bồi dưỡng các phương pháp giải nhanh một số bài toán hoá học - Pdf 24


SKKN – Nguyễn Đình Hành
MỤC LỤC
Nội dung đề tài
Trang
LỜI CẢM ƠN 2
A- PHẦN MỞ ĐẦU 3
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

3
II-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

3
III-ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

3
1- Đối tượng nghiên cứu : 3
2- Khách thể nghiên cứu : 3
IV-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

3
V- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

4
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

4
1- Phương pháp chủ yếu: 4
2-Các phương pháp hỗ trợ: 4
B- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 5
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH MỘT SỐ BÀI TOÁN HOÁ HỌC.

I- PHIẾU ĐIỀU TRA :

20
II- TÀI LIỆU THAM KHẢO:

20


Trang 1

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Lời cảm ơn
Đề tài này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ, động viên của Ban giám hiệu trường THCS
Chu Văn An huyện Đak Pơ và của một số đồng nghiệp đã cung cấp các tài liệu phục vụ cho
việc nghiên cứu. Đồng thời đề tài cũng được sự cộng tác nhiệt tình của các giáo viên trong tổ
bồi dưỡng, các giáo viên có nhiều kinh nghiệm và các em học sinh trong đội tuyển HS giỏi
huyện Đak Pơ.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo đã hợp tác trao
đổi kinh nghiệm và trợ giúp tài liệu; cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh đã tham gia
trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này./.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Người thực hiện đề tài

Nguyễn Đình Hành

Trang 2

SKKN – Nguyễn Đình Hành
A- PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Đề tài này nghiên cứu 5 phương pháp giải bài toán hoá học, nguyên tắc áp dụng của mỗi
phương pháp, cách tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi theo nguyên tắc “ Kế thừa - phát triển -
sáng tạo”
2- Khách thể nghiên cứu :
Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 9 dự thi học sinh giỏi các cấp ( Tỉnh và huyện)
IV-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản sau đây :

Trang 3

SKKN – Nguyễn Đình Hành
1-Những cơ sở lý luận về phương pháp giải nhanh các bài toán hoá học; nêu ra một số
phương pháp cụ thể và nguyên tắc áp dụng cho mỗi phương pháp.
2-Thực trạng về trình độ và điều kiện học tập của học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi
lớp 9 do tôi đảm nhiệm bồi dưỡng trước và sau khi vận dụng đề tài.
3 -Từ việc nghiên cứu vận dụng đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển thành
diện rộng, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi tại huyện Đak Pơ.
V- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên về mặt không gian đề tài này chỉ nghiên cứu
giới hạn trong phạm vi huyện ĐakPơ. Về mặt kiến thức kỹ năng, đề tài chỉ nghiên cứu 5 chủ
đề về các phương pháp giải bài toán hoá học.Các ví dụ nêu trong mỗi chủ đề chỉ đề cập đến
phần bài tập vô cơ có nội dung rất ngắn gọn.
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Phương pháp chủ yếu:
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp chủ yếu là tổng
kết kinh nghiệm, được thực hiện theo các bước:
• Xác định đối tượng: xuất phát từ những khó khăn vướng mắc trong khi làm nhiệm
vụ bồi dưỡng HS giỏi, tôi xác định cần phải nghiên cứu tích luỹ kinh nghiệm về phương
pháp giải nhanh các bài tập hoá học để bồi dưỡng cho học sinh giỏi. Qua việc áp dụng đề tài
để đúc rút, tổng kết kinh nghiệm.

