Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất tại tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2008 đến 2011 - Pdf 24



1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM ĐÌNH TỨ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ ĐƢỢC NHÀ
NƢỚC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT TẠI TỈNH
TUYÊN QUANG, GIAI ĐOẠN 2008-2011 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

ngành, lĩnh vực, giao đất cho thuê đất để các chủ đầu tư, các thành phần kinh tế
thực hiện các chương trình, dự án. Đồng thời để phát huy được thế mạnh nội lực
từ đất đai thì bài toán đặt ra cho các nhà quản lý là phải khai thác có hiệu quả
quỹ đất đai dưới giác độ kinh tế hóa đất đai.
Nhận thức và các quy định về chế độ quản lý đất đai đối với các tổ chức
kinh tế sử dụng đất cũng có nhiều thay đổi trong các quy định của pháp luật về
đất đai được thể hiện trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa năm
1959, Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 28/6/1971 về tăng cường công
tác quản lý đất đai, Hiến pháp năm 1980 của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Quyết định 201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất
quản lý ruộng đất và tăng cường quản lý đất đai trong cả nước; Luật Đất đai năm
1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 1998, Luật Đất đai năm 2003.
Như vậy vấn đề sử dụng đất đai của các tổ chức kinh tế có sự kế thừa và
chứa đựng những yếu tố lịch sử. Qua công tác kiểm kê đất đai của các tổ chức
kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg
ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ cho thấy việc sử dụng đất đai của
các tổ chức kinh tế đã được giao đất không thu tiền, không phải thuê đất như các
nông lâm trường sử dụng đất rất lỏng lẻo, kém hiệu quả. Tình trạng tranh chấp
đất đai diễn ra khá phổ biến. Riêng đối với 03 Công ty chè trên địa bàn tỉnh đã
có tới hơn 2.000 hộ dân sử dụng đất Nhà nước đã giao cho Công ty chè (trước
đây thuộc Xí nghiệp chè thuộc Bộ Nông nghiệp). Việc sử dụng đất của các tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất hoặc giao đất có thu tiền thì diện tích này
được các doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm, tình trạng bao chiếm hầu như không sảy
ra. Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng chậm
triển khai dự án, nguyên nhân chính là do thiếu nguồn lực tài chính, khó khăn về thị

bàn đầu tư…Việc đánh giá hiệu quả qua các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu quả
khai thác sử dụng đất của các tổ chức kinh tế thông qua các cơ chế, chính sách
của nhà nước.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Nghiên cứu lý luận về công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ
chức kinh tế trên địa bàn tỉnh, nghiên cứu quy trình thực hiện, thủ tục hành
chính; cơ chế vận hành việc quản lý đất đai của các tổ chức kinh tế bảo đảm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng nguồn thu cho ngân sách; từng bước góp
phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhanh, bền vững.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất.
Các yếu tố khiến người sử dụng đất phải sử dụng đất có hiệu quả thông qua các
chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách tạo quỹ đất sạch để đấu giá quyền sử dụng
đất, đấu thầu dự án, chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…để điều tiết
có hiệu quả nhiệm vụ quản lý quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
- Thông qua kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, như: cải cách thủ tục hành chính, cơ chế tài
chính hóa trong quản lý đất của các tổ chức kinh tế, xây dựng kế hoạch cụ thể để
chủ động điều hành trong quản lý đất đai (chủ động GPMB, thu hút đầu tư, hạn
chế đầu tư ở những khu vực không khuyến khích, xác định những ngành nghề,
khu vực cần trải thảm đỏ…).
Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân
cư (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) để khai thác và sử dụng đất vào mục đích
nhất định thông qua các hình thức: giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu
tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền hàng năm, cho thuê đất trả tiền một lần.
Theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 thì việc giao đất, cho thuê
đất được hiểu như sau: Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng
quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất; cho thuê đất là
việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng đất. Thuật ngữ giao đất, cho thuê đất thay thế thuật ngữ cấp đất đã làm
thay đổi tư duy xin cho, tư duy bao cấp về đất đai.
Qua phân tích trên, giao đất, cho thuê đất được hiểu dưới ba góc độ cơ
bản sau:
Thứ nhất, giao đất, cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất
cho người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng thông qua Dự án được duyệt, hồ sơ quy
hoạch, đơn xin thuê đất và được thể hiện dưới hình thức quyết định hành chính
hoặc hợp đồng thuê đất do UBND cấp tỉnh quyết định (đối với tổ chức kinh tế).
Việc phân phối quỹ đất cho các mục đích, các đối tượng sử dụng đất để khai thác
đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh-quốc phòng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
Thứ hai, nhìn dưới góc độ nhân văn, việc giao đất, cho thuê đất để khẳng
định quyền hoạt động trên một vị trí, khu vực trên lãnh thổ Việt Nam và từ xưa đến
nay ông cha ta đã nói “Mảnh đất cắm rùi hay an cư lạc nghiệp”. Chính vì lẽ đó các
tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền sử dụng đất thì cũng được nhà nước
bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, do
đó người sử dụng đất yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trên diện tích
đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất.
Thứ ba, người sử dụng đất khi được nhà nước giao đất, cho thuê đất phải sử


