Tiểu luận phân tích chính sách thuế Cơ sở pháp lý cho việc chống chuyển giá của cơ quan Thuế tại Việt Nam - Pdf 24

1

MỤC LỤC
1. Tổng quan về chuyển giá 4
2. Các kĩ thuật chuyển giá quốc tế 11
2.1. Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn 12
2.2. Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương
hiệu…(tài sản vô hình) 13
2.3. Nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài, hoặc từ công
ty đối tác trong liên doanh với giá cao 14
2.4. Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính
và quản lý 14
2.5. Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa .
15
2.6. Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty
mẹ 15
2.7. Chuyển giá thông các trung tâm tái tạo hóa đơn 16
3. Cơ sở pháp lý cho việc chống chuyển giá của cơ quan Thuế tại Việt
Nam. 17
3.1. Sử dụng biện pháp APA 17
3.1.1 Định nghĩa: 17
3.1.2 Phân loại: 17
3.1.3 Đặc điểm của APA: 18
3.1.4 Ưu điểm: 19
3.2. Sử dụng biện pháp kỹ thuật (Thông tư 66/2010/TT-BTC) 20
3.2.1 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập 23
3.2.2 Phương pháp giá bán lại 24
3.2.3 Phương pháp giá vốn cộng lãi 26
3.2.4 Phương pháp so sánh lợi nhuận 30
3.2.5 Phương pháp tách lợi nhuận 35
3.2.6 Một số trường hợp đặc biệt 39


4
1. Tổng quan về chuyển giá
Khái niệm
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ
và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không
theo giá thị trường, quy luật cung cầu giữa công ty mẹ và công ty con hay giữa các
công ty con với nhau nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi
Nations Company) trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm
thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết.
Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định

Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ cho
một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao. Chẳng hạn, giá
mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp và hệ quả
là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế TNDN tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu
định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế mà nhà nước thu
được. Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của doanh
nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ
của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này.
Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có
quan hệ liên kết. Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá. Nhưng giao kết về giá
chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá. Bởi lẽ nếu giao kết
đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng
giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích.
Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng
giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa.

Đặc điểm
- Giá cả mua bán không dựa vào giá thị trường
6

- Các công ty thực hiện chuyển giá có mối quan hệ công sinh về quyền lợi tài
chính và tổ chức
- Định giá chuyển giao là các công ty sử dụng các phương pháp để xác định
giá cả chuyển giao nội bộ của một công ty đa quốc gia

Hình thức chuyển giá

Giai đoạn đầu:
- Nâng cao giá trị tài sản góp vốn
- Nâng khống giá trị tài sản vô hình

- Năng lực sản xuất tại các doanh nghiệp hạn chế bởi máy móc thiết bị, mặt
bằng sản xuất, số lượng nhân công , nhưng vẫn ký hợp đồng với khách
hàng nước ngoài vượt quá năng lực sản xuất của doanh nghiệp, và với lý do
để đảm bảo khối lượng hợp đồng đã ký kết các các doanh nghiệp này đưa
các doanh nghiệp trong nước gia công lại. Qua xem xét giá giao gia công
cho các doanh nghiệp trong nước cao gần bằng và thậm chí cao hơn giá ký
gia công với nước ngoài và tỷ lệ đưa ngoài gia công rất cao (gần bằng 80%
sản lượng) phát sinh trong trong nhiều năm liền.
- Công ty mẹ phân bổ chi phí phát sinh ở nước ngoài cho Công ty con một số
khoản mục như quảng cáo, tiếp thị, nghiên cứu, mở rộng thị trường, chi phí
lãi vay, bản quyền mà thực chất các khoản chi phí này phải do Công ty mẹ
tại nước ngoài trang trải.
Tác động của chuyển giá
1.1.1. Đối với bản thân các MNC
Hoạt động chuyển giá dưới góc độ của MNC sẽ được nhìn nhận theo hai hướng
khác nhau, đó là có thể giúp cho MNC dễ dàng thực hiện kế hoạch và mục tiêu kinh
doanh của mình về lợi nhuận và thuế. Nhưng một mặt khác, chuyển giá lại mang lại
nguy cơ MNC phải gánh chịu những hình phạt nặng nề của quốc gia sở tại và các quốc
gia có liên quan. Cụ thể:
a. Tác động tích cực
- Dựa vào các lợi thế về tiềm lực tài chính, những ưu đãi mà các quốc gia đặc
cách cho các MNC khi kêu gọi thu hút đầu tư như thuế suất, hạn ngạch, lĩnh
vực đầu tư… thì các MNC có thể thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm
thiểu việc thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với quốc gia mà mình đặt trụ sở.
- Thực hiện việc chuyển giá sẽ giúp cho MNC dễ dàng chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài và thực hiện những kế hoạch kinh doanh một cách nhanh chóng,
8

không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh. Trường hợp này thường được các MNC
thực hiện tại các quốc gia có chính sách tiền tệ thắt chặt.