xác mới là điều quan trọng.
Về nguyên tắc, muốn giải nhanh và chính xác một bài toán hoá học thì nhất thiết học
sinh phải hiểu sâu sắc nội dung và đặc điểm của bài toán đó, nắm vững các mối quan hệ giữa
các lượng chất cũng như tính chất của các chất, viết đúng các phương trình phản ứng xảy ra.
Thực tế có rất nhiều bài toán rất phức tạp: các dữ kiện đề cho không cơ bản ( tổng quát ),
hoặc không rõ, hoặc thiếu nhiều dữ kiện … tưởng chừng như không bao giờ giải được. Muốn
giải chính xác và nhanh chóng các bài toán loại này thì phải chọn một phương pháp phù hợp
nhất ( phương pháp giải thông minh ).
Tôi nghĩ, giáo viên làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ không đạt được mục đích
nếu không biết chọn lọc những phương pháp giải toán thông minh, nêu ra đặc điểm của
phương pháp và nguyên tắc áp dụng. Các phương pháp này là cẩm nang giúp học sinh biết
tìm hướng giải dễ dàng, hạn chế tối đa những sai lầm trong quá trình giải bài tập, đồng thời
phát triển tìm lực trí tuệ cho học sinh ( thông qua các bài tập tương tự mẫu và các bài tập
vượt mẫu ).
Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin được mạn phép trình bày kinh nghiệm bồi dưỡng
một số phương pháp giải nhanh các bài tập hoá học cho học sinh giỏi. Nội dung đề tài được
sắp xếp theo 5 chủ đề, mỗi chủ đề có nêu nguyên tắc áp dụng và các ví dụ minh hoạ. Sau đây
là tên một số phương pháp giải bài tập hoá học được thể hiện trong đề tài:
1) Phương pháp tự do chọn lượng chất.
2) Phương pháp khối lượng mol trung bình.
3) Phương pháp tăng giảm khối lượng.
4) Phương pháp tính theo lượng của nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử.
5) Phương pháp hợp thức.

Trang 5

SKKN – Nguyễn Đình Hành
II- THỰC TIỄN VỀ TRÌNH ĐỘ VÀ VÀ ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.

1-Thực trạng chung:

Khi thực hiện đề tài vào giảng dạy, tôi giơi thiệu cho HS các bước chung để giải một bài
toán hoá học ( sau khi đã nghiên cứu kỹ đề bài cho gì ? hỏi gì ? các kiến thức hoá học có
liên quan ? các mối quan hệ giữa điều kiện và yêu cầu ? xác định cách thức để thực hiện
các thao tác để hoàn thành yêu cầu của đề bài); gồm các bước như sau :
-Bước 1: Chuyển dữ kiện không cơ bản thành các dữ kiện cơ bản ( theo số mol )
(dữ kiện không cơ bản thường là : chất không tinh khiết, các đại lượng chưa
chuẩn về đơn vị, … )
-Bước 2: Đặt ẩn cho số mol, hoá trị, nguyên tử khối … ( Nếu cần )
-Bước 3: Viết đúng tất cả các phương trình hoá học xảy ra.
-Bước 4: Thực hiện các kỹ năng tính toán theo CTHH, theo PTHH, biện luận …
-Bước 5: Kiểm tra.
Tiếp theo, tôi tiến hành bồi dưỡng kỹ năng theo dạng. Mức độ rèn luyện từ minh họa
đến khó, nhằm bồi dưỡng học sinh phát triển kỹ năng từ biết làm đến đạt mềm dẻo, linh hoạt
và sáng tạo. Để bồi dưỡng mỗi dạng tôi thường thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Giới thiệu bài tập mẫu và hướng dẫn giải.
- Bước 2: Rút ra nguyên tắc và phương pháp áp dụng.
- Bước 3: HS tự luyện và nâng cao.
- Bước 4: Kiểm tra đánh giá theo chủ đề.
Tuỳ theo độ khó mỗi chủ đề tôi có thể hoán đổi thứ tự của bước 1 và 2.
Sau đây là một số phương pháp giải bài tập hoá học, cách nhận dạng, kinh nghiệm giải
quyết đã được tôi thực hiện và đúc kết từ thực tế. Trong giới hạn của đề tài, tôi chỉ nêu 5 chủ
đề giới thiệu 5 phương pháp thường gặp có tác dụng giúp học sinh giải được nhiều bài toán
với độ chính xác cao và tiết được nhiều thời gian.
CHỦ ĐỀ 1: PHƯƠNG PHÁP TỰ DO CHỌN LƯỢNG CHẤT
1) Nguyên tắc áp dụng:
GV cần cho HS nắm được một số nguyên tắc áp dụng của phương pháp này nhằm tránh
hiện tượng HS tuỳ tiện chọn lượng chất vì chưa hiểu rõ phạm vi sử dụng của nó:
- Khi gặp các bài toán có các lượng chất đề cho dưới dạng tổng quát ( dạng tỉ lệ mol, tỉ
lệ % theo thể tích, khối lượng , hoặc các lượng chất đề cho đều có chứa chung một tham số :
m (g), V(l), x(mol)…) thì các bài toán này sẽ có kết quả không phụ thuộc vào lượng chất đã