7
cho người sử dụng đất theo quy định trong pháp luật như quyền được bảo vệ khi
bị xâm phạm, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, quyền được
chuyển nhượng, thế chấp,…
c) Đối với các dự án đầu tư
Đất đai là cơ sở đầu tiên để thực hiện dự án đầu tư. Bất kỳ dự án đầu tư
của tổ chức kinh tế nào cũng cần có đất để xây dựng, không có đất thì các dự án
này không thể thực hiện được. Khi thẩm định dự án để ra quyết định đầu tư, dù
khả năng tài chính có thuyết phục đến mấy mà đất đai không có thì dự án đó
không thể khả thi. Một trong các bước của quá trình thực hiện dự án đầu tư
chính là lựa chọn địa điểm thực hiện dự án. Giao đất và cho thuê đất chính là
bước tạo lập cơ sở cho việc thực hiện dự án.
Để thực hiện một dự án đầu tư thì cần phải có vốn. Bất kì một dự án đầu
tư nào cũng đòi hỏi một số vốn lớn mà bản thân các chủ đầu tư bằng nguồn vốn
tự có của mình có thể không đủ để đầu tư mà phải huy động từ các nguồn khác.
Một trong các nguồn huy động vốn là ngân hàng. Cơ sở pháp lý của giao và cho
thuê đất là GCNQSD đất tạo điều kiện cho các chủ đầu tư có thể tiếp cận nguồn
vốn ngân hàng bằng cách thế chấp quyền sử dụng đất, thể chấp tài sản hình thành
trong tương lai gắn liền với đất. Nguồn vốn này cùng với các nguồn vốn từ kênh
huy động khác là điều kiện để chủ đầu tư có thể tiến hành thực hiện dự án.
1.2. Cơ sở pháp lý về giao đất và cho thuê đất cho các tổ chức kinh tế
thực hiện dự án đầu tƣ
1.2.1. Căn cứ để giao đất và cho thuê đất đối với các dự án đầu tư
- Điều 31 Luật Đất đai 2003 quy định căn cứ để giao và cho thuê đối với
các dự án đầu tư là: Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin
giao đất, thuê đất. Theo Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg ngày 06/04/2007 của Thủ
tướng Chính phủ về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án
đầu tư, yêu cầu trước khi quyết định giao đất, cho thuê đất thì “phải xem xét kỹ
nhu cầu sử dụng đất, hiệu quả và tính khả thi của dự án, khả năng thực sự của

