Tiểu luận môn Đầu tư tài chính ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO - Pdf 24

[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
LỜI MỞ ĐẦU
“Khi đầu tư chứng khoán, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời giảm vẫn
giảm rủi ro xuống một mức có thể chấp nhận được”. Có nhiều cách khác nhau chẳng
hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên dự báo một
tương lai phát triển đầy triển vọng hay đơn giản chỉ là đầu tư vào những công ty có uy
tín trên thị trường…Nhưng tất cả các điều đó không thể đảm bảo được rằng công ty mà
mình mua cổ phiếu không bị phá sản hay báo cáo tài chính được lập với những mánh
khóe kế toán.
Làm thế nào để các nhà đầu tư tránh được vấn đề này?Lời khuyên của Don
Cervantes tránh “bỏ tất cả trứng vào cùng một rổ” đã trở thành một triết lý phổ biến
trong đầu tư mà dường như vẫn còn khá đứng vững qua thử thách của thời gian.Mặc dù
vậy, tầm quan trọng của đa dạng hóa không phải luôn luôn được hiểu đúng. Đa dạng
hóa là quan trọng bởi vì các danh mục với nhiều đối tượng đầu tư thường tạo ra một tỷ
suất sinh lợi tổng hợp nhất quán và ổn định hơn so với các danh mục chỉ bao gồm một
đối tượng đầu tư. Khi bạn nắm giữ nhiều cổ phần, ngay cả khi một số cổ phần trong đó
giảm giá thì những cổ phần khác vẫn có thể tăng giá (hoặc giữ cùng mức giá).
Vậy hiệp phương sai và tương quan ảnh hưởng như thế nào đến đa dạng hóa trong
việc làm giảm rủi ro của danh mục đầu tư?Làm thế nào để có thể xây dựng được danh
mục đầu tư hiệu quả?Để trả lời được những câu hỏi trên, đó là lý do nhóm em chọn đề
tài “Đa dạng hóa và phân bổ tài sản rủi ro”.
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 1
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI
1.1. Tỷ suất sinh lợi
Một biện pháp quan trọng để đo lường thành công của nhà đầu tư là tỷ lệ tăng
trưởng của quỹ trong giai đoạn đầu tư. Tỷ suất sinh lợi nắm giữ trong từng thời kỳ
(HPR) của một chứng khoán phụ thuộc vào sự tăng (hoặc giảm) giá của chứng khoán
trong giai đoạn đầu tư cũng như tất cả dòng thu nhập từ chứng khoán đó (cổ tức của cổ
phiếu hoặc lãi nhận được từ các chứng khoán nợ). Tỉ lệ tỷ suất sinh lợi được xác định

