Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn hóa học nói chung và đặc biệt là môn hóa học hữu cơ nói riêng là một
môn học khó, nhưng lại rất quan trọng đối với học sinh bậc THPT. Mục tiêu giảng
dạy bộ môn hóa học trong trường THPT đặc biệt là phần Hóa học hữu cơ nhằm
cung cấp cho học sinh những kiến thức hóa học hữu cơ cơ bản và những ứng dụng
hóa học hữu cơ trong sản xuất và trong cuộc sống giúp các em lĩnh hội kiến thức có
hiệu quả và tạo cho các em sự hứng thú học tập phần hóa học hữu cơ, lòng yêu
thích khoa học, tính trung thực khoa học và sẵn sàng áp dụng những kiến thức hóa
học hữu cơ vào thực tế cuộc sống .không những giúp các em hiểu được, giải thích
được nhiều hiện được xảy ra trong cuộc sống hàng ngày xung quanh các em mà
trong các đề thi ĐH và CĐ số lượng về các bài tập hóa hữu cơ cũng tương đối
nhiều.Nhưng trong những năm qua trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học trong
trường THPT tôi thấy các em thật sợ mỗi khi học đến phần hóa học hữu cơ, các em
chỉ tiếp thu bài một cách thụ động. Để môn học không còn đặc thù khó hiểu, tôi
trọn đề tài: “Lồng ghép những kiến thức cơ bản của hóa học hữu cơ để giải
thích hiện tượng và ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày vào bài giảng hóa học
hữu cơ”. Với mục đích làm cho mỗi tiết học hóa học hữu cơ sinh động hơn gần gũi
với các em hơn, làm cho các em yêu thích môn học hóa học hữu cơ hơn.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích tôi nghiên cứu đề tài này là tôi muốn cho các em thấy hóa học hữu
cơ rất gần gủi, thiết thực với cuộc sống đời thường. Có những hiện tượng sự vật
bình thường các em đã nhìn thấy thậm chí là thường xuyên sử dụng nó, thậm chí có
những thực phẩm các em dùng để ăn, uống mà các em không biết rằng đó là các
chất hóa học hữu cơ. Xung quanh cuộc sống của các em điều liên quan đến hóa học
trong đó có các chất hóa học hữu cơ. Có những kiến thức hóa học hữu cơ rất đơn
giản mà các em có thể làm được, áp dụng được trong cuộc sống. Vì vậy tôi muốn
1
trong mỗi bài học hóa học hữu cơ, tôi sẽ nêu ra cho các em thấy có những phản ứng
hóa học hữu cơ các em có thể tạo ra được sản phẩm dùng được trong cuộc sống
hoặc các em có thể hiểu được những thứ mình đang dùng, những thứ xung quanh
lồng ghép những câu hỏi hóa học có liên quan đến cuộc sống hàng ngày mà các em
thường gặp, có những câu hỏi mà các em đang thắc mắc nhưng chưa có lời giải đáp vào
các tiết học hóa học hữu cơ. Tùy thuộc vào từng bài mà tôi có thể lồng ghép các câu hỏi
vào nội dung bài học, cũng có thể đặt câu hỏi dẫn dắt các em vào bài mới hoặc tôi đưa câu
hỏi vào khi đã kết thúc bài học.Những câu hỏi tôi đưa ra thường rất gần với các em và
cũng gây tò mò cho các em và các em có thể áp dụng những kiến thức hóa học hữu cơ bản
ngay trong bài học cũng có thể giải thích được, tạo cho các em niềm say mê hóa học nói
3
chung và hóa học hữu cơ nói riêng. Từ đó các em có thể áp dụng những kiến thức hóa học
hữu cơ vào cuộc sống hàng ngày của các em. Trong quá trình lồng ghép những câu hỏi
xen vào bài học nếu có liên quan đến thí nghiêm, tôi sẽ cho các em làm thí nghiệm ngay
trên lớp, hoặc có thể trình chiếu cho các em xem các phóng sự có liên quan.
2. Tổ chức thực hiện:
– Giáo viên có thể sử dụng nhiều phương tiện, nhiều cách khác nhau như:
bằng lời giải thích,bằng hình ảnh, đoạn phim….có thể dùng máy chiếu hoặc không
dùng máy chiếu… tuỳ thuộc vào từng nội dung bài dạy hoặc từng cách thức tổ
chức của giáo viên. Sau đây tôi xin đưa ra một số ví dụ minh họa.
– Ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Khi giảng dạy bài Ankan
- phần gọi tên các ankan tôi lồng vào những câu có vần để học sinh dễ nhớ
như:
Mẹ em phải bán phèn hai hào ông nợ đừng quên.
meta etan propan butan pentan hexan heptan octan nonan đecan
Hoặc: e 2, bu 4, pro 3, pen 5, hex 6, 7 là heptan, thứ 8 là chất octan, nonan thứ 9,
đecan thứ 10.
Với những câu có vần này các em sẽ không thấy cứng nhắc khó nhớ, mà các
em thấy hay và sẽ nhớ được cách gọi tên ngay trên lớp. Từ đó sẽ giúp các em gọi
tên dễ dàng các chất hữu cơ khác mà các em sẽ học.
Ví dụ 2: Khi kết thúc bài ankan: Cấu trúc phân tử và tính chất vật lí.
( lớp 11 )
2n + 2
+ (
2
13 +n
)O
2
→
nCO
2
+ ( n+ 1)H
2
O
5
t
o
Sau đó trình chiếu một đoạn băng về một số vụ nổ bình gas ở trong nước để
học sinh quan sát. Mục đích giáo dục các em cẩn thận hơn khi sử dụng các chất dể
cháy nổ như Gas, dầu hỏa, xăng.
Câu hỏi 2: Thủ phạm của các vụ cháy nổ mỏ than là chất gì ?
Thủ phạm của vụ cháy mỏ than là khí metan có trong mỏ than.
CH
4
+ 2O
2
→
0t
CO
2
2
H
2
Axetilen tạo ra tác dụng với nước tạo ra anđêhit axetic các chất này làm ảnh hưởng
đến sự hô hấp của cá nên cá chết.( phương trình hóa học đã học phần tính chất hóa
học).
Axxetilen tạo ra làm cho quả chín. Vì vậy người ta thường dùng đất đen để ủ chín
cà chua, chuối, hồng…( ứng dụng của axetilen).
Mục đích:
Câu hỏi này rất nhiều học sinh đang thắc mắc vì các em đã được chứng kiến
ngay ở địa phương mà không hiểu nguyên nhân vì sao? Bây giờ các em có thể dùng
6
ngay kiến thức phổ thông cũng có thể giải thích được, tạo cho các em sự thích thú
và ham mê môn học hơn.
Ví dụ 5: Khi giảng dạy phần naptalen ( lớp 11 ) GV có thể đưa ra câu hỏi :
Tại sao viên băng phiến chất chống gián lại nhỏ dần ?
Vì băng phiến( naptalen) thăng hoa ngay ở nhiệt độ thường vì thế nó bị nhỏ dần.
Mục đích:
Gây tính tò mò cho học sinh để bước vào phần tính chất của naptalen.
Ví dụ 6 : Khi kết thúc bài dạy dẫn halogen ( lớp 11 ) GV có thể danh 5 phút để
nói về một hiện tượng hóa học có liên quan đến tầng ozon.
Dẫn xuất halogen và lỗ thủng tầng ozon( tư liệu – trang 178 – sgk cơ bản)
Song GV có thể trình chiếu trên máy hình ảnh thủng tầng ozon và những ảnh
hưởng của trái đất khi tầng ozon bị thủng để học sinh quan sát.
Mục đích:
Từ những tư liệu này có thể gây cho học sinh niềm đam mê nghiên cứu hóa
học hữu cơ với môi trường và các em sẽ biết bảo vệ môi trường là một phần trách
nhiệm của các em.
Ví dụ 7 : khi kết thúc bài ancol: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng
Thành phần chủ yếu của giấm ăn là axit axetic ( CH
3
COOH).
Ngoài làm gia vị trong các bữa ăn, kích thích ngon miệng, giúp tiêu hóa tốt.
giấm ăn còn một số công dụng như sau:
- Công dụng lớn nhất của giấm là tính sát khuẩn.
8
- Khi nướng cá hầm thịt cho thêm vào ít giấm vừa làm mất đi mùi tanh vừa
làm mất đi mùi tanh của cá mà còn làm cho thịt chóng nhừ có mùi thơm hấp dẫn lại
vừa giữ được chất canxi trong thực phẩm.
- Uống chút giấm có thể trừ được cả giun đũa trong đường ruột phòng tránh
bệnh truyền nhiễm đường ruột.
- với những vết bẩn khó giặt trên quần áo có thể cho vào đó một ít sẽ làm mờ
vết bẩn.