có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời
hạn giao đất, cho thuê đất là không quá bảy mươi năm.
Việc quy định thời hạn sử dụng đất một mặt giúp các nhà đầu tư có thể
yên tâm đầu tư và sử dụng đất phù hợp, mặt khác là cơ sở để Nhà nước có thể
thu hồi lại đất khi đã hết thời hạn giao và cho thuê mà không được gia hạn để
sử dụng vào mục đích khác. Tuy nhiên, Nhà nước cũng quy định thời hạn
giao và cho thuê đất đủ để nhà đầu tư thu hồi vốn và khai thác các lợi ích đã
đầu tư trên đất.
Luật còn quy định trong trường hợp đã hết thời hạn giao đất, cho thuê đất,
nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đó thì nhà đầu tư có thể đăng ký xin gia hạn
thời hạn sử dụng đất. Có thể thấy rằng đây là một quy định tạo điều kiện và
khuyến khích người sử dụng đất đầu tư thêm vào đất.
1.2.4. Thẩm quyền giao đất và cho thuê đất đối với các dự án đầu tư
Thẩm quyền giao và cho thuê đất được quy định tại Điều 37 Luật Đất đai
2003. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao
đất, cho thuê đất đối với các tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện các dự án đầu tư.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của các đối tượng được giao và cho thuê đất
thực hiện các dự án đầu tư.
a) Quyền và nghĩa vụ chung
Căn cứ vào mục 1 chương IV Luật Đất đai 2003 về quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất, các đối tượng được giao và cho thuê đất thực hiện các dự án
đầu tư có các quyền và nghĩa vụ chung sau đây:
- Các quyền chung (Điều 105):
+ Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

được giao đất, cho thuê đất là tổ chức tại các điều từ Điều 109 đến Điều 111
Mục 2 Chương IV.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu
tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách
Nhà nước
+ Chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất và các công trình kiến
trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất;
+ Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, tặng cho quyền sử dụng đất
cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của
cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
+ Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của
mình gắn liền cới đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để
vay vốn theo quy định của pháp luật;
+ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình
gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, nguời
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định
của pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê
+ Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất
thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản
xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật;
+ Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với
đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích
đã được xác định;
+ Cho thuê lại đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường
hợp được phép đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng tại khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế;
Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01/7/2004 mà đã
trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều
năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm thì có các

Tuy nhiên, trong điều kiện đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và xã hội hóa một số lĩnh vực để thu hút các nguồn lực không
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Một số chính sách trải thảm đỏ đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài,
như: đầu tư vào các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, đầu tư vào các vùng
có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng nông thôn, các ngành nghề sử dụng công
nghệ sạch thân thiện với môi trường…các nhà đầu tư được hưởng nhiều chính
sách miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Đặc biệt lĩnh vực xã hội hóa
như: y tế, giáo dục, văn hóa…nhà đầu tư được miễn tiền giao đất, thuê đất.
Hiện nay chưa có quy định các cơ quan nhà nước được định đoạt hình
thức giao đất hay cho thuê đất cho các tổ chức kinh tế sử dụng thực hiện các dự
án đầu tư; chưa có hướng dẫn phân loại hình đầu tư, ngành nghề đầu tư, mức
vốn đầu tư, suất đầu tư tối thiểu; định mức sử dụng đất theo từng loại hình công
nghệ, quy định cụ thể về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất…để có căn cứ
quyết định thời hạn giao đất cho thuê đất cho từng dự án cụ thể. Hiện nay theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
quy định thì chỉ căn cứ vào dự án, mà dự án sử dụng nguồn vốn không có nguồn
gốc từ ngân sách nhà nước thì do nhà đầu tư tự phê duyệt. Đây là chính sách thu
hút đầu tư, tạo hành lang rộng để các nhà đầu tư hoạt động. Tuy nhiên đến thời
điểm hiện nay chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều khoảng trống cần xem xét và
quản lý chặt lại để bảo đảm nguyên tắc xuyên suốt đất đai chỉ có Nhà nước mới
có quyền định đoạt.
1.3. Mối quan hệ của công tác giao đất, cho thuê đất đối với các dự án
đầu tư và hiệu quả sử dụng đất.
1.3.1. Hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất có thể hiểu đơn giản là những kết quả thu được từ
việc khai thác, sử dụng đất đai. Kết quả từ việc khai thác và sử dụng đất đai