Khi công ty hoạt động tốt (ví dụ, HPR tốt), nó thu hút nguồn vốn mới, nếu không
nó có thể bị rút vốn. Ví dụ, trong quý đầu tiên tỷ suất sinh lợi là 10%: vậy lợi nhuận là:
0,10 x $ 1.000.000 = $ 100.000, ngoài ra nó có khoản đầu tư mới 100.000 USD, do đó
tổng tài sản cuối quý là $ 1,2 triệu. HPR tốt hơn trong quý thứ hai tạo ra một dòng tiền
vào lớn hơn, và cuối quý II tổng tài sản là 2.000.000 $.Tuy nhiên, HPR trong quý thứ
ba là âm, và dòng tiền vào là âm.
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 3
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
Ta có một số biện pháp đánh giá hoạt động, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và
khuyết điểm riêng của mình. Có những phương pháp như: trung bình cộng (Arithmetic
average), trung bình nhân (Geometric average), và tỷ suất sinh lợi gia quyền (dollar-
weighted return). Những biện pháp này khác nhau đáng kể, vì vậy chúng ta cần phải
hiểu sự khác biệt của chúng.
- Trung bình cộng: Trung bình cộng của tỷ suất sinh lợi hàng quý là tổng của tỷ suất sinh
lợi hàng quý chia cho số quý, trong ví dụ trên : (10 + 25 - 20 + 25) / 4 = 10%.Vì vậy
cách tính này bỏ qua lãi kép, nó không đại diện cho một tỷ suất sinh lợi tương đương
của mỗi quý trong năm.Trung bình cộng (Arithmetic average) khá hữu ích, vì nó là dự
báo tốt nhất về hoạt động trong quý sau, sử dụng mẫu đặc biệt của tỷ suất sinh lợi trong
quá khứ (việc mẫu đủ lớn hay đủ mang tính đại diện để làm cho dự báo chính xác hay
không, tất nhiên, một câu hỏi khác).
- Trung bình nhân (geometric average): trung bình nhân (geometric average) của tỷ suất
sinh lợi hàng quý bằng tỷ suất sinh lợi mỗi quý với hệ số lũy tiến của tỷ suất sinh lợi
thực tế. Chúng ta tính trung bình nhân (geometric average) bằng cách ghép tỷ suất sinh
lợi thực của các quý sau đó tìm các tỷ suất sinh lợi tương đương của mỗi qúy. Trong
trường hợp này,tỷ suất sinh lợi hàng quý theo trung bình nhân, r
G
, được xác định bởi :
G
)
2

1 + EAR = (1 + Rate per period)
n
= (1 + APR/n)
n
Hay APR = [(1 + EAR)
1/n
– 1] x n (1.1)
Công thức giả định rằng bạn có thể tính được APR từng thời kỳ. Vì vậy, sau một
năm (sau n kỳ), tỷ suất sinh lợi tích lũy của bạn sẽ là (1 + APR/N)
n
. Lưu ý rằng ta cần
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 5
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
biết số kỳ nắm giữ khi đưa ra một APR để chuyển nó sang một tỷ suất sinh lợi hiệu
quả.
EAR khác với APR khi n trở nên lớn hơn (có nghĩa là, khi chúng ta gộp dòng tiền
thường xuyên hơn). Trong giới hạn, chúng ta có thể hình dung lãi kép liên tục khi n trở
nên vô cùng lớn trong phương trình 1.1.
Với lãi kép liên tục, mối quan hệ giữa APR và EAR trở thành:
EAR = e
APR
- 1
Hay APR = ln(1 + EAR)
Ví dụ 1.2:Giả sử bạn mua một tín phiếu $ 9,900 đáo hạn trong một tháng. Tại ngày đáo
hạn của tín phiếu bạn sẽ nhận được số tiền bằng với mệnh giá của tín phiếu là 10.000
USD. Vì tiền lãi không được trả trong suốt thời kỳ nắm giữ, tỷ suất sinh lợi nắm giữ
trong kỳ cho việc đầu tư một tháng này là:
APR= 1.01% x 12 = 12.12%
1 + EAR = (1.0101)12 = 1.1282 → EAR = 0.1282 = 12.82
1.2. Rủi ro và phần bù rủi ro

