lãi suất cao do thời gian dài; song cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khi khách
hàng không trả được nợ do nhiều yếu tố. Một số ngân hàng lớn trên thế giới tách hẳn hoạt
động cho vay trung và dài hạn thành 1 hoạt động riêng với tên gọi là ngân hàng bán buôn
để chuyên môn hóa và thu hút nguồn lực.
Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo
vực có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn trên, tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi quốc, Chính
phủ thiết lập nên các tổ chức, các kênh tín dụng hoạt động chuyên biệt để cho vay ưu đãi
đối với các khu vực và đối tượng đặc biệt này. Trong hoạt động của mình thì sinh lời
không phải là mục tiêu hàng đầu cần đạt tới của các tổ chức này và ngân hàng chính sách
(NHCS) là một tổ chức trong số những tổ chức đó.
Như vậy, Ngân hàng chính sách là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu
là thực hiện tín dụng theo chính sách và kế hoạch của Nhà nước.
Khác với hệ thống NHTM với mục tiêu hoạt động chung là nhằm tối đa hóa giá trị
vốn chủ sở hữu, NHCS là công cụ để các cơ quan quản lý trực tiếp thực hiện các chính
sách của mình nhằm mục tiêu đạt được các sự tăng trưởng bền vững cho đất nước. Các
món vay chính sách thường nhỏ, lẻ, thời gian dài, lãi suất ưu đãi cho các đối tượng và đầu
tư vào các lĩnh vực rủi ro, lại không có tài sản thế chấp, chi phí quản lý vốn vay cao,
thường không hoặc đem lại rất ít giá trị gia tăng về mặt giá trị cho ngân hàng so với vốn
vay ban đầu, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo cho vay có hoàn trả cả gốc lẫn lãi; nhưng nó lại
có tác dụng quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện
điều kiện sống của dân cư, phân phối lại thu nhập trong xã hội đảm bảo sự phát triển
đồng đều của quốc gia.
Một điểm khác biệt nữa với NHTM là: vốn của các NHTM chỉ một phần nhỏ là do
nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp ban đầu khi mới thành lập, còn phần lớn là huy
động nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường cũng như việc bổ sung lợi nhuận hàng năm vào
15
nguồn vốn; trong khi đó vốn của NHCSXH lại có nguồn gốc từ NSNN là chủ yếu (không
chỉ được cấp ban đầu mà còn được bổ sung hàng năm tùy theo kế hoạch phát triển của
Nhà nước), tỷ trọng vốn huy động trên thị trường thường nhỏ.
Đặc trưng các hoạt động của ngân hàng chính sách
Thứ nhất, ngân hàng chính sách tài trợ cho các đối tượng đặc biệt trong nền kinh
tế, bao gồm (1) Đối với các đối tượng chính sách: Đã tạo ra một kênh tín dụng được sử
dụng một cách hiệu quả cho những đối tượng, khu vực chính sách hơn các loại hình cấp
NHCS là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên các hoạt động cơ bản của
ngân hàng bao gồm: huy động vốn, cho vay và các hoạt động dịch vụ khác.