dụng đất không đúng mục tiêu của dự án.
Vì vậy, quản lý công tác giao đất và cho thuê đất đối với các dự án và hiệu
quả sử dụng đất có mối quan hệ thống nhất với nhau, không có cái này sẽ không
có cái kia. Tăng cường quản lý công tác giao đất và cho thuê đất là đòi hỏi tất
yếu trong quản lý Nhà nước về đất đai.
1.4. Tình hình giao đất, cho thuê đất cho tổ chức trên phạm vi cả
nƣớc
1.4.1. Tình hình giao đất, cho thuê đất phân theo các vùng
Theo số liệu kiểm kê quỹ đất của các tổ chức, tính đến ngày 01 tháng 4
năm 2008, cả nước có 144.485 tổ chức đang quản lý, sử dụng đất được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất với 338.450 thửa đất, khu đất; trong đó, số lượng tổ
chức tập trung chủ yếu tại các vùng: Đồng bằng sông Hồng (chiếm 22,69%),
Đông Bắc (15,15%), Bắc Trung bộ (14,19%), Đông Nam bộ (13,49%), Đồng
bằng sông Cửu Long (13,13%) trung bình mỗi tỉnh có khoảng hơn 2000 tổ
chức, tuy nhiên, một số thành phố, tỉnh trọng điểm của vùng, của cả nước có sự
tập trung số lượng tổ chức tương đối nhiều như: Thành phố Hà Nội số lượng tổ
chức chiếm đến 8,36% tổng số tổ chức của cả nước và bằng 31,49% số lượng tổ
chức có trong vùng; Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 6,69% tổng số tổ chức của
cả nước và 49,73 % số lượng tổ chức của vùng; tỉnh Thanh Hóa chiếm 4,42%
tổng số và 31,15% số lượng tổ chức của vùng
- Tổng diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất trong cả nước là 7.833.142,70 ha, chiếm 23,65%
tổng diện tích tự nhiên của cả nước. Diện tích đất của các tổ chức phân bố ở các
vùng, trong đó diện tích lớn nhất là tại vùng Tây Nguyên với 2.515.166,38 ha,
chiếm 32,11% tổng diện tích sử dụng và thấp nhất là tại vùng Tây Bắc với
176.381,38 ha, chiếm 2,25% tổng diện tích sử dụng. Vùng đồng bằng sông
Hồng nơi chiếm đến 22,69% tổng số tổ chức của cả nước nhưng chỉ chiếm
3,07% diện tích sử dụng đất của các tổ chức và phần lớn là diện tích đất của
khối tổ chức các cơ quan nhà nước, chi tiết phân bố diện tích đất của các tổ chức
được thể hiện qua bảng dưới đây.

1.429.531,7
3
18,25
Duyên hải Nam Trung Bộ
1.077.398,6
0
13,75
Đông Nam Bộ
986.741,82
12,60
Tây Nguyên
2.515.166,3
8
32,11
Đồng bằng sông Cửu Long
374.661,97
4,78

Cơ cấu diện tích các vùng theo tổng diện tích sử dụng
của các loại hình tổ chức
2%
13%
3%
18%
13%
32%
5%
14%
Tây Bắc
Đông Bắc

Tỷ lệ
(%)
1
Cơ quan hành chính N.N
15.392
19.600
35.383,02
0,45
2
Tổ chức chính trị
1.439
2.120
3.174,15
0,04
3
Tổ chức xã hội
952
1.062
1.424,13
0,02
4
Tổ chức chính trị xã hội
1.131
1.232
4.890,05
0,06
5
T.C chính trị XH – N.N
610
676

333.760,81
4,26
11
Nông, lâm trường
653
3.025
6.100.432,74
77,88

Tổng cộng:
144.485
338.450
7.833.142,70
100,00

(Nguồn số liệu: Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về kết quả kiểm kê quỹ đất
năm 2008 của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo
Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ).
Theo kết quả kiểm kê quỹ đất năm 2008 của các tổ chức với tổng diện
tích 7.833.142,70 ha do các tổ chức đang quản lý, sử dụng được phân theo các
hình thức sử dụng chủ yếu giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tiền trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và
cho thuê đất, cụ thể như sau:
1.4.2. Tình hình giao đất, công nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức
Tổng số tổ chức được Nhà nước giao (có giấy tờ về giao đất), công nhận
quyền sử dụng đất trên phạm vi cả nước là 103.899 tổ chức chiếm 71,91% tổng
số tổ chức sử dụng đất với diện tích đất đã giao, đã công nhận quyền sử dụng đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tổng số
Không thu tiền
Có thu tiền
Số tổ
chức
Diện tích
(ha)
Số tổ chức
Diện tích
(ha)
Số tổ
chức
Diện tích
(ha)
Tổng
103.899
5.834.039
97.176
5.723.349,91
6.723
110.689
1. Cơ quan nhà nước
13.329
17.854,13
13.204
17.564,56
125
289,57
2. Tổ chức chính trị
1.247