2
=
2
(1.4)
- Để đo lường rủi ro cùng giá trị như tỷ suất sinh lợi kỳ vọng (%), chúng ta sử dụng độ
1 Giá trị trung bình của phân phối tỷ suất sinh lợi nắm giữ trong kỳ.
2Giá trị kỳ vọng của độ lệch bình phương giữa các trung bình.
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 7
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
lệch chuẩn
3
, được tính bằng căn bậc hai của phương sai:
(1.5)
Một nhược điểm tiềm tàng khi sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn để đo
lường rủi ro là chúng coi các sai lệch âm và sai lệch dương của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng
như đối xứng. Trong thực tế, dĩ nhiên, các nhà đầu tư chào đón các bất ngờ tích cực, và
cách đo lường rủi ro tự nhiên sẽ chỉ tập trung vào kết quả xấu. Tuy nhiên, nếu phân
phối tỷ suất sinh lợi là đối xứng (nghĩa là khả năng xảy ra các bất ngờ tiêu cực tương
đương với xác suất xảy ra các bất ngờ tích cực có cùng độ lớn), vì thế độ lệch chuẩn sẽ
xấp xỉ đo lường rủi ro chỉ tập trung vào độ lệch tiêu cực. Trong trường hợp đặc biệt mà
phân phối tỷ suất sinh lợi xấp xỉ tiêu chuẩn – được thể hiện bởi đường cong hình
chuông nổi tiếng – độ lệch chuẩn sẽ hoàn toàn phù hợp để đo lường rủi ro. Bằng chứng
cho thấy rằng trong các giai đoạn nắm giữ tương đối ngắn, tỷ suất sinh lợi của hầu hết
các danh mục đầu tư đa dạng được mô tả cùng bởi một phân bố chuẩn.
1.2.2. Phần bù rủi ro và tâm lý lo ngại rủi ro
Nếu có thể, bạn nên đầu tư bao nhiêu vào một danh mục cổ phiếu như được mô tả
trong bảng 5.2? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên, bạn phải tự hỏi giá trị của tỷ suất
sinh lợi kỳ vọng có thể bù đắp cho rủi ro trong việc đầu tư tiền vào cổ phiếu hay
không.
3Căn bậc 2 của phương sai

Việc định lượng được mức độ ngại rủi ro của một nhà đầu tư đôi khi rất hữu ích.
Các nhà đầu tư ngại rủi ro sẽ đòi hỏi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn để đầu tư tài sản
của họ vào các danh mục đầu tư có độ biến động cao hơn, do đó phần bù rủi ro sẽ lớn
hơn tâm lý ngại rủi ro của họ. Vì vậy, nếu chúng ta định lượng mức độ lo ngại rủi ro
với tham số A, nó có ý nghĩa khẳng định rằng phần bù rủi ro cho đòi hỏi của một nhà
đầu tư về một danh mục đầu tư sẽ phụ thuộc vào cả tâm lý ngại rủi ro A lẫn rủi ro của
danh mục đầu tư, .
4Tỷ lệ tỷ suất sinh lợi chắc chắn có thể kiếm được.
5Một tỷ suất sinh lợi kỳ vọng vượt quá tỷ suất sinh lợi trên chứng khoán phi rủi ro.
6Tâm lý không sẵn sàng, miễn cưỡng chấp nhận rủi ro.
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 9
E(rP) – rf
½
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
Chúng ta sẽ viết phần bù rủi ro mà một nhà đầu tư đòi hỏi đối với một danh mục
đầu tư bằng một công thức như sau:
E(r
P
) – r
f
= ½ A (1.6)
 A= (1.7)
Trong đó: E(r
p
)tỷ suất sinh lợi kỳ vọng,
. phương sai của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng
r
f:
lãi suất phi rủi ro của tín phiếu kho bạc là.
A: tâm lý ngại rủi ro của nhà đầu tư.