1.1.2. Đối với các quốc gia liên quan
Hoạt động chuyển giá không chỉ có tác động đến quốc gia tiếp nhận đầu tư mà
còn ảnh hưởng mạnh mẽ lên quốc gia xuất khẩu đầu tư. Các MNC với mục tiêu tối đa
hóa lợi nhuận có thể thực hiện mọi phương thức chuyển giá và gây ra tác động nghiêm
trọng và lâu dài đối với nền kinh tế của cả hai quốc gia xuất khẩu và tiếp nhận đầu tư.

a. Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
 Tác động tích cực:
Khi có hoạt động chuyển giá ngược, do nước thu hút đầu tư có mức thuế thu
nhập thấp làm tăng thu nhập cho nước tiếp nhận vốn.

 Tác động tiêu cực:
- Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi
do việc thực hiện hành vi chuyển giá của các MNC làm các luồng vốn chảy
vào nhanh mạnh, sau đó lại có xu hướng chảy ra trong thời gian ngắn. Hậu
quả là tạo ra một bức tranh kinh tế bị sai lệch ở các quốc gia này trong các
thời kì khác nhau.
- Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người được hưởng lợi từ hoạt
động chuyển giá của các MNC. Vì vậy mà các quốc gia này cố ý làm lơ để
các MNC tha hồ thực hiện hành vi chuyển giá và các quốc gia này không
sẵn lòng hợp tác với chính quốc để ngăn chặn hành vi chuyển giá. Về lâu
dài, khi mà có sự chuyển biến của môi trường kinh doanh quốc tế thì các
quốc gia này từng được xem là “thiên đường về thuế” sẽ đến lượt gánh chịu
những hậu quả do việc thả lỏng và thờ ơ trong công tác quản lý trước đây
gây ra. Lúc này các quốc gia này sẽ phải đương đầu với khó khăn về tài
chính do các nguồn thu không bền vững đã phản ánh không chính xác sức
mạnh của nền kinh tế và khủng hoảng kinh tế sẽ xảy ra.
- Thông qua hoạt động chuyển giá nhằm xâm chiếm thị phần khi mới tham

Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán
cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế. Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn
về hình thức thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều
thuế hơn cho nhà nước, tác động tốt tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốn đầu
tư.
11

 Tác động tiêu cực:
- Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính
quốc, sẽ làm cho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch
thuế của nước này do việc thất thu một khoản thu nhập từ thuế. Trong một
số trường hợp nghiệm trọng hơn thì các quốc gia này còn bị các MNC “móc
túi” tiền thuế thu được từ các công ty làm ăn lương thiện khác đã nộp.
- Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó
khăn nhất định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn
quản lý của chính phủ.
 Tuy hành vi chuyển giá của MNC mang lại những tác động không tốt cả
cho nước tiếp nhận đầu tư và nước xuất khẩu đầu tư nhưng có một số quốc gia vì
lợi ích riêng của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho các MNC thực hiện hành vi
chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận của MNC tại các quốc gia khác về. Các quốc
gia này xây dựng các mức thuế suất thật thấp, thậm chí bằng không và tạo thành
các “thiên đường về thuế” để các MNC thực hiện việc chuyển giá thông qua việc
thành lập chi nhánh tại những quốc gia này và mang những tài sản có giá trị như bí
quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu phát minh sản phẩm mới,
chi phí quảng cáo và khai lợi nhuận phát sinh tại đây là cao nhất. Các quốc gia này
với các mục tiêu khác nhau như kêu gọi đầu tư, tạo công ăn việc làm cho dân cư
trong nước… Ví dụ như các quốc gia Puerto-Rico và Bahamas với việc thực hiện
“thiên đường về thuế” đã thu hút được các MNC đóng trụ sở chính tại các quốc gia
này và chuyển tài sản, lợi nhuận, các luồng vốn từ Mỹ về đã gây khó khăn trong
công tác quản lý các nguồn vốn, quản lý vĩ mô về kinh tế tại Mỹ.