17
Loại hình tổ chức
Giao đất, công nhận quyền sử dụng đất
Tổng số
Không thu tiền
Có thu tiền
Số tổ
chức
Diện tích
(ha)
Số tổ chức
Diện tích
(ha)
Số tổ
chức
Diện tích
(ha)
6.Tổ chức sự nghiệp công
49.466
370.700,19
49.152
369.140,64
314
1.559,55
7. Tổ chức kinh tế
15.678
172.832,46
9.822
137.906,67
5.856

năm 2008 của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo
Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ).
1.4.3. Tình hình cho thuê đất
Diện tích đất do các loại hình tổ chức thuê sử dụng trên phạm vi toàn
quốc 1.307.606,14 ha, chiếm 16,69% tổng diện tích đất của các tổ chức và
chiếm 3,95% tổng diện tích tự nhiên của toàn quốc, trong đó thuê đất trả tiền
một lần 8.457,04 ha và thuê đất trả tiền hàng năm 1.299.149,10 ha.
Trong tổng diện tích sử dụng 8.457,04 ha của hình thức thuê đất trả tiền
một lần thì diện tích sử dụng tập trung chủ yếu ở tổ chức kinh tế 7.804,17 ha
chiếm 92,28% (trong đó, lớn nhất là Tây Nguyên 2.062,4 ha. Đồng bằng Sông
Hồng 1.902,86 ha, Đông Nam Bộ 1.863,24 ha và Duyên hải Nam Trung Bộ
1.020,24 ha). Trong tổng diện tích sử dụng 1.299.149,10 ha của hình thức thuê
đất trả tiền hàng năm thì diện tích tập trung chủ yếu ở các nông, lâm trường
998.460,14 ha, chiếm 76,85% (trong đó Tây Nguyên là 781.175,71 ha) và tổ
chức kinh tế 298.051,15 ha, chiếm 22,94% (trong đó Đông Nam Bộ 87.110,16
ha, Tây Nguyên 68.925,02 ha, Đông Bắc 49.270,65 ha, Duyên hải Nam Trung
Bộ 31.076,47 ha), các loại hình tổ chức khác chỉ chiếm tỷ lệ dưới 0,1%.
1.4.4. Đánh giá chung công tác giao và cho thuê đất đối với các dự án đầu
tư hiện nay trên cả nước
a) Một số kết quả đạt được
Công tác giao và cho thuê đất thời gian qua đã đạt được rất nhiều kết quả
tích cực. Các chính sách ưu đãi về giao và cho thuê đất đối với các dự án đầu tư
của Nhà nước ta cũng như của các địa phương đã tạo điều kiện cho các cá nhân,
tổ chức tiếp cận với đất đai dễ dàng hơn. Các chủ đầu tư có thể tiếp cận thông
tin và lựa chọn địa điểm xây dựng phù hợp nhất với dự án của mình. Đây cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
là một trong những điều kiện đảm bảo cho các chủ dự án thực hiện tốt dự án qua

