Đánh giá hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong đất, nước và trong sản phẩm rau tại khu vực chuyên canh rau của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ XUÂN MAI

“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG
TRONG ĐẤT - NƯỚC VÀ TRONG SẢN PHẨM RAU TẠI
KHU VỰC CHUYÊN CANH RAU CỦA THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN”

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Mã số : 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học :TS. Phan Thị Thu Hằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập tại khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên tôi đã được các thầy, cô giáo truyền đạt những kiến thức cơ
bản nhất để có thể đem những kiến thức đã được học ở trường góp một phần
công sức của mình vào xây dựng đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại
học Nông Lâm, phòng QLĐT Sau Đại Học và dưới sự hướng dẫn tận tình của
TS. Phan Thị Thu Hằng đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi thực hiện
và hoàn thành luận văn này.
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học
Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, phòng QLĐT Sau Đại Học và TS. Phan
Thị Thu Hằng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khuyến khích và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo các cơ quan phối hợp: Viện Khoa học
Sự Sống - Đại học Thái Nguyên, Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, Phòng Kinh
tế Thành phố Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân Thành phố Thái Nguyên đã phối
hợp thực hiện, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã
luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và các
bạn học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.

1.3.2. Hàm lượng kim loại nặng trong rau và ảnh hưởng của chúng 17
1.4. Các yếu tố gây nhiễm trong rau xanh 19
1.4.1. Ô nhiễm môi trường đất 19
1.4.2. Ô nhiễm môi trường nước 23
1.5. Ảnh hưởng của sự có mặt kim loại nặng trong môi trường đất - nước đến
sự tích luỹ của chúng trong nông sản 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 30
2.3. Nội dung nghiên cứu 30
2.4. Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1. Phương pháp ngoài thực địa 30
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của Thành phố Thái Nguyên 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội 35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iv

3.2. Đánh giá hiện trạng sản xuất rau của Thành phố Thái Nguyên 40
3.2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng rau qua các năm 40
3.2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng rau theo đơn vị hành chính 41
3.2.3. Cơ cấu mùa vụ trong sản xuất rau 43
3.2.4. Tình hình sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật cho rau 44
3.2.5. Hàm lượng Nitrat và kim loại nặng trong rau trồng tại Thái Nguyên48
3.2.5.1. Hàm lượng nitrat trong rau 48
3.2.5.2. Hàm lượng Pb trong sản phẩm rau trồng tại Túc Duyên và Đồng Bẩm


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV : Bảo vệ thực vật
CN - TTCN : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
DTTN : Diện tích tự nhiên
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
HTX : Hợp tác xã
KLN : Kim loại nặng
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTNT : Phát triển nông thôn
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
RAT : Rau an toàn
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
TCQĐ : Tiêu chuẩn quy định
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TDMNPB : Trung du miền núi phía Bắc
THCS : Trung học cơ sở
TN&MT : Tài nguyên và môi trường
TP : Thành phố
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
WHO : Tổ chức Y tế thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


tại Thành phố Thái Nguyên 51
Bảng 3.10: Hàm lượng kim loại nặng trong đất trồng rau tại Túc Duyên 53
Bảng 3.11: Hàm lượng kim loại nặng trong đất trồng rau tại Đồng Bẩm 54
Bảng 3.12: Hàm lượng kim loại nặng trong nước tưới tại Túc Duyên 56
Bảng 3.13: Hàm lượng kim loại nặng trong nước tưới tại Đồng Bẩm 57
Bảng 3.14: Phân tích tương quan lượng Pb trong đất, trong nước với lượng Pb
trong rau 60
Bảng 3.15: Phân tích tương quan lượng Cd trong đất, trong nước với lượng
Cd trong rau 61
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vii