 Nhanh hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư.
 Giảm mức thuế TNDN phải đóng cho nước tiếp nhận đầu tư
Vi du: Sài Gòn VeWong:
Cty Ve Wong Đài Bắc và cty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị đưa
vào góp vốn của Ve Wong là 4.972.073USD. Theo sự thẩm định giá của công ty giám
định giá Quốc Tế: 4.612.640 USD
Mục đích: Giúp Ve Wong nâng cao mức khấu hao trích hàng năm, Tác động
làm tăng chi phí đầu vào, giúp Ve Wong mau hoàn vốn đầu tư cố định, Giảm thiểu rủi
ro đầu tư,
13

Nước ta sẽ bị giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp do Ve Wong đóng góp.
Ve Wong sẽ dễ dàng thâu tóm thị trường Việt Nam, cụ thể là từ tháng 1/2008,
Công ty TNHH Saigon Ve Wong đã trở thành Công ty con có 100% vốn đầu tư từ
Công ty Ve Wong Đài Loan
Ví dụ: Một khách sạn liên doanh giữa Tổng công ty Du lịch Sài Gòn và
VinaGroup.
Hai công ty đã xác định giá trị đưa vào góp vốn của Vina Group là 4.340.000
USD. Nhưng theo sự thẩm định của công ty giám định Quốc Tế thì giá trị tài sản góp
vốn của Vina Group chỉ có giá trị là 2.990.000 USD. Như vậy trong nghiệp vụ định
giá giá trị góp vốn liên doanh này phía Việt Nam đã bị thiệt 1.350.000 USD tương
đương 45.2%.

Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn trên gây ra tác hại cho 3 đối tượng: phía
liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp; chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế;
người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu dùng sản phẩm với giá cả đắt hơn giá trị thực tế
của sản phẩm.
2.2. Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu… (tài
sản vô hình)
Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó, lợi

 Duy trì công thức pha trộn bao gồm cả việc quản lý và giám sát các công
thức thuốc lá, gia liệu …
Tổng lại, giá cả chi phí dịch vụ được thanh toán là: 0,25 USD/1 kg thuốc lá sợi
để sản xuất các loại thuốc lá mang nhãn hiệu BAT trong hai năm đầu và 0,50 USD/kg
cho các năm tiếp theo. BAT-Vinataba đã hạch toán chi phí này vào giá vốn hàng bán
để giảm thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong bốn năm tổng cộng
hơn 217 tỉ đồng (năm 2005 hơn 1,3 tỉ đồng; 2006 hơn 54,7 tỉ đồng; 2007 trên 80,7 tỉ
đồng và 2008 hơn 80.2 tỉ đồng).

2.4. Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và
quản lý
15

Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê trung gian. Một
số đối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quả lại
thấp. Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu.
Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài ra
còn phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý. Ở một
số trường hợp cũng có hiện tượng chuyển giá ở khâu này khi công ty cung cấp nguồn
nhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn.
Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ở
nước ngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ với chi
phí cao.
Một hình thức chuyển giá của công ty có vốn FDI là trả lương, chi phí cho
chuyên gia tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ. Loại hình tư vấn này rất khó xác định
số lượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp. Lợi dụng điều này, nhiều
công ty FDI thực hiện hành vi chuyển giá mà thực chất là chuyển lợi nhuận về nước
dưới danh nghĩa là phí dịch vụ tư vấn.

2.5. Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa

2.7. Chuyển giá thông các trung tâm tái tạo hóa đơn
Trung tâm tái tạo hóa đơn đóng vai trò người trung gian giữa công ty mẹ và các
công ty con. Hàng hóa trên chứng từ hóa đơn thì được bán từ công ty nơi sản xuất
hàng hóa qua trung tâm tái tạo hóa đơn và sau đó thì trung tâm này lại bán lại cho công
ty phân phối bằng cách xuất hóa đơn và chứng từ kèm theo. Thông qua việc này sẽ
định vị lại loại ngoại tệ của cả đơn vị sản xuất và trung tâm tái tạo hóa đơn. Nhưng
trên thực tế, hàng hóa được chuyển giao trực tiếp từ công ty sản xuất qua thẳng công ty
phân phối mà không qua trung tâm tái tạo hóa đơn. Hình thức này thường xảy ra trong
ngành dược phẩm.
Hình minh hoạ:

17

3. Cơ sở pháp lý cho việc chống chuyển giá của cơ quan Thuế tại Việt Nam.
3.1. Sử dụng biện pháp APA
3.1.1 Định nghĩa:
APA là thoả thuận giữa người nộp thuế và cơ quan thuế về một hệ thống các
tiêu chí như: phương pháp xác định giá thị trường, các công ty độc lập để so sánh, các
điều chỉnh cần thiết và các giả định mang tính chất quan trọng liên quan đến điều kiện
kinh doanh trong tương lai nhằm mục đích xác định trước giá chuyển giao cho các
giao dịch nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Một APA thường được đề
xuất bởi người nộp thuế, và được thỏa thuận giữa người nộp thuế với một hoặc các bên
liên kết, một hoặc các cơ quan thuế. Các thỏa thuận xác định giá trước thường bổ sung
cho các cơ chế quản lý theo hành chính, pháp luật hay hiệp định truyền thống để giải
quyết những vấn đề về chuyển giá. Phương pháp này rất hữu ích khi các phương pháp
truyền thống khó áp dụng và thực thi”
3.1.2 Phân loại:

của cơ quan thuế với người nộp thuế.
- APA áp dụng cho những giao dịch xác định trong tương lai trong một
khoảng thời gian nhất định (thường 3- 5 năm).
- APA có hiệu lực với các bên tham gia.
19

- APA là một thoả thuận xác định trước một nhóm chỉ tiêu phù hợp (ví dụ
phương pháp xác định giá thị trường, công ty/giao dịch tương đương và các
điều chỉnh cần thiết, các giả định trọng yếu liên quan đến các sự kiện trong
tương lai) để xác định giá chuyển nhượng cho các giao dịch nhất định trước
khi thực hiện các giao dịch đó trong một thời kỳ nhất định.
- Sự hợp tác của người nộp thuế là yếu tố quan trọng và cần thiết để tạo sự
thành công trong đàm phán APA.
- Khi APA được ký kết, không cần điều chỉnh giá chuyển nhượng nếu đối
tượng nộp thuế tuân theo các điều khoản của thoả thuận.
- Trong bối cảnh Hiệp định tránh đánh thuế hai lần có tính pháp lý cao
hơn nội luật, cho phép áp dụng APA trên cơ sở Quy trình thoả thuận song
phương trong trường hợp nội luật không có quy định về APA.
- Việc áp dụng APA cần được áp dụng linh hoạt, bởi vì nếu chương trình
APA cố định thì có thể không phản ánh đầy đủ các điều kiện theo nguyên
tắc giá thị trường.
- Cơ quan thuế cần đảm bảo rằng họ không yêu cầu đối tượng nộp thuế
cung cấp thông tin nhiều hơn các nội dung bắt buộc của hồ sơ APA.
- Nếu đối tượng nộp thuế rút đơn đề nghị APA hoặc nếu hồ sơ APA của
đối tượng nộp thuế bị từ chối sau khi xem xét tất cả các yếu tố, những thông
tin không đáng tin cậy do người nộp thuế cung cấp sẽ không được coi là hợp
lý trong bất kỳ cuộc thanh tra nào.
- Các thông tin mà người nộp thuế báo cáo cho cơ quan thuế phải được
bảo mật. Cơ quan thuế nên đảm bảo tính bảo mật của những thông tin và tài
liệu nhạy cảm được nộp trong quá trình thực hiện APA.

Thông tư 05/2005/TT-BTC hướng dẫn về thuế nhà thầu thì vấn đề này được bỏ ra khỏi
nội dung điều chỉnh. Vấn đề chuyển giá đã được nhắc lại tại Thông tư 117/2005/TT-
BTC do Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn việc thực hiện xác định giá thị trường trong
các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Tính đến nay, Thông tư số
66/2010/TT-BTC có thể được xem là văn bản pháp lý điều chỉnh một cách khá chi tiết
về biện pháp chống chuyển giá bằng phương pháp định giá chuyển giao. Thông tư số
66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 của Bộ Tài chính về “Hướng dẫn thực hiện việc
xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết”
21