* Giải :
Đặt công thức tổng quát của oxit là R
2
O
x
( x là hoá trị của R )
Giả sử hoà tan 1 mol R
2
O
x

R
2
O
x
+ xH
2
SO
4
→ R
2
(SO
4
)
x
+ xH
2
O
1mol x(mol) 1mol
(2M

Biện luận:
x 1 2 3 4
M
R
12 24 36 48
Vậy kim loại là Mg ; oxit kim loại là : MgO
Ví dụ 2:
Cho a gam dung dịch H
2
SO
4
loãng nồng độ C% tác dụng hoàn toàn với hỗn hợp 2 kim
loại K và Fe ( Lấy dư so với lượng phản ứng ). Sau phản ứng, khối lượng khí sinh ra là
0,04694 a (g). Tìm giá trị C%
* Gợi ý HS :
- GV : gợi ý cho HS phát hiện ra vì kim loại lấy dư nên toàn bộ lượng axit và nước
trong dung dịch đều phản ứng. Các lượng chất đều cho dưới dạng tổng quát ( chứa chung
tham số a ), vì vậy bài toán sẽ không phụ thuộc vào lượng a (gam ).
- HS : Nêu cách chọn lượng chất : chọn a = 100 gam.
* Giải :

Trang 8

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Giả sử a = 100 g


2 4
2
2

↑ (1)
Fe + H
2
SO
4

→
FeSO
4
+ H
2
↑ (2)
2K
(dư)
+ 2H
2
O
→
2KOH + H
2
↑ (3)
Theo các ptpư (1),(2),(3) ta có :
2 2 4 2
1 100 4,694
( )
2 18 2
C 1
+
98 2



+) Đối với hỗn hợp khí thì có thể thay các số mol n
1
,n
2
… bằng thể tích hoặc % thể
tích.
+) Nếu hỗn hợp chỉ có 2 chất khí , với x% là % thể tích của khí thứ nhất thì :
x%.M ( x%).M
M
%
+ −
=
1 2
100
100
+) Giá trị của
M
nằm trong khoảng : M
1
<
M
< M
2
( giả sử M
1
< M
2
)
- Đây là phương pháp cho phép giải nhanh chóng nhiều bài toán hoá học phức tạp.

Hỗn hợp X gồm hai kim loại kiềm A và B thuộc hai chu kỳ liên tiếp nhau trong bảng
tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Chia m ( gam ) hỗn hợp X làm 2 phần bằng nhau:
- Phần 1 : Hoà tan vào dung dịch HCl dư thu được một dung dịch Y. Cô cạn Y được
23,675 gam muối khan.
- Phần 2: Đốt cháy hoàn toàn thì phải dùng hết 1,96 lít khí O
2
( đktc).
a) Xác định hai kim loại A,B
b) Xác định % khối lượng của các kim loại trong hỗn hợp X.
* Gợi ý HS:
Hai kim loại có hoá trị và tính chất tương tự nên để đơn giản có thể đặt một ký hiệu đại
diện cho hỗn hợp 2 kim loại. Viết PTHH, Từ số mol O
2
và khối lượng muối khan ta tính toán
để tìm giá trị
M
hh
.
* Giải:
a) Xác định kim loại A,B
Đặt
M
là kim loại đại diện cho hỗn hợp hai kim loại kiềm A,B
Gọi a là số mol của hỗn hợp ở mỗi phần
Phương trình hoá học:
2
M
+ 2HCl
→
2