Bảng 3.16: Phân tích tương quan lượng As trong đất, trong nước với lượng As
trong rau 62
Bảng 3.17: Phân tích tương quan lượng Hg trong đất, trong nước với lượng
Hg trong rau 63
Bảng 3.18: Phân tích tương quan giữa hàm lượng các kim loại nặng (Pb, Cd,
As, Hg) trong đất 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ hành chính TP.Thái Nguyên 35
Hình 3.2: Hàm lượng KLN trong đất tại Đồng Bẩm và Túc Duyên 55
Hình 3.3: Hàm lượng KLN trong nước tưới tại Đồng Bẩm và Túc Duyên 59

sản phẩm quan trọng nhất. Cùng với sự tăng trưởng nông nghiệp nói chung,
sản xuất rau Thái Nguyên đã đáp ứng được nhu cầu về số lượng, khắc phục
dần tình trạng giáp vụ, nhiều chủng loại rau chất lượng cao đã được bổ sung
trong bữa ăn hàng ngày của người dân. Tuy nhiên trong xu thế của một nền
sản xuất thâm canh, công nghệ sản xuất rau hiện nay đang bộc lộ những mặt
trái của nó, cũng như nhiều vùng trồng rau khác trong cả nước việc ứng dụng
ồ ạt thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật như giống, phân bón, chất kích thích
sinh trưởng, thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến không những gây ô nhiễm môi
trường canh tác mà còn làm cho rau bị nhiễm bẩn, đặc biệt là hiện tượng dư
lượng thuốc BVTV, NO
3
-
và tích luỹ kim loại nặng có chiều hướng gia tăng.
Bên cạnh đó thành phố Thái Nguyên đang trong tiến trình công nghiệp
hoá và đô thị hoá, với diện tích đất các công trình công nghiệp, khai thác
khoáng sản, các cơ sở y tế và giao thông, khoảng 1700 ha. Hầu hết các chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2

thải công nghiệp ở khu vực Thành phố Thái Nguyên đều chỉ xử lý sơ bộ thậm
chí không xử lý và được thải ra môi trường đã làm cho đất, nguồn nước bị ô
nhiễm và có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng, diện tích nếu
không có biện pháp xử lý triệt để và đó là một trong những nguyên nhân thu
hẹp dần vùng trồng rau sạch của thành phố. Chính vì vậy, việc đánh giá hiện
trạng môi trường sản xuất, xác định nguyên nhân gây ô nhiễm đất - nguồn
nước để định hướng cho phát triển vùng rau an toàn của Thành phố Thái
Nguyên là một việc hết sức quan trọng và cần thiết để góp phần đưa ngành
sản xuất rau của Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung tiến đến một


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vị trí và tầm quan trọng của rau
Rau xanh là thực phẩm cần thiết không thể thiếu, cung cấp phần lớn các
chất khoáng và Vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng
ngày của con người. Đồng thời rau là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao là
mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Cây rau đã được loài người
trồng từ khi loài người xuất hiện. Từ xa xưa người Ai Cập cổ đại, người Hy
Lạp đã trồng và sử dụng rau bắp cải như là nguồn lương thực cho con người.
Theo FAO, hiện nay nhiều nước trên thế giới trồng rất nhiều chủng loại rau với
diện tích rất lớn. Tại các nước phát triển tỷ lệ cây rau so với cây lương thực là
2/1 còn các nước đang phát triển thì tỷ lệ này là 1/2 (Lê Trần Đức, 1997) [6].
1.1.1. Giá trị dinh dưỡng của rau xanh
Rau xanh là loại thực phẩm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và không
thay thế được, rau không chỉ cung cấp một lượng dinh dưỡng nhất định đặc
biệt là chất khoáng và các loại vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày mà còn
cung cấp cellulose giúp cho cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ đào thải nhanh
colesterolle và các chất độc khác ra khỏi cơ thể, rau còn là nguồn dược liệu
quí làm tăng sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ của con người.
Có thể thấy nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm:
Vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và chất xơ,… đáng chú ý là
vitamin và chất khoáng có trong rau ưu thế hơn một số cây trồng khác (Nguyễn
Thúy Hà và cs, 2010) [7].
So sánh thành phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc,
A.F.M.Sharfuddin và M.A.Sididque (1985) (Trần Văn Lài – Lê Thị Hà, 2002)
[16] cho biết rau, đặc biệt là rau ăn lá có hàm lượng vitamin và các khoáng chất
cao hơn lúa mỳ và lúa nước rất nhiều lần.
Các loại vitamin có trong rau như: Vitamin A, B