Để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lời thực tế. Ta giả sử tỷ lệ
lạm phát (phần trăm thay đổi trong chỉ số CPI, ký hiệu là i) trong năm ngoái lên tới i =
6%. Điều này sẽ cho bạn biết sức mua của tiền đã giảm 6% một năm.Giá trị của mỗi
đồng đô la mất giá 6% một năm về hàng hóa nó có thể mua.Vì vậy, một phần lãi kiếm
được của bạn được bù đắp bởi việc giảm sức mua của đồng đô la bạn sẽ nhận được vào
cuối năm nay. Với tỷ lệ lãi suất 10%, sau khi thực giảm 6% sức mua của đồng tiền, thì
bạn đã được một sự gia tăng ròng trong sức mua khoảng 4%. Vì vậy, chúng ta cần phải
phân biệt giữa tỷ lệ tăng lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ tăng đồng tiền của bạn và tỷ lệ lãi
suất thực – tỷ lệ tăng sức mua của bạn.
Ta có công thức: r = R – i
Với R: là lãi suất danh nghĩa
r: lãi suất thực (tỷ lệ lãi suất thực tế là tỷ lệ danh nghĩa đã giảm do giảm mất
sức mua do lạm phát)
i: tỷ lệ lạm phát
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 11
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
Trong thực tế, mối quan hệ chính xác giữa tỷ lệ lãi suất thực và danh nghĩa được
tính:
Với: 1 + r : các yếu tố tăng trưởng sức mua của bạn
1 + R: yếu tố tăng trưởng đồng tiền của bạn
Mức giá mới đó là 1 + i lần giá trị của nó trong giai đoạn trước.
Có thể viết lại công thức như sau:
Ví dụ: nếu lãi suất trên một đĩa CD một năm là 8%, và bạn mong đợi lạm phát là 5%
trong năm tới, sau đó sử dụng công thức gần đúng, bạn mong đợi lãi suất thực được r =
8% - 5% =3%. Sử dụng công thức chính xác, tốc độ thực sự là
Tóm lại, để giải thích tỷ suất sinh lời của các loại tài sản khác nhau được trình bày
trong Bảng 5.3, chúng ta phải nhận ra rằng để tính được tỷ suất sinh lời thực tế của các
tài sản này, chúng ta phải lấy tỷ suất sinh lời danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát được trình
bày trong cột cuối cùng của bảng. Trong thực tế, tỷ suất sinh lời của tín phiếu Mỹ
thường được coi là không có rủi ro, điều này chỉ đúng đối với tỷ suất sinh lời danh

Trọng
số
TSSLkỳ
vọng
Độlệch
chuẩn
X
wX
E(r
X
)=
rX
σ
X
Y
w
Y
E(r
Y
)=
rY
σ
Y
Tỷ suất
sinhlợikỳvọngcủadanhmụcđầutưbằngbìnhquântrọngsốcủatỷ
suấtsinhlợi
kỳ
vọngcủacáctàisảnriêngrẽtrongdanh
mục:
E(rp) = rp = wxr x + wyry

rủi ro.
1.4.1. Tài sản rủi ro
Công thức tổng quát khi danh mục bao gồm một tài sản rủi ro và một tài sản phi
rủi ro
Giả sử tổng giá trị thị trường của danh mục đầu tư của nhà đầu tư là 300.000
USD. Trong đó, 90.000 USD được đầu tư vào một loại tài sản phi rủi ro. Còn lại
210.000 USD vào chứng khoán rủi ro, trong 210.000 USD tài sản rủi ro này lại có
113.400 USD trong quỹ đầu tư vào chỉ số S & P 500 Vanguard (gọi tắt là quỹ theo chỉ
số 500 Vanguard) và 96.600 USD trong Quỹ đầu tư trái phiếu hạng Fidelity.
Quỹ Vanguard (V) là một quỹ đầu tư thụ động tái tạo các danh mục đầu tư S & P
500. Quỹ đầu tư trái phiếu hạng Fidelity đầu tư chủ yếu vào trái phiếu doanh nghiệp
với độ an toàn cao và cũng có trái phiếu kho bạc. Chúng tôi chọn hai quỹ cho danh
mục đầu tư rủi ro vì chi phí thấp, đa dạng hóa danh mục đầu tư tốt. Trong khi ở các
chương tiếp theo, chúng tôi thảo luận về tối ưu hóa danh mục đầu tư, ở đây chúng tôi
chỉ đơn giản là giả định nhà đầu tư xem xét tỷ trọng nhất định của V và IG được tối
ưu.
Các cổ phiếu trong Vanguard và Fidelity tạo nên danh mục đầu tư rủi ro với 54 %
trong V và 46% trong IG
w
v
= 113.400/210.000 = 0.54 (Vanguard)
w
IG
= 96.600/210.000 = 0.46 (Fidelity)
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 15
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
Tỷ trọng của danh mục đầu tư rủi ro P trong danh mục đầu tư đầy đủ, bao gồm cả
đầu tư rủi ro và đầu tư phi rủi ro, được ký hiệu là y, và do đó tỷ trọng của quỹ thị
trường tiền tệ là 1 - y.
y = 210.000/300.000 = 0.7 (tài sản rủi ro, danh mục P)