Với nhiều công dụng như vậy GV có thể hướng dẫn học sinh về nhà tự làm
cho gia đình mình một bình giấm thật ngọn.
Nguyên liệu: rượu tẻ hoặc rươu nếp ( khoảng 9- 10
0
) , ít men giấm
Cách làm : cho rượu và men giấm vào bình thủy tinh để một thời gian sẽ thấy con
giấm nổi lên trên, nếm thấy chua là ăn được.
GV áp dụng giảng dạy phần điều chế axit axetic:
C
2
H
5
OH + O
2
→
Ví dụ 10 : Khi kết thúc bài giảng : Chất giặt rửa ( lớp 12 ) GV đưa ra câu
hỏi:
Câu hỏi 1: Tại sao xà phòng giặt sạch được quần áo ?
Xà phòng là muối kali hay natri của axit béo thường là natri stearat
( C
17
H
35
COONa), natri panmitic ( C
15
H
31
COONa ), natri oleat ( C
17
H
33
COONa )
hoặc xà phòng tổng hợp đều có 2 phần. Một là đầu “ Hidro cacbon kị nước còn một
đầu là ion kim loại ưa nước. Đối với các vết bẩn dầu mở bám trên mặt vải thì đầu kị
nước sẽ quay vào trong vết bẩn, đầu ưa nước hướng ra ngoài. Sau đó sẽ tạo thành
mixen là một khối dạng cầu có đầu ưa nước quay ra ngoài tách vết bẩn ra khỏi bề
mặt vải.
Câu hỏi 2: Tại sao có thể dùng bồ kết để gội đầu, quả bồ hoàn để giặt quần áo ?
Có thể dùng bồ kết để gội đầu, quả bồ hoàn để giặt quần áo vì trong đó có
những chất cấu tạo kiểu đầu phân cực gắn với đuôi không phân cực giống như phân
tử xà phòng. Qủa bồ kết được phơi khô, đem nướng qua trên ngọn lửa rồi cho vào
nồi nước đun sôi, khi nước sôi có bọt như xà phòng, ta được nước bồ kết.Gội đầu
thấy sạch gàu, tóc mượt, bóng, thơm, không hại da đầu.
Mục đích:
Các em sử dụng những kiến thức trong bài học để giải thích được những sự
4
CHO + 2[Ag(NH
3
)
2
]OH
→
0t
CH
2
OH[CHOH]
4
COONH
4
+ 2Ag
+ 3NH
3
+ H
2
O
Hoặc người ta cũng lợi dụng tính chất này để tráng ruột phích.
GV có thể cho học sinh làm thí nghiệm ngay trên lớp.
Mục đích:
Học sinh dễ tiếp thu bài hơn, hiểu được hóa học liên quan đến sản xuất vật
dùng như thế nào.
Ví dụ 12 : Khi giảng dạy phần phản ứng oxi hóa của chất béo ( lớp 12 ) GV có
thể đưa ra câu hỏi:
Vì sao mỡ để lâu ngày bị ôi ?
Qúa trình ôi mỡ là do lipit tác dụng với oxi trong không khí tạo thành peoxit
hoặc hidropeoxit, các chất này dưới tác dụng của vi khuẩn và hơi nước trong không
thành
Mantozơ, Mantozơ bị thủy phân thành glucozơ nên có vị ngọt.
(C
6
H
10
O
5
)
n
+ n H
2
O
→
enzim
nC
12
H
22
O
11
→
enzim
C
6
H
12
O
6
Vì sao gạo nếp lại dẻo :
Tinh bột có 2 loại amilozơ và amilopectin nhưng không tách rời nhau, trong
mỗi hạt tinh bột amilopectin là vỏ bọc nhân amilozơ. Amilozơ tan được trong nước
còn amilopectin hầu như không tan, trong nước nóng amilopectin trương lên tạo
thành hồ. Tính chất này quyết định đến tính dẻo của hạt có hồ tinh bột. Tong mỗi
hạt tinh bột thông thường, lượng amilopectin chiếm khoảng 80%, amilozơ chiếm
khoảng 20%, nên cơm tẻ, ngô tẻ, bánh mì, thường có độ dẻo bình thường. Tinh bột
trong gạo nếp chứa lượng amilopectin rất cao, khoảng 98%, làm cho cơm nếp, ngô
nếp luộc, rất dẻo tới mức dính.
Mục đích:
Thông qua câu hỏi thực tế như vậy các em sẽ tiếp thu tốt hơn , nhớ lâu hơn
cấu trúc của tinh bột.