 

 
= =
=




Hai kim loại kiềm liên tiếp có
M
= 32,14 thoã mãn là Na (23) và K(39)
b) Xác định % khối lượng của hỗn hợp X
gọi x là số mol của K

số mol Na là ( 0,35 – x ) mol
Áp dụng công thức tính khối lượng mol trung bình ta có:
39 (0,35 ).23
32,14 0,2
0,35

x x
x
+ −
= ⇒ =
Vậy n
K
= 0,2 mol và n
Na

Tính thành phần % theo thể tích và theo khối lượng cuả hỗn hợp khí A.
* Gợi ý HS:
- Đối với một hỗn hợp khí thì % thể tích bằng % số mol
- GV tạo cơ hội cho HS phát hiện ra ý nghĩa của các mối quan hệ trong đề bài : Từ tỉ
khối hơi của hỗn hợp ta có thể tính được gì ? Từ quan hệ số mol H
2
và số mol N
2
có thể giải
quyết được điều gì ? Từ đó xác định các bước để giải bằng phương pháp đại số.
* Giải:
Giả sử có 1mol hỗn hợp khí A gồm : x mol N
2
, 3x mol H
2
và (1- 4x) mol NH
3
Theo đề bài ta có :
M
hh
= 28x + 2.3x + 17 ( 1 – 4x ) = 32.0,425 = 13,6 (1)
Giải phương trình (1) được : x = 0,1 mol
Thành phần % theo thể tích của hỗn hợp khí A là:
2
0,1
% 100 10%
1
N
V
= × =

3
% 100% (20,59 4,41) 75%
NH
m
= − + =
* Lưu ý : Có thể đặt x % là % thể tích của N
2
rồi dùng cơng thức (1) với tổng % là 100
%
CHỦ ĐỀ 3 : PHƯƠNG PHÁP TĂNG GIẢM KHỐI LƯỢNG
1) Ngun tắc áp dụng:
-Ngun tắc của phương pháp này là dựa vào sự tăng hoặc giảm khối lượng trong q
trình làm biến đổi chất này thành chất khác. Về bản chất phương pháp này dựa trên cơ sở của
định luật bảo tồn khối lượng, vì vậy trong nhiều tài liệu dạy học hố học nhiều tác giả ví
phương pháp này và phương pháp bảo tồn khối lượng như “anh em sinh đơi”.
-Phương pháp chung:
+) Tìm độ tăng ( hoặc giảm ) khối lượng theo PTHH (
m∆
2
)
+) Tìm độ tăng ( hoặc giảm ) khối lượng theo đề (
m∆
1
)
+) Suy luận để tìm số mol của các chất phản ứng và chất sản phẩm, hoặc có thể tìm
nhanh số mol của một chất A theo cơng thức sau :

A
độ tăng theo đề ( m )
n hệ số


(
M
là khối lượng mol trung bình của 2 kim loại nhóm IIA )
Phương trình phản ứng:
M
CO
3
+ 2HCl
→
M
Cl
2
+ H
2
O + CO
2

1mol 1mol 1mol
⇔ (
M
+ 60)g (
M
+ 71)g
Theo ptpư : Cứ 1mol muối cacbonat chuyển thành 1mol muối clorua thì khối lượng
muối tăng lên : 71 - 60 = 11 gam
Vậy số mol CO
2
= số mol
M