giảm rủi ro bằng cách thay đổi rủi ro / kết hợp tài sản phi rủi ro, đó là, giảm thiểu rủi ro
bằng cách giảm tỷ lệ y. Bởi vì chúng ta không làm thay đổi tỷ trọng của các tài sản
trong danh mục đầu tư rủi ro, phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi trên danh mục đầu
tư rủi ro vẫn không thay đổi bởi việc tái phân bổ tài sản. Sẽ làm gì để thay đổi phân
phối xác suất của tỷ suất sinh lợi trên danh mục đầu tư đầy đủ được tạo thành từ các tài
sản rủi ro và phi rủi ro.
1.4.2. Tài sản phi rủi ro
Do có quyền đánh thuế và có khả năng kiểm soát mức cung tiền tệ, chỉ có chính
phủ mới có thể phát hành các trái phiếu không có rủi ro vỡ nợ. Tuy nhiên, kể cả khi
không có rủi ro vỡ nợ thì trái phiếu vẫn chịu rủi ro lãi suất và rủi ro lạm phát. Rủi ro
lạm phát chỉ có thể được loại bỏ khi trái phiếu được phát hành dưới hình thức trái
phiếu có lãi suất được hiệu chỉnh theo chỉ số giá. Tức là lãi suất của trái phiếu bằng
một mức cố định cộng với tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn trước đó.Hơn thế nữa, một trái
phiếu chỉ số chỉ hoàn toàn không có rủi ro về lãi suất thực khi có kỳ hạn đúng bằng với
thời gian mà nhà đầu tư muốn nắm giữ. Nhưng ngay cả trái phiếu chính phủ được hiệu
chỉnh theo chỉ số giá vẫn phải chịu rủi ro lãi suất, bởi vì lãi suất thay đổi bất ngờ theo
thời gian. Khi mức lãi suất trong tương lai không chắc chắn, thì mức giá trái phiếu
trong tương lai cũng không chắc chắn.
Tuy nhiên, người ta thường coi tín phiếu kho bạc (ví dụ tín phiếu kho bạc kỳ hạn
3 tháng) là tài sản tài chính không có rủi ro. Tính chất ngắn hạn của loại phiếu này làm
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 17
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
cho giá trị của nó không bị tác động nhiều bởi biến động lãi suất.Trên thực tế, nhà đầu
tư có thể cố định tỷ suất lợi nhuận ngắn hạn bằng cách mua 1 tín phiếu và giữ nó cho
tới khi đáo hạn.Hơn thế nữa, tính chất không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trong thời
gian 182 ngày thường không đáng kể so với tính chất không chắc chắn của các tỷ suất
lợi nhuận khác trên thị trường chứng khoán.
Trên thực tế, hầu hết các nhà đầu tư đều coi nhiều công cụ thị trường tiền tệ là tài
sản không rủi ro. Hầu hết các công cụ thị trường tiền tệ đều gần như không chịu rủi ro
lãi suất do có kỳ hạn ngắn và tương đối an toàn về khả năng trả nợ (rủi ro tín dụng gần