Ví dụ 16 : GV có thể lồng câu hỏi sau trong quá trình giảng dạy phần tính
bazơ của amin trong bài Amin. ( lớp 12)
Tại sao khi nấu canh cá người ta thường cho chất chua vào ?
Chất chua cho vào thường là axit axetic ( giấm ăn), chất tanh của cá chứa
hổn hợp amin vì vậy chất chua sẽ phản ứng với hổn hợp amin này tạo muối, làm
giảm vị tanh của cá.
Amin trong cá nhiều nhất là: trimetylamin
(CH
3
)
3
N + CH
3
COOH
→
[(CH
3
)
Mục đích:
Học sinh biết được một số polime đã học loại nào là độc loại nào không độc,
gần gủi với thực tế, nhằm làm cho các em không thấy chán khi học.
Ví dụ 1 9 : GV có thể dành 1 tiết nào đó phù hợp để đưa ra vấn đề này cho học
sinh. Có thể dùng máy chiếu để chiếu những hình ảnh về rác thải hữu cơ và vô
cơ để các em có thể phân biệt được từ đó có thể phân loại rác dễ dàng hơn.
14
Rác thải hữu cơ là gì ?
Rác thải hữu cơ gồm có 2 loại: rác thải hữu cơ tự nhiên và rác thải hữu cơ nhân tạo
- Rác thải hữu cơ tự nhiên chứa các nguyên tố C, H, O…và có chứa một số
nguyên tố khác như N, S, P…
Trong cuộc sống rác thải hữu cơ chiếm một tỉ lệ lớn và dễ gây ô nhiễm trở lại cho
cuộc sống nhất. Vậy rác thải hữu cơ có ở đâu ? có trong sinh hoạt của con người
hàng ngày dù ở bất cứ đâu: tại nhà, tại công sở, trên đường đi hay nơi công cộng.
Rác thải tự nhiên là gì ? Đó là các rác thải từ thực phẩm : thức ăn thừa, rau, củ, quả,
hoa, lá cây… Đây là các loại rác thải dễ phân hủy và có thể đưa vào tái chế để đưa
vào việc chăm bón và làm thức ăn cho động vật.
- Rác thải hữu cơ nhân tạo gồm nhựa PE, PVC ….Đây là loại rác thải khó
phân hủy. Chỉ có những chức năng phù hợp mới tái chế được.
Mục đích.
Qua đây có thể giáo dục được ý thức bảo vệ môi trường cho các em. Các em
có thể phân loại được rác để có cách xử lí cho phù hợp để không gây ô nhiễm môi
trường.
IV. KIỂM NGHIỆM:
Trong năm học 2012 – 2013 tôi đã áp dụng đề tài “ Lồng ghép những kiến
thức cơ bản của hóa học hữu cơ để giải thích hiện tượng và ứng dụng trong cuộc
sống hàng ngày vào bài giảng hóa học hữu cơ ” vào giảng dạy.
Tôi đã lấy 2 lớp, với đối tượng học sinh như nhau để kiểm chứng.
Lớp 11C
4
thể ứng dụng vào cuộc sống hàng ngày .
II. ĐỀ XUẤT:
Qua nghiên cứu và áp dụng phương pháp trên cho Trường THPT Lưu Đình
Chất , nơi tôi đang giảng dạy đã có một kết quả nhất định. Nhưng để có phương
pháp cho những giờ dạy tốt hơn, chất lượng học sinh đạt cao hơn. Tôi kính mong
các đồng nghiệp, hội đồng khoa học Trường THPT Lưu Đình Chất và Hội đồng
khoa học sở giáo dục và đào tạo Tỉnh Thanh Hóa góp ý kiến thêm để đề tài của tôi
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người
khác.
Kí tên
Nguyễn Thị Bạch
MỤC LỤC
16
Phần 1: Đặt vấn đề…………………………………………………………… 1
Phần 2: Nội dung ………………………………………………………………3
I. Cơ sở lí luận………………………………………………………………… .3
II. Thực trạng nghiên cứu……………………………………………………….3
III. Biện pháp tổ chức thực hiện ……………………………………………… 3
Phần 3: Kết luận và đề xuất………………………………………………… 16
I. Kết luận……………………………………………………………………….16
II. Đề xuất……………………………………………………………………….16
Phần 4: Tài liệu tham khảo……………………………………………………18
Phần 4: Tài liệu tham khảo