Huy động vốn
Xuất phát từ tính chất các món cho vay mà ngân hàng cung ứng có tỷ lệ sinh lời
thấp (cho vay xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển vùng khó khăn, …), thời gian
dài, rủi ro cao nên để đảm bảo cho hoạt động bền vững của ngân hàng, nguồn vốn huy
động của NHCS có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm:
-
Vốn từ các khu vực có liên quan đến nhà nước
Trong khi hoạt động đặc trưng của các NHTM là huy động vốn – chủ yếu là tiền
gửi để cho vay, hay nói cách khác là đi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường
để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế thì nguồn vốn của NHCS lại
được tạo lập chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà nước dưới các hình thức như: Cấp vốn điều
lệ, Vốn cấp hàng năm để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, trái phiếu Chính
phủ, vốn do Ngân sách các địa phương hỗ trợ, vốn vay lãi suất thấp như vay lại ODA,
vay Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước…
-
Nguồn huy động với lãi suất thị trường
Để bổ sung nguồn phục vụ cho hoạt động của mình, NHCS còn tiến hành huy
động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân và các tổ chức trong và ngoài nước
dưới các hình thức như: (1) Nhận tiền gửi từ các tổ chức tín dụng nhà nước, (2) Vốn huy
động của Tổ chức, cá nhân trên thị trường như tiền gửi, đi vay các tổ chức, nhận vốn ủy
thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân
hàng có bảo lãnh của Chính phủ … Tuy nhiên, khối lượng nguồn vốn huy động trên thị
17
trả một lần vào cuối kỳ hạn vay. Tuy nhiên, hình thức hoàn trả được đánh giá cao là trả
nhiều lần theo định kỳ thường xuyên (tuần, tháng). Tần số trả tiền vay phụ thuộc vào nhu
cầu của khách hàng vay, khả năng quản lý của ngân hàng. Ưu điểm của hình thức này là:
giúp khách hàng dễ kiếm những món nhỏ để trả nợ; khi kết thúc thời hạn vay còn tài sản
mua sắm được từ vốn vay; kích thích khách hàng năng động trong việc sử dụng vốn, biết
tính toán làm ăn; hạn chế rủi ro mất vốn cho ngân hàng; vốn quay vòng nhanh nên nhiều
người sẽ được vay hơn; và đảm bảo mối quan hệ thường xuyên giữa ngân hàng và khách
hàng. (2)Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro cao, do các đối tượng vay vốn chủ yếu
sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi môi trường thiên nhiên bị tàn phá, thường
xuyên xảy ra bão lụt, hạn hán gây thiệt hại lớn cho người dân về vật chất. Vì vậy, việc sử
dụng vốn vay của những khách hàng này rất dễ gặp rủi ro. (3) Các quy định về đảm bảo
tiền vay, các quy trình về thẩm định dự án, các thủ tục và quy trình vay vốn, quy định
mức vốn đầu tư tối đa, thời hạn vay vốn, quy định về trích lập và xử lý rủi ro, quy trình
xử lý nghiệp vụ có những khác biệt so với các quy định của NHTM như: do các đối
tượng vay có rất ít tài sản, nên yêu cầu về tài sản thế chấp cho món vay là không thích
hợp, vì vậy ngân hàng có thể sử dụng một số hình thức thay cho tài sản thế chấp như:
Nhóm liên đới (cho vay theo nhóm, thông qua việc sử dụng nhóm là công cụ bảo lãnh
cho vốn vay của các thành viên trong nhóm đó), cho vay dựa trên úy tín và tính cách
khách hàng, bảo lãnh của bên thứ ba… trường hợp phải thế chấp chỉ áp dụng đối với một
số trường hợp cho vay nhất định. Về thời hạn cho vay cũng được xác định dựa trên chu
kỳ sản xuất kinh doanh của người vay, khi có những rủi ro do điều kiện khách quan gây
ra phần lớn ngân hàng sẽ trình Chính phủ để xử lý theo hướng xóa, khoanh, giãn nợ tùy
thuộc vào mức độ nghiêm trọng của những rủi ro và nguồn NSNN có thể cấp bù. (4)
Thực thi các chính sách tín dụng có ưu đãi như: ưu đãi về các điều kiện vay vốn, ưu đãi
về lãi suất cho vay… thường là thấp hơn rất nhiều so với việc đi vay của các NHTM. Tuy
nhiên mức lãi suất ở đây cũng phải đảm bảo cho ngân hàng có thể tự trang trải chi phí
trong quá trình hoạt động của mình, đảm bảo kinh doanh đạt được sự bền vững. Có như
thế mới có thể tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có cơ hội
Hoạt động này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh, gồm
Vốn huy động, thường là tiền gửi tiết kiệm của cá nhân hoặc tiền gửi kỳ hạn của
các hội thuộc địa bàn xã, phường như quỹ hội phụ nữ, quỹ hội cựu chiến binh… QTDND
chỉ được dùng vốn huy động để cho vay phát triển sản xuất, dịch vụ và đời sống, không
20
được dùng để chi phí, mua sắm tài sản, công cụ lao động, hoặc mua cổ phần, góp vốn liên
kết, liên doanh.