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Ví dụ 2:
Thả một thanh kim loại Pb vào trong dung dịch muối nitrat của kim loại hoá trị II, đến
khi lượng Pb không đổi nữa thì lấy ra khỏi dung dịch, thấy khối lượng của nó giảm 28,6
gam. Thả tiếp thanh Fe nặng 100g vào phần dung dịch còn lại. Đến khi lượng Fe không đổi
nữa thì lấy kim loại khỏi dung dịch, làm khô cân nặng 130,2 gam. Tìm công thức của muối
nitrat ban đầu.
* Gợi ý HS:
-Do lượng kim loại ở 2 phản ứng đã không đổi được nữa nên R(NO
3
)
2
và Pb(NO
3
)
2
đã
phản ứng hết.Suy ra số mol Pb(NO
3
)
2
ở 2 phản ứng bằng nhau.
-Bài toán này vẫn có thể giải được bằng phương pháp đại số kết hợp với ghép ẩn số.
* Giải:
Đặt công thức muối nitrat ban đầu là R(NO
3
)
2

Các phương trình phản ứng:

n
R
=

Theo (2): do khối lượng kim loại tăng 130,2 -100 =30,2 gam, nên :
3 2
( )
3,02
207 56
= 0,2 (mol)
Pb NO
n
=

Suy ra ta có :
28,6
207
= 0,2 R = 64 ( Cu )
R


Vậy công thức phân tử của muối nitrat : Cu(NO
3
)
2
CHỦ ĐỀ 4: PHƯƠNG PHÁP TÍNH THEO LƯỢNG CỦA NGUYÊN TỬ
HOẶC NHÓM NGUYÊN TỬ
1)Nguyên tắc áp dụng:
- Trong các phản ứng hoá học, “ tổng số mol nguyên tử của một nguyên tố hoặc nhóm
nguyên tử trước phản ứng và sau phản ứng luôn bằng nhau”


SKKN – Nguyễn Đình Hành
2- Các ví dụ:
Ví dụ 1:
Có 190 ml dung dịch chứa đồng thời KOH và Ba(OH)
2
có nồng độ tương ứng là 3M và
4M. Tính thể tích dung dịch Axit chứa đồng thời HCl 1,98M và H
2
SO
4
1,1M đủ để trung hoà
lượng dung dịch kiềm trên.
* Gợi ý HS:
- Có thể giải bài toán bằng phương pháp ghép ẩn số, tuy nhiên phương pháp này rất
phức tạp.Vì vậy cần sử dụng phương pháp tính theo nhóm -OH và theo -H
- Tìm số mol của KOH và Ba(OH)
2
, Suy ra số mol (OH);suy luận theo PTHH để tìm số
mol H ( của axit ).
* Giải:
Ta có :
2
( )
4.190 3.190
0,76 0,57
1000 1000
KOH
mol ; n mol
Ba OH

2
O
Ba(OH)
2
+ 2HCl
→
BaCl
2
+ 2H
2
O
Ba(OH)
2
+ H
2
SO
4

→
BaSO
4
+ 2H
2
O
Theo các ptpư : ⇒
H OH
n (cuûa axit) = n (cuûa bazô) = 2,09 mol
(1)
Đặt V (l) là thể tích dung dịch Axit


phản ứng < số mol gốc CO
3
ban đầu.
Trong hỗn hợp Na
2
CO
3
và (NH
4
)
2
CO
3
thì số mol CO
3
= tổng số mol 2 muối ( vì 1 mol
mỗi muối đều có 1 mol CO
3
)
* Giải:
a) Từ công thức Na
2
CO
3
và (NH
4
)
2
CO
3

)
2
CO
3
+ RCl
2

→
2NH
4
Cl + RCO
3
↓ ( 2)
Từ (1), (2) nhận thấy :
Cứ 1 mol muối clorua biến thành kết tủa RCO
3
thì khối lượng giảm 71 – 60 =11 g