không rủi ro là 7%. (Lựa chọn này được vẽ như điểm F trong hình 5.5)
Bây giờ xem xét lựa chọn ôn hòa hơn. Ví dụ: nếu bạn phân bổ một lượng bằng
nhau của danh mục đầu tư tổng thể hoặc đầy đủ của bạn, C, vào các tài sản rủi ro và
phi rủi ro, nghĩa là, nếu bạn chọn y = 0.5, tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên danh mục đầu tư
đầy đủ sẽ là mức trung bình của tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên danh mục đầu tư F và P.
Do đó,E(r
C
) = 0.5 x 7% + 0.5 x 15% = 11%. Do đó, phần bù rủi ro của danh mục đầu
tư đầy đủ là 11% - 7% = 4%, đó là một nửa bằng bù rủi ro của P. Độ lệch chuẩn của
danh mục đầu tư cũng là một nửa của P bằng 11%. Khi bạn giảm các phần của danh
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 19
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
mục đầu tư đầy đủ phân bổ cho các tài sản rủi ro một nửa, bạn giảm cả rủi ro và bằng
bù rủi ro bằng một nửa.
Tóm lại, phần bù rủi ro của danh mục đầu tư đầy đủ C sẽ bằng phần bù rủi ro của
tài sản rủi ro nhân với tỷ trọng đầu của danh mục đầu tư vào các tài sản rủi ro.
E(r
C
) – r
f
= y[E(r
p
) – r
f
) (5.8)
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư C sẽ bằng độ lệch chuẩn của tài sản rủi ro
nhân với độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư đầu tư vào các tài sản rủi ro.
= y
Các điểm mô tả các rủi ro và tỷ suất sinh lời của danh mục đầu tư đầy đủ phân
bổ tài sản khác nhau, có nghĩa là, sự lựa chọn khác nhau của y, tất cả các đồ thị trên

cơ hội đầu tư như thế nào? Nếu nhà đầu tư có thể vay với (rủi ro) tỷ lệ = 7%, họ có thể
xây dựng danh mục đầu tư đầy đủ mà thể hiện trên CAL ở bên phải của P. Chúng chỉ
đơn giản là chọn giá trị của y lớn hơn 1.0.
Tất nhiên, các nhà đầu tư phi chính phủ không thể vay với lãi suất phi rủi ro.
Nguy cơ vỡ nợ của người vay dẫn đến người cho vay yêu cầu lãi suất cao hơn khi cho
vay. Do đó, chi phí lãi vay đầu tư phi chính phủ sẽ vượt quá lãi suất cho vay của = 7%.
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 21
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
Giả sử lãi suất vay là = 9%. Sau đó, cho y lớn hơn 1.0 (phạm vi vay), phần bù cho
tỷ lệ biến đổi (độ dốc của CAL) sẽ là: [E(r
P
) – r
B
]/ = 6/22 = 0.27. Ở đây, lãi suất vay ()
thay thế lãi suất cho vay (), giảm "phần bù" (tử số) trong phần bù cho tỷ lệ biến đổi.
CAL sẽ là " gấp khúc " tại điểm P như trong hình 5.6. Bên trái của P, với y < 1, chủ
đầu tư được vay ở mức 7% và độ dốc của CAL là 0,36. Ở bên phải của P, với y > 1,
chủ đầu tư được vay (với tỷ lệ rủi ro cao hơn) để tài trợ cho các khoản đầu tư thêm
trong các tài sản rủi ro, và độ dốc là 0,27.
Trong thực tế, vay để đầu tư vào danh mục đầu tư rủi ro là dễ dàng và đơn giản
nếu bạn có một tài khoản bảo chứng với một nhà môi giới. Tất cả bạn phải làm là nói
với người môi giới của bạn, bạn muốn mua " bảo chứng ". Mua sắm trong tài khoản
bảo chứng không được vượt quá 50 % giá trị mua hàng. Ví dụ, nếu giá trị tài sản của
bạn trong tài khoản là 300.000 USD, các nhà môi giới được phép cho vay lên đến
300.000 USD để mua cổ phiếu bổ sung. Sau đó bạn sẽ có 600.000 USD ở phía bên tài
sản của tài khoản và 300.000 USD về bên phía tài khoản nợ, kết quả là y = 2.0.
1.5. Chiến lược thụ động và đường thị trường vốn
Dòng phân bổ vốn cho thấy rủi ro tỷ suất sinh lời có khả năng bằng cách kết hợp các
tài sản phi rủi ro với danh mục đầu tư rủi ro của nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thể lựa chọn
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 22