Vốn đi vay: QTD được vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, của các
tổ chức tín dụng khác. Trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính, Quỹ tín dụng được
vay vốn Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khác khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Vốn làm các dịch vụ ủy thác đầu tư của các pháp nhân, thể nhân trong nước và
nước ngoài. Nguồn vốn này thường không phổ biến, chỉ tập trung vào một số địa phương
có nhiều thuận lợi, nhưng được nhận với mức lãi suất thấp và cho vay ra theo lãi suất
thấp hơn lãi suất thị trường.
Vốn trích từ lãi ròng hàng năm để hình thành các Quỹ mà QTD được phép dùng
để kinh doanh và các loại vốn khác hình thành trong quá trình hoạt động. Thời gian đầu
mới khai trương có thể nguồn vốn này chưa có hoặc có rất ít, nhưng về lâu dài nguồn vốn
này ngày càng tăng trường , do QTD làm ăn có lãi.
Hoạt động tín dụng
Do mang nặng tính chất tương trợ trong cộng đồng, nên QTD chỉ cho vay vốn đối
với thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của
QTDND cơ sở. Việc cho vay hộ nghèo thực hiện theo Điều lệ của QTDND, nhưng tỷ lệ
dư nợ cho vay đối với hộ nghèo so với tổng dư nợ không được vượt quá tỷ lệ do Ngân
hàng Trung ương quy định. Bên cạnh đó, QTDND cơ sở được cho vay những khách hàng
có tiền gửi tại QTDND dưới hình thức cầm cố sổ tiền gửi do chính QTDND đó phát hành.
Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức cho vay này
áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất, kinh
doanh ổn định.
22
Ngoài ra, dựa trên ngành nghề, có thể phân thành cho vay theo khu vực nông
nghiệp, nông thôn; cho vay khu vực công nghiệp – xây dựng; và cho vay theo khu vực
dịch vụ.
1.2.1.2. Cho vay nông nghiệp nông thôn
Cho vay NN-NT là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cấp cho khách hàng một
khoản tiền nhất định theo thoả thuận để đầu tư vào các lĩnh vực NN-NT với nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Chính phủ (2015) thì các lĩnh vực cho vay phát triển NN-NT bao gồm:
- Cho vay các chi phí phát sinh phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm
nông nghiệp nông thôn từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ.
- Cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ trên
địa bàn nông thôn.
- Cho vay để sản xuất giống trong trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, trồng rừng và
cung ứng sản các sản phẩm, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp.
- Cho vay phát triển ngành nghề tại địa bàn nông thôn.
- Cho vay phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
- Cho vay các nhu cầu phục vụ đời sống của cư dân trên địa bàn nông thôn.
- Cho vay theo các chương trình kinh tế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn của Chính phủ.
Đặc điểm của cho vay NN-NT:
- Trong hoạt động sản suất nông nghiệp, đối tượng sản xuất của các hộ sản xuất
chủ yếu là cây trồng, vật nuôi nên có quy luật phát triển theo thời kì. Tính thời vụ trong
sản xuất nông nghiệp đã làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển vốn chậm chạm. Bên cạnh
1.2.2. Sự cần thiết cho vay đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi là nền
móng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Đặc biệt khi Việt Nam thực hiện chính
sách mở cửa, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thương mại nông nghiệp đã
đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ, tăng thu nhập cho khu vực nông nghiệp, cải thiện
đời sống của người dân nông thôn. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nông nghiệp,
24