Trang 14

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Do đó :
3 2 3 4 2 3
( )
( 0,3
43-39,7
p.öùng) mol
11
CO Na CO NH CO
n n n= + = =

% 100 49,62%
39,7
3
CaCO
%m =50,38%
BaCO
m
×
= × = ⇒
CHỦ ĐỀ 5: PHƯƠNG PHÁP HỢP THỨC
1) Nguyên tắc áp dụng:
- Đây là phương pháp được vận dụng chủ yếu cho việc giải các bài toán chứa nhiều
PTPƯ nối tiếp nhau ( quan hệ bởi các chất trung gian ).
- Ngoài ra phương pháp này vẫn được sử dụng rất hiệu quả trong các trường hợp bài
toán có nhiều PTPƯ diễn ra song song ( không có chất trung gian ) nếu biết tỉ lệ về lượng của
các chất ở 2 phản ứng khác nhau.
- Phương pháp chung:
+) Nếu các phản ứng nối tiếp nhau thì lập một sơ đồ hợp thức chuyển hoá giữa các chất
đề cho và chất đề hỏi.
+) Nếu các phản ứng song song mà biết được tỉ số mol của 2 chất ở 2 phản ứng khác
nhau thì có thể nhập 2 PTPƯ thành một PTPƯ, lúc này việc tính toán sẽ nhanh và đơn giản.
Lưu ý : Khi nhập các phương trình phản ứng thành một phương trình phản ứng thì phải
chọn hệ số của các chất phù hợp với tỉ lệ mol đã cho.
2) Các ví dụ:
Ví dụ 1:
Sục 0,672 lít khí CO
2
( đktc)

vào trong V (lít) dung dịch Ca(OH)


SKKN – Nguyễn Đình Hành
2CO
2
+ Ca(OH)
2

→
Ca(HCO
3
)
2
(2)
Vì tỉ lệ mol CaCO
3
: Ca(HCO
3
)
2
= 2 : 1 nên ta có phương trình phản ứng chung:
4CO
2
+ 3Ca(OH)
2

→
2CaCO
3
↓ + Ca(HCO
3

Ví dụ 2:
Hoà tan hoàn toàn 10,8 gam kim loại Al vào trong dung dịch HNO
3
thì sau phản ứng
thu được một dung dịch X và hỗn hợp khí Y gồm 2 khí NO và N
2
O có tỉ khối đối với khí
Hiđro bằng 19,2. Tính thể tích của mỗi khí trong hỗn hợp Y ( đktc).
* Gợi ý HS:
Từ dữ kiện :
2
/
M
hh
Y H
d ⇒


tỉ lệ số mol của 2 khí ( bằng phương pháp đại số
hoặc theo phương pháp đường chéo)
Biết được tỉ số mol của 2 khí ta có thể xác nhập 2 phản ứng thành một phản ứng
Từ PTPƯ : Biết số mol Al

số mol của các chất khí.
* Giải:

2
/
19,2 2 38,4 = 19,2 M gam/mol
hh

+ NO + 2H
2
O (1) × 2
8Al + 30HNO
3
→
8Al(NO
3
)
3
+ 3N
2
O + 15H
2
O (2)
Vì tỉ lệ mol NO : N
2
O = 2 : 3 nên tổng hợp (1) và (2)ta có ptpư:
10Al + 38HNO
3

→
10 Al(NO
3
)
3
+ 2NO + 3N
2
O + 19H
2

hoặc nếu xảy ra thì tạo sản phẩm gì, điều kiện phản ứng như thế nào ?. Như vậy, nhiệm vụ
của giáo viên không những giúp HS rèn kỹ năng giải bài tập, mà còn xây dựng một nền tảng
kiến thức vững chắc, hướng dẫn các em biết kết hợp nhuần nhuyễn những kiến thức kỹ năng
hóa học với năng lực tư duy toán học.