người thì Ca và Fe được chú ý hơn cả, Ca rất cần thiết cho việc đảm bảo chức
năng xương và răng, Fe ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Các loại muối khoáng cần
thiết cho cấu tạo tế bào, các loại enzyme, muối khoáng còn là tác nhân gây
xúc tác điều hòa các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể con người, chúng có
tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa thức ăn, đồng thời
làm tăng khả năng đồng hóa protit.
Rau xanh còn cung cấp một lượng chất xơ, có khả năng làm tăng hoạt
động của nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, ngăn ngừa được chứng táo bón. Chất xơ
ảnh hưởng có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do vậy ảnh hưởng tốt
đến huyết áp và tim, ngăn ngừa được sỏi mật và ung thư ruột. Số lượng chất
xơ lớn có trong rau và với giá trị năng lượng thấp của nó sẽ có tác dụng ngăn
ngừa bệnh béo phì. Bên cạnh đó nó có vai trò trong việc điều trị bệnh đái tháo
đường. Nhờ có hàm lượng chất xơ này rau được coi như một loại thức ăn có
lợi cho sức khỏe (Nguyễn Thúy Hà và cs, 2010) [7].
Một số cây rau được sử dụng như những cây dược liệu quí như: Tỏi ta,
Gừng, Nghệ, Tía tô, Hành tây, Lá lốt, được coi là dược liệu tốt cho hệ tiêu
hoá của người và động vật. Rau ngót, Mướp đắng, Khoai sọ, Đậu đen là thuốc
bổ âm làm mát cơ thể. Mướp hoang, Rau diếp là thuốc thông mạch điều kinh
tan kết tụ. Bí đỏ, Rau sam là thuốc trị lị, trừ giun rất tốt (Trần Văn Lài – Lê
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5

Thị Hà, 2002) [16]. Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học thì mỗi
người cần 250 - 300g rau xanh/ngày để đáp ứng cho sự hoạt động bình
thường của con người.
1.1.2. Giá trị kinh tế
Ngoài giá trị dinh dưỡng rau là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Rau là loại cây có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Mặt

6

dược liệu. Ngoài ra rau còn góp phần phát triển kinh tế khác như chăn nuôi (là
nguồn thức ăn cho chăn nuôi).
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới
Trên thế giới rau là loại cây được trồng từ lâu đời. Người Hy Lạp, Ai
Cập cổ đại đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải như một nguồn thực
phẩm. Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm
1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060
tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.523 tấn.
Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu
rau của con người ngày càng tăng. Trên thế giới những nước có sản lượng rau
tăng nhanh nhất là Ý, năm 1982 đạt 9.859.000 tấn; đến năm 1996 sản lượng
tăng đạt 13.555.000 tấn. Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm;
đến năm 1990 đạt 202kg/người/năm. Ở Canada mức tiêu thụ rau bình quân là
70 kg/người/năm. Từ năm 2000 trở lại đây diện tích trồng rau trên thế giới
tăng bình quân mỗi năm trên 600.000 ha, sản lượng rau cũng tăng dần qua các
năm. Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển
cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng 1.1.
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)
2003 17.110.943 139.965 239.493.188
2004 16.214.488 140.094 227.154.772
2005 16.694.482 140.107 233.901.546
2006 17.189.392 141.689 243.555.067
2007 17.273.066 142.199 245.621.803
2008 17.621.392 141.645 249.598.246
2009 17.878.556 138.665 247.913.750
2010 18.073.088 132.858 240.114.694