cho thuê chưa được quan tâm đúng mức. Rất nhiều những sai phạm trong sử
dụng đất của các dự án đầu tư không được phát hiện như sử dụng đất sai mục
đích, nhiều dự án được giao và cho thuê đất nhưng không đi vào triển khai thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19
hiện dự án, tình trạng “dự án treo”, đất đã giao bị bỏ hoang không sử dụng.
Thanh tra và kiểm tra việc sử dụng đất của các dự án đầu tư một cách thường
xuyên là biện pháp quản lý tốt nhất đối với đất đai nhằm làm cho đất đai được
sử dụng một cách đúng đắn góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất.
* Nguyên nhân chính của những tồn tại
Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai đối với các
cấp chính quyền địa phương và nhân dân chưa được thực hiện một cách sâu
rộng và liên tục. Vì vậy, nhận thức về pháp Luật Đất đai của các tổ chức kinh tế
và ngay cả đối với cán bộ địa chính ở các cấp còn hạn chế, ảnh hưởng tới công
tác giao và cho thuê đất.
Hai là, hệ thống các quy định về giao và cho thuê đất không ổn định. Điều
này thể hiện trong việc các chính sách, các quy định pháp luật về giao và cho
thuê đất thường xuyên thay đổi, các văn bản luật, nghị định, thông tư, chỉ thị về
quản lý đất đai thiếu tính đồng bộ, có sự mâu thuẫn và chồng chéo gây khó khăn
trong công tác triển khai thực hiện các văn bản này, ảnh hưởng trực tiếp đến
công tác giao và cho thuê đất.
Ba là, sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành vẫn còn rất hạn chế. Công
tác giao và cho thuê đất là công tác có liên quan đến nhiều cơ quan và ban ngành
như Kế hoạch và đầu tư, Xây dựng, Tài chính, Thuế, Giao thông vận tải, và
nhiều ngành có liên quan khác. Một cơ quan thực hiện không tốt công việc của
mình thì sẽ làm ảnh hưởng tới tiến độ chung của tất cả các cơ quan và ban ngành
liên quan, do đó ảnh hưởng đến kết quả của công tác giao và cho thuê đất.
1.5. Tình hình giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Uỷ ban nhân dân cấp xã: 139 tổ chức/2.664 điểm điểm sử dụng đất với
tổng diện tích là 2.226,10 ha. (riêng thị trấn Tân Bình do địa giới hành chính trùng
khớp với Nhà máy Z113 nên toàn bộ diện tích này được thống kê vào đất quốc
phòng).
- Tổ chức kinh tế: 142 tổ chức/495 điểm sử dụng đất với tổng diện tích
là 8.814,94 ha.
* Phân theo địa giới hành chính cấp huyện
- Tại huyện Sơn Dương có 227 tổ chức với 1.287 điểm sử dụng đất; tổng
diện tích đất do các tổ chức đang quản lý, sử dụng: 950,55 ha
- Tại huyện Yên Sơn có 247 tổ chức với 1.411 điểm sử dụng đất; tổng diện
tích đất do các tổ chức đang quản lý, sử dụng: 990,20 ha
- Tại thị xã Tuyên Quang có 182 tổ chức với 351 điểm sử dụng đất; tổng
diện tích đất do các tổ chức đang quản lý, sử dụng: 233,52 ha
- Tại huyện Hàm Yên có 146 tổ chức với 767 điểm sử dụng đất; tổng diện
tích đất do các tổ chức đang quản lý, sử dụng: 512,24 ha
- Tại huyện Chiêm Hoá có 215 tổ chức với 1.024 điểm sử dụng đất; tổng
diện tích đất do các tổ chức đang quản lý, sử dụng: 731,21 ha
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21
- Tại huyện Na Hang có 101 tổ chức với 383 điểm sử dụng đất; tổng diện
tích đất do các tổ chức đang quản lý, sử dụng: 8.384,91 ha.
- Tình hình cấp Giấy CNQSD đất
+ Tổng số tổ chức đã cấp Giấy CNQSD đất: 393 tổ chức
+ Tổng số điểm sử dụng đất đã cấp Giấy CNQSD đất: 743 Giấy
+ Tổng diện tích đã cấp Giấy CNQS đất: 330,306 ha
1.5.4. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức:
a) Hình thức được giao, cho thuê sử dụng:
- Diện tích đất được giao không thu tiền sử dụng đất: 811.849,47 ha/247