Trang 17

SKKN – Nguyễn Đình Hành
C - BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
I- BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Trong quá trình bồi dướng học sinh giỏi cho huyện, tôi đã vận dụng đề tài này và rút ra
một số kinh nghiệm thực hiện như sau:
- Giáo viên phải chuẩn bị thật kỹ nội dung cho mỗi chủ đề bài tập cần bồi dưỡng cho
HS. Xây dựng được nguyên tắc và phương pháp giải các bài toán của chủ đề đó.
- Tiến trình bồi dưỡng kỹ năng được thực hiện theo hướng đảm bảo tính kế thừa và
phát triển vững chắc. Tôi thường bắt đầu từ một bài tập mẫu, hướng dẫn phân tích đầu bài
cặn kẽ để học sinh xác định hướng giải và tự giải, từ đó các em có thể rút ra phương pháp
chung để giải các bài toán cùng loại. Sau đó tôi tổ chức cho HS giải bài tập tương tự mẫu;
phát triển vượt mẫu và cuối cùng nêu ra các bài tập tổng hợp.
- Mỗi chủ đề tôi đều đưa ra nguyên tắc nhằm giúp các em dễ nhận dạng loại bài tập,
xác định phương pháp phù hợp và biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng một cách chính xác;
hạn chế được những nhầm lẫn có thể xảy ra trong cách nghĩ và cách làm của học sinh.
- Sau mỗi chủ đề tôi luôn chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả, sửa chữa rút
kinh nghiệm và nhấn mạnh những sai lầm mà HS thường mắc phải.
II- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Những kinh nghiệm nêu trong đề tài đã phát huy rất tốt năng lực tư duy, độc lập suy
nghĩ cho đối tượng HS giỏi. Các em đã tích cực hơn trong việc tham gia các hoạt động xác
định hướng giải và tìm kiếm lời giải cho các bài tập.Qua đề tài này, kiến thức, kỹ năng của
HS được củng cố một cách vững chắc, sâu sắc; kết quả học tập của HS luôn được nâng cao.

hợp lý và biết kết hợp các kiến thức cơ bản hoá học, toán học cho từng bài tập cụ thể thì mới
đạt được kết quả cao.
Trong khi viết đề tài này chắc chắn tôi chưa thấy hết được những ưu điểm và tồn tại
trong tiến trình áp dụng, tôi rất mong muốn được sự góp ý phê bình của các đồng nghiệp để
đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cám ơn !

Trang 19

SKKN – Nguyễn Đình Hành
E- PHẦN PHỤ LỤC:
I- PHIẾU ĐIỀU TRA :
1) Điều tra tình cảm, thái độ của 20 HS giỏi về năng lực giải BTHH

Kết quả :
Thời gian a b c d
Trước khi thực hiện đề tài 0 6 7 7
Sau khi thực hiện đề tài 15 5 0 0
2) Điều tra về công tác bồi dưỡng của GV ( qua 10 giáo viên có bồi dưỡng HS giỏi )
Kết quả:
Câu A B C D
Kết quả 0 7 0 3
II- TÀI LIỆU THAM KHẢO:
• Cao Thị Thặng : Hình thành kỹ năng giải BTHH - NXB GD 1999.

Trang 20
Em hãy tự nhận xét khả năng của mình về giải các bài


SKKN – Nguyễn Đình Hành
• GS .Lê Xuân Trọng: Bài tập nâng cao hoá học 9 - NXB GD 2004.
• Ngô Ngọc An : 400 BTHH lớp 9 - NXB ĐHQG TP Hồ Chí Minh 2004.
• Vũ Anh Tuấn : Bồi dưỡng hóa học THCS - NXBGD 2004.
• GS.TS Đào Hữu Vinh : 250 BTHH lớp 9 - NXB GD 2001.
• PGS.TS Nguyễn Xuân Trường : Bài tập nâng cao Hoá học lớp 9 - NXB GD 2005.


Trang 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status