142.199 kg/ha); nhưng diện tích rau năm này chỉ ở mức trung bình (đạt
17.273.066 ha), giảm 800.022 ha so với năm có diện tích rau lớn nhất (năm
2010 đạt 18.073.088 ha). Còn năm 2008, năng suất rau đạt 141645 kg/ha,
thấp hơn so với năm có năng suất rau cao nhất (năm 2007 đạt 142.199 kg/ha)
là 554 kg/ha, nhưng cao hơn năng suất trung bình trong vòng 8 năm qua
1992.25 kg/ha. Cho nên, sản lượng rau năm 2008 cao hơn so với năm 2007.
Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2010
Khu vực
Diện tích
(ha)
Năng suất
(kg/ha)
Sản lượng
(tấn)
Thê giới 18.073.088 132.858 240.114.694
Châu Âu 343.373 183.535 6.302.081
Châu Á 14.109.022 145.530 205.328.880
Châu Mỹ 541.615 121.573 6.584.566
Châu Phi 2.747.521 61.388 16.866.458
Châu Úc 32.970 167.158 551.120
(Nguồn: FAOSTAT, 07/04/2012)[37]
Qua bảng 1.2 ta thấy: Châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất, đạt
14.109.022 ha, chiếm 78,07% diện tích rau của thế giới; diện tích trồng rau của
châu Úc ít nhất, chỉ đạt 36.745 ha, chiếm 0,18% diện tích rau của thế giới [40].

2005 13.074.351 152.552 199.451.909
2006 13.469.863 154.474 208.074.682
2007 13.759.699 154.314 212.332.059
2008 14.012.828 153.804 215.523.353
2009 14.283.204 150.156 214.470.825
2010 14.109.022 145.530 205.328.880
(Nguồn: FAOSTAT, 07/04/2012)[37]
Qua bảng 1.3 ta thấy: Trong vòng 8 năm qua, diện tích rau ở Châu Á cao
nhất vào năm 2009 (đạt 14.283.204 ha); năng suất rau cao nhất vào năm 2006
(đạt 154.474 kg/ha) và sản lượng rau cao nhất vào năm 2008 (đạt 215.523.353
tấn). Ở châu Á, năm 2008 là năm có diện tích và năng suất rau không phải là cao
nhất, nhưng nhưng sản lượng rau đạt cao nhất trong vòng 8 năm qua là do: diện
tích và năng suất rau của năm 2008 cũng không thấp hơn nhiều so với diện tích
và năng suất lớn nhất của châu Á trong thời gian qua, cụ thể: [37]
Năm 2009 là năm châu Á có diện tích rau lớn nhất (14.283.204 ha) trong
vòng 8 năm qua, nhưng năng suất rau lại gần thấp nhất (đạt 150.156 kg/ha),
thấp hơn năng suất cao nhất (năm 2006 đạt 154.474 kg/ha) 4.318 kg/ ha và
thấp hơn năng suất trung bình 8 năm qua (đạt 151.966,5 kg/ha) là 1.810,5
kg/ha. Còn năm 2008, mặc dù diện tích rau của châu Á là 14.012.828 ha, thấp
hơn so với năm 2009 là 270.376 ha; nhưng năng suất rau thấp hơn năng suất
cao nhất (năm 2006, đạt 154.474 kg/ha) 670 kg/ha và cao hơn năng suất rau
trung bình 8 năm qua 1.837,5 kg/ha. Cho nên, sản lượng rau năm 2009 (đạt
214.470.880 tấn) thấp hơn năm 2008 là 1.052.528 tấn [37].
Năng suất rau của châu Á cao nhất vào năm 2006 (đạt 154.474 kg/ha),
nhưng diện tích rau năm đó lại ít (đạt 13.074.351 ha), ít hơn so với năm 2009 là
813.341 ha và ít hơn diện tích rau trung bình 8 năm qua (đạt 13.625.068,25 ha)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10