động.Một số vấn đề là giá trị xem xét, tuy nhiên.
Đầu tiên, chiến lược chủ động thay thế đòi hỏi chi phí. Cho dù bạn chọn để đầu tư
thời gian quý báu của mình để có được các thông tin cần thiết để tạo ra một danh mục
đầu tư chủ động tối ưu của tài sản rủi ro hoặc cho dù bạn giao phó nhiệm vụ cho một
người chuyên nghiệp sẽ tính phí, xây dựng một danh mục đầu tư đang hoạt động là đắt
hơn xây dựng một thụ động. Danh mục đầu tư thụ động chỉ cần hoa hồng nhỏ khi mua
hàng của U.S. Thương phiếu (hoặc không có hoa hồng nếu bạn mua giấy tờ có giá trực
tiếp từ chính phủ) và phí quản lý cho một công ty quỹ tương hỗ để cung cấp một quỹ
chỉ số thị trường cho công chúng. Một chỉ số quỹ có chi phí hoạt động thấp nhất của tất
cả các quỹ tương hỗ chứng khoán bởi vì nó đòi hỏi phải nỗ lực tối thiểu .
Thứ hai, hỗ trợ một chiến lược thụ động là quyền lợi được chỉ dẫn miễn phí (free-
rider benefit). Nếu bạn cho rằng có rất nhiều hoạt động, các nhà đầu tư thông minh
người mà nhanh chóng chào giá lên giá tài sản bị định giá thấp và giảm các tài sản định
giá quá cao (bằng cách bán), bạn phải quyết định mà hầu hết các thời điểm của hầu hết
các tài sản sẽ có giá tốt. Do đó, một danh mục đầu tư cũng đa dạng hóa của cổ phiếu
phổ thông sẽ được mua một cách hợp lý công bằng, và các chiến lược thụ động có thể
không kém hơn so với các nhà đầu tư chủ động trung bình .
Tóm lại, một chiến lược thụ động liên quan đến đầu tư trong hai danh mục đầu tư
thụ động: ngắn hạn hầu như không có rủi ro tín phiếu (hoặc một quỹ thị trường tiền tệ )
và một quỹ của cổ phiếu phổ thông tương tự một chỉ số thị trường rộng lớn. Nhớ lại
rằng đường phân bổ vốn đại diện cho một chiến lược như vậy được gọi là đường thị
trường vốn. Sử dụng Bảng 5.5, chúng ta thấy rằng việc sử dụng dữ liệu năm 1926 đến
năm 2001, danh mục đầu tư rủi ro thụ động đã cung cấp một lợi nhuận trung bình vượt
quá 8.6% với độ lệch chuẩn 20.7% , kết quả của phần bù tỷ lệ biến đổi là 0.42 .
Có thể tổng hợp phân biệt hai chiến lược đầu tư như sau:
|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 24
[ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO]
Chiến lược đầu tư chủ động Chiến lược đầu tư thụ động
Chiến lược: chủ động mua giá thấp,
bán giá cao, thu lợi nhuận

|LỚP CAO HỌC TCDN NGÀY – K22 25

Trích đoạn Thị trường tài sản một nhân tố. Phụ lục 1: NHỮNG SỐ LIỆU TRONG QUÁ KHỨ TRÁI PHIẾU TÍN PHIẾU VÀ CỔ PHIẾU 1926 Phụ lục 2: BẰNG CHỨNG VỀ ĐƯỜNG THỊ TRƯỜNG VỐN TRONG LỊCH SỬ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status