nhằm làm căn cứ kê khai xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ sở kinh
doanh.
Có thể tóm tắt các nội dung chính thông tư như sau:
a. Thông tư hướng dẫn 05 phương pháp xác định giá thị trường: Phương pháp so
sánh giá giao dịch độc lập, phương pháp giá bán lại, phương pháp giá vốn cộng lãi,
phương pháp so sánh lợi nhuận, phương pháp tách lợi nhuận. Trong trường hợp do đặc
thù duy nhất trong các giao dịch liên kết trong các phương pháp trên không áp dụng
được thì có thể vận dụng biện pháp tổng hợp hoặc biện pháp vận dụng số liệu so sánh
giữa các kỳ.
b. Thông tư nêu rõ các khái niệm được cho là các bên có quan hệ liên kết như: về
sở hữu vốn, quan hệ gia đình, đặc quyền về điều hành kiểm soát, độ lớn của sản phẩm
dịch vụ trao đổi.
c. Khác biệt trọng yếu về thông tin so sánh điều chỉnh là tăng giảm 1% trên đơn
giá sản phẩm hoặc ít nhất 0,5% tỷ suất lợi nhuận gộp, tỷ suất sinh lời.
d. Trách nhiệm của doanh nghiệp có phát sinh trong giao dịch kinh doanh giữa
các bên có quan hệ liên kết:
 Kê khai đầy đủ phụ lục 1-GCN/CC trong Thông tư 66/2010/TT-BTC và nộp
đến cơ quan thuế cùng với thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh
nghiệp.
 Doanh nghiệp lưu giữ các thông tin tài liệu, chứng từ liên quan đến việc lập

động đến lợi ích của doanh nghiệp liên kết.
 Để xác định giá thị trường phải tuân thủ nguyên tắc dựa trên cơ sở so
sánh tính tương đương giữa giao dịch liên kết với giao dịch độc lập từ đó lựa chọn ra
phương pháp xác định giá phù hợp. Theo đó, dù là sử dụng phương pháp nào thì việc
so sánh cũng phải đưa giao dịch độc lập làm cơ sở quy chiếu về điều kiện tương đương
với giao dịch liên kết. Do đó các giao dịch tương đối dùng để so sánh có thể không
hoàn toàn giống giao dịch liên kết nhưng phải đảm bảo là không có các khác biệt trọng
yếu. Trường hợp có khác biệt trọng yếu, việc so sánh phải dùng biện pháp phân tích và
đánh giá các tiêu thức ảnh hưởng dẫn đến khác biệt nhằm loại trừ sự khác biệt mang
lại sự tương đồng. Có 4 tiêu thức được xem là những yếu tố có thể gây ra sự khác biệt,
đó là đặc tính của sản phẩm, chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh, điều kiện của
hợp đồng giao dịch và điều kiện kinh tế khi diễn ra giao dịch.
Sau đây ta sẽ xem xét lần lượt 5 phương pháp định giá chuyển giao được đề cập
đến trong Thông tư số 66/2010/TT-BTC.
23

3.2.1 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập
a. Nguyên tắc
Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập dựa vào đơn giá sản phẩm trong
giao dịch độc lập để xác định đơn giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao
dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau.
Đối với phương pháp này, khi phân tích so sánh 4 tiêu thức ảnh hưởng, tiêu
thức ưu tiên là đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng, các tiêu thức bổ trợ là điều
kiện kinh tế và chức năng của doanh nghiệp.
b. Điều kiện áp dụng:
Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập
và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm;
c. Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm:
- Đặc tính vật chất, chất lượng và nhãn hiệu thương mại của sản phẩm;

thay cho 60.000 USD.
3.2.2 Phương pháp giá bán lại
a. Nguyên tắc
- Phương pháp xác định giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản
phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó
từ bên liên kết.
- Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá bán ra
của sản phẩm trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác
được tính trong giá sản phẩm mua vào (nếu có) (ví dụ: thuế nhập khẩu, phí hải quan,
chi phí bảo hiểm, vận chuyển quốc tế).
+ Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra
(doanh thu thuần) và giá bán ra (doanh thu thuần), phản ánh giá trị doanh nghiệp
thu được để bù đắp chi phí hoạt động kinh doanh và có mức lãi hợp lý.
25

Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) được xác định
bằng giá trị chênh lệch giữa giá bán ra (doanh thu thuần) và giá vốn sản phẩm
mua vào chia cho (:) giá bán ra (doanh thu thuần).
+ Trường hợp doanh nghiệp có chức năng là đại lý phân phối không có
quyền sở hữu sản phẩm và được hưởng hoa hồng đại lý theo tỷ lệ phần trăm (%)
trên giá bán của sản phẩm thì tỷ lệ đó được coi là tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá
bán ra (doanh thu thuần).
- Đối với phương pháp này, khi phân tích so sánh 4 tiêu thức ảnh hưởng, tiêu
thức ưu tiên là chức năng hoạt động của doanh nghiệp, các tiêu thức bổ trợ là điều kiện
hợp đồng, đặc tính sản phẩm và điều kiện kinh tế.
b. Điều kiện áp dụng:
Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập
và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra
(doanh thu thuần);
c. Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status