Maldives 140 151.071 2.115
Philippin 580.800 83.371 4.842.2000
Thái Lan 128.185 85.615 1.097.450
Timor 6.800 27.794 18.900
Trung Quốc
8.467.570
165.935
132.885.800
Việt Nam 553.500 121.639 6.732.700
(Nguồn: FAOSTAT, 07/04/2012) [37]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11

Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được
nhiều nước quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến đã ra đời và việc kiểm soát dư
lượng hóa chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn.
Về nhu cầu tiêu thụ rau trên thế giới, theo FAO dự báo hàng năm tăng
3,6%, trong khi đó tốc độ tăng trưởng về sản lượng chỉ đạt 2,8%, như vậy thị
trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ. Trong những
năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi năm.
Các nước và các vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu cao đó là Pháp, Đức,
Canada khoảng 155.000 tấn mỗi năm; Anh, Mỹ, Hồng Công, Singapo khoảng
120.000 tấn mỗi năm. Một số nước có lượng rau suất khẩu lớn trên thế giới đó
là: Trung Quốc (609.000 tấn/năm); Italia, Hà Lan xuất khẩu khoảng 140.000
tấn/năm. Năm 2010 giá xuất khẩu rau tươi khoảng 526 USD/tấn và giá nhập
khẩu khoảng 703 USD/tấn. Như vậy rau tươi là một trong những mặt hàng
nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngày một
tăng, bởi vậy rau có giá trị lớn trên thị trường thế giới.

(Nguồn: FAOSTAT, 07/04/2012) [37]
Theo số liệu của FAO, những năm gần đây, diện tích trồng rau của nước
ta ngày càng mở rộng từ 690.823 ha năm 2006 lên 729.300 ha năm 2010 tăng
38.177 ha. Từ năm 2006 đến nay diện tích trồng rau có nhiều biến động.
Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2006 là 7.843.028 tấn/ha nhưng
đến năm 2010 tăng lên 8.326.200 tấn/ha, đứng thứ 3 Châu Á (sau Trung Quốc và
Ấn Độ). Như vậy chỉ trong 5 năm sản lượng rau của Việt Nam tăng 483.172
tấn/ha. Mặc dù diện tích đứng thứ 4 và năng suất đứng thứ 5 của Châu Á, nhưng
tổng sản lượng rau vượt lên đứng thứ 3 là do: Diện tích rau của Việt Nam ít hơn
so với Philippin 27.300 ha; nhưng năng suất rau của Philippin lại rất thấp. Sản
lượng rau của nước ta chủ yếu thu được từ hai vùng chính đó là vùng rau chuyên
canh ven thành phố và vùng rau luân canh với cây lương thực.
Tuy nhiên, cùng với sự hình thành và phát triển của các thành phố, khu
công nghiệp, khu dân cư thì các vùng trồng rau mới cũng hình thành và phát
triển nhằm cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng.
Hiện nay rau ở nước ta được sản xuất theo hai phương thức tự cung tự
cấp và hàng hóa, trong đó rau hàng hóa được tập trung chính ở hai khu vực:
- Vùng sản xuất rau chuyên canh: Tập trung ven thành phố, khu vực tập
trung đông dân cư. Sản phẩm chủ yếu được cung cấp cho người dân phi nông
nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực),
hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm) trình độ thâm canh của nông dân khá
nhưng sản phẩm rau của những vùng này về mức độ an toàn đáng lo ngại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13

- Vùng sản xuất rau luân canh: Đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây
rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây mầu. Sản phẩm phục vụ cho
cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu
14