- Diện tích đang bị lấn chiếm: 6.899,13 ha/37 tổ chức (trong đó, có 11 tổ
chức kinh tế/1,92 ha);
- Diện tích đang tranh chấp: 147,16 ha / 10 tổ chức (trong đó, có 02 tổ
chức kinh tế/0,24 ha);
- Diện tích sử dụng vào mục đích khác: 0,239 ha/01 tổ chức
+ Diện tích đã bố trí làm nhà ở, đất ở: 0,239 ha/01 tổ chức (trong đó, có
01 tổ chức kinh tế sử dụng trái mục đích làm nhà ở/0,24 ha);
- Diện tích chưa sử dụng: 309,268 ha/ 18 tổ chức (trong đó, có 04 tổ chức
kinh tế/28,88 ha);
+ Diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn hoang hóa: 272,43/13 tổ chức.
c) Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên:
Diện tích đất bị lấn, bị chiếm nguyên nhân chủ yếu do tình trạng sử dụng
không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao, quản lý lỏng lẻo ở hầu hết
các loại hình tổ chức đã dẫn đến bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ
yếu các loại hình tổ chức như tổ chức sự nghiệp công, Uỷ ban nhân dân cấp xã,
tổ chức kinh tế, quốc phòng, an ninh, nông, lâm trường.
Nguyên nhân là thiếu kiểm tra thường xuyên; chưa quan tâm đến việc lập
hồ sơ và lưu giữ đầy đủ các giấy tờ để theo dõi, quản lý; không quản lý được
mốc ranh khu đất đã được giao, chưa xây dựng tường rào hoặc cắm mốc giới để
phân định với đất của dân, của tổ chức khác; thời gian giao đất trước đây đã quá
lâu, thủ tục không đầy đủ; thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn
giao cho người sau để tiếp tục quản lý cho nên trong suốt quá trình sử dụng đã
để cho người dân hoặc tổ chức khác lấn, chiếm; cá biệt có tổ chức không biết
ranh giới đất của đơn vị mình sử dụng đến đâu.
Một số tổ chức do quản lý đất không chặt chẽ, diện tích đất sử dụng không
hết có tổ chức sử dụng đất đầu tư xây dựng, công trình hoàn thành đã đưa vào
sử dụng (một số điểm trường học) nhưng sau một thời gian vì nhiều lý do phải
chuyển đi nơi khác, nhưng tổ chức và chính quyền địa phương không báo cáo để
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và quản lý, mà bỏ hoang không sử
dụng, từ đó người dân đã lấn, chiếm để sản xuất hoặc làm nhà ở.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24

CHƢƠNG II
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế để thực hiện
các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2008-2011.
- Công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý tình hình sử dụng đất của các tổ
chức sau khi được giao đất, thuê đất.

giao đất, thuê đất để thực hiện dự án đầu tư.
+ Thu thập số liệu về tài chính: Các khoản tài chính tổ chức kinh tế đã
đóng góp cho ngân sách nhà nước (tiền thuê đất trả hàng năm, tiền sử dụng đất,
lệ phí trước bạ); thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính hàng
năm và các khoản đóng góp ủng hộ cộng đồng của các tổ chức kinh tế.
+ Thu thập số liệu về giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động
qua các năm hoạt động của doanh nghiệp.
+ Thu thập số liệu về giá đất ở, các hoạt động dịch vụ (nhà hàng, khách
sạn, nhà nghỉ, cửa hàng bách hóa tổng hợp các khu vực có hoạt động của các
tổ chức kinh tế: khu công nghiệp, khu du lịch để đánh giá mức độ ảnh hưởng
và những đóng góp tích cực của các tổ chức kinh tế này trong việc cải thiện và
nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư và phát triển đô thị trong khu vực.
- Nguồn số liệu và phương pháp thu thập:
+ Nguồn số liệu được khai thác từ chính các tổ chức kinh tế mang tính
điển hình cho loại hình sử dụng đất, lĩnh vực đầu tư, địa bàn đầu tư…thông qua
các Phiếu khảo sát, phỏng vấn.
+ Khai thác số liệu tại các cơ quan nhà nước: Các Sở: Tài nguyên và Môi
trường, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng; Cục thuế tỉnh và có thể mở
rộng đến UBND các huyện, thành phố.
2.3.2. Thu thập số liệu sơ cấp
- Xây dựng phiếu điều tra (có mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn kèm theo)
- Xác định đối tượng điều tra:
+ Các đối tượng là tổ chức kinh tế sử dụng đất, điều tra được phân theo
từng loại hình tổ chức kinh tế (Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp cổ phần,
doanh nghiệp tư nhân, Công ty liên doanh…)
+ Các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây
dựng; Cục thuế tỉnh và có thể mở rộng đến UBND các huyện, thành phố.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status