Hiện nay do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá và công
nghiệp hoá cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hoá
chất và nông nghiệp. Trong những năm gần đây các tổ chức quốc tế như
FAO, WHO và các tổ chức môi trường đã có rất nhiều cố gắng trong việc hạn
chế việc sử dụng hoá chất nhân tạo vào trong nông nghiệp, xây dựng các qui
trình sản xuất theo công nghệ sạch, công nghệ sinh học, Trong những thập
kỷ 80 lượng thuốc trừ sâu sử dụng ở các nước Indonesia, Pakistan, Philippin,
Srilanka đã tăng hơn 10% hàng năm. WHO đã ước lượng rằng mỗi năm có
3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển bị nhiễm thuốc
trừ sâu. Ở đầu thập kỷ 90 ở Châu Phi mỗi năm có khoảng 11 triệu trường hợp
bị nhiễm độc. Ở Malaysia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm và 15% người
bị nhiễm độc ít nhất một lần trong đời.
Trong thời đại của nền kinh tế thị trường đang trên đà phát triển với sự
bùng nổ mạnh mẽ của ngành công nghiệp hoá chất, vấn đề an toàn thực phẩm
đang là vấn đề nhức nhối làm đau đầu các nhà quản lý tại hầu khắp các nước
trên thế giới. Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế ILO thì trên thế giới
hàng năm có có trên 40.000 người chết vì ngộ độc rau trên tổng số 2 triệu
người bị ngộ độc thực phẩm (Vietnamnet, 2004) [34]. Tại Việt Nam con số
này cũng không nhỏ, phát biểu tại Hội nghị tổng kết thanh tra y tế toàn quốc -
2004 Bộ trưởng Bộ y tế đã nói: “ Chưa có năm nào số vụ ngộ độc lại xảy ra
nhiều như bây giờ các vụ ngộ độc xảy ra hầu hết trên tất cả các miền đất nước
và là vấn đề mà chúng ta phải quan tâm ”
Theo thống kê của các tổ chức y tế Việt Nam thì từ năm 1993 đến tháng
6/1998 hàng chục ngàn người đã bị nhiễm độc do ăn phải rau quả còn dư
lượng thuốc trừ sâu, hoá chất bảo vệ thực vật. Năm 1998 có 50/61 tỉnh thành
trong cả nước xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm làm cho 6.172 người mắc và 410

cho 28.014 người mắc trong đó 333 người tử vong.
Theo Chủ nhiệm uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Hồ Đức
Việt (Vietnamnet, 2004) [34] khi kiểm tra có tới 30 - 60% mẫu rau quả tươi
đều có dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, 100% mẫu đậu đỏ ở Hà Nội và Hà
Tây, 66,6% mẫu rau cải ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai có dư lượng
NO
3
-
vượt quá giới hạn cho phép, 22 - 23% mẫu rau ở Hà Nội và Hà Tây có
hàm lượng As, và 25,4% mẫu hoa quả lưu thông trên thị trường bị nhiễm chất
bảo quản độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Kiểm tra dư lượng thuốc trừ
sâu trên hơn 3.100 mẫu rau củ quả các loại lấy từ các địa bàn sản xuất rau,
chợ đầu mối, những đơn vị cung ứng rau quả Chi cục bảo vệ thực vật TP
HCM phát hiện có 37 mẫu vượt giới hạn cho phép, trong đó đến 34 mẫu là
rau sạch, rau an toàn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16

Tại Miền Trung, trong vòng 1 năm (2004 - 2005) ở 11 tỉnh từ Quảng
Bình đến Bình Thuận số vụ ngộ độc lên đến 57 vụ làm cho 793 người mắc
trong đó tỉnh Phú Yên đứng đầu về số người bị ngộ độc là 242 người trong đó
đáng lưu ý nhất là vụ ngộ độc hàng loạt làm cho 192 công nhân phải nhập
viện do ăn phải rau nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật. Đặc biệt gần đây nhất
ngày 19/06/2004 Trung tâm y tế Huyện Hóc Môn tiếp nhận cấp cứu 76 công
nhân công ty WongWang (Thành phố Hồ Chí Minh) do bị ngộ độc, hay ngày
25/12/2004 tại bếp ăn tập thể của Xí nghiệp chế biến hạt điều thuộc Công ty
vật tư tổng hợp Phú Yên gần 200 người có biểu hiện bị ngộ độc và khoảng
500 người phải dừng ngay bữa ăn, tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status