MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Đối với VIỆT NAM: 17
Đối với TRUNG QUỐC: 21
Ý nghĩa: 26
Kết luận: 28
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác, CNXH đã từ những lý thuyết không tưởng trở
thành một lý luận khoa học. Quá trình thâm nhập lý luận khoa học đó vào đời
sống thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của CNXH hiện thực: từ một nước đến
nhiều nước và trở thành một hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh
trên phạm vi quốc tế ở thế kỷ XX với nhiều thành tựu vĩ đại, in đậm dấu ấn
không thể phai mờ trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Thế nhưng, vào những thập niên cuối thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan đã dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. CNXH đã tạm thời lâm vào thoái trào. Các
nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã tiến hành cải cách, đổi mới và tiếp tục phát
triển. Thực tế lịch sử đó đã đặt ra một vấn đề lớn về tương lai của chủ nghĩa xã
hội. Lời giải đáp khoa học chân chính cho câu hỏi này chỉ có thể có đươc trên
cơ sở nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và vận dụng
1
sáng tạo những nguyên lý đó vào việc phân tích bối cảnh cụ thể của thời đại
ngảy nay.
A. NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI KHOA HỌC HIỆN THỰC
I. Khái niệm:
Chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học nghiên cứu sự chuyển biến tất yếu của
xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản. Song quá trình khách quan, có tính chất lịch sử tự nhiên này chỉ có thể thực
hiện bằng việc phát huy nhân tố chủ quan, thông qua sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân do Đảng cộng sản lãnh đạo. Vì vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa
mới cho sự giải phóng các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức. Nó đã mở đầu
một thời đại mới trong lịch sử - thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thê giới. Và từ đây mô hình chủ nghĩa xã hội
hiện thực đầu tiên trên thế giới được hình thành.
III. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học hiện thực:
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mở đầu từ Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 cho đến nay có thể chia thành 4 giai đoạn chính sau
đây:
Giai đoạn 1: Từ năm 1917 đến kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, năm
1945
Đây là giai đoạn đột phá thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước Nga, một nước
tư bản phát triển trung bình, khai sinh ra một chế độ mới, chế độ xã hội chủ
nghĩa. Đó là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, xóa bỏ được tình trạng
người bóc lột người, mở ra khả năng tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
một nước, đánh bại sự bao vây, can thiệp chủ nghĩa đế quốc, mở đường cho
3
phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, đồng thời cứu xã hội loài
người ra khỏi thảm họa của chủ nghĩa phátxít.
Giai đoạn 2: Từ sau năm 1945 đến đầu những năm 1970
Đây là giai đoạn mở rộng và phát triển của chủ nghĩa xã hội từ một nước ra
nhiều nước dẫn tới sự hình thành hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em giai đoạn này còn đánh dấu
sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân thế giới. Phong trào giải phóng
dân tộc giành được những thắng lợi to lớn, quan trọng. Hàng trăm nước đã
giành được độc lập dân tộc. Hệ thống thuộc địa cũ của chủ nghĩa tư bản sụp đổ.
Tác động và ảnh hưởng tích cực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, của phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại các nước tư bản chủ nghĩa, của
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc
Nhân dân lao động cùng những người cộng sản trung kiên đã có thêm những
kinh nghiệm thực tế để đấu tranh trở lại con đường xã hội chủ nghĩa.
Nhiều đảng cộng sản đang tự tổ chức lại và phục hồi những ảnh hưởng tích cực
của mình trong xã hội. Cần có thời gian và những sự đổi mới cần thiết để chủ
nghĩa xã hội có thể vượt qua thoái trào và bước vào một giai đoạn phát triển
mới.
Sức sống và xu hướng phát triển của chủ nghĩa xã hội không mất đi. Chủ nghĩa
xã hội là sự định hướng của sự phát triển lịch sử, vẫn là sự lựa chọn tích cực
nhất phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử trong thời đại hiện
nay.
5
IV. Những cống hiến, thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa xã hội khoa học
hiện thực:
CNXH đã bắt đầu trở thành một loại chế độ xã hội mới phát huy tác dụng đối
với lịch sử xã hội loài người. Phong trào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước
xã hội chủ nghĩa đã không ngừng được phát huy, nó đã thúc đẩy quá trình công
nghiêp hóa, hiện đại hóa các nước này. Sự phát triển mạnh mẽ của các nước
XHCN cũng tạo thành một áp lực rất lớn đối với CNTB, buộc các nước TBCN
cũng phải cải thiện những điều kiện sinh hoạt của người lao động và giai cấp
công nhân trên nhiều phương diện ở một mức độ nhất định. Với sự xác lập và
phát triển của CNXH thì tổ chức các Đảng Cộng Sản - đội quân tiên phong của
giai cấp công nhân trên thế giới cũng đã có những sự phát triển lớn mạnh. Nó
từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng so sánh trên vũ đài chính trị thế
giới, tạo cơ sở làm suy yếu nền chính trị tư sản, nó cỗ vũ và cũng cố niềm tin
cho nhân dân thế giới vào sự nghiệp tiến bộ, nó đem lại cho sự phát triển của
thê giới đương đại những nội dung mới và từ đó mà tăng cường sức sống mới.
Sự tồn tại và ảnh hưởng trên các phương diện kinh tế, chính trị, ngoại giao,
quân sự của các nước XHCN đã làm thay đổi cục diện chính trị thế giới mà ở
một nhất định nó đã hạn chế được sự bành trướng trên pham vi thế giớ của
CNTB và chủ nghĩa bá quyền của các nước đế quốc. Lực lượng XHCN đã tham
làm thay đổi căn bản quá trình phát triển của thế giới: Nó đã chấm dứt sự
thống trị của các chế độ, các giai cấp áp bức, bóc lột và mở ra một kỷ nguyên
mới về chất trong sự phát triển của nền văn minh nhân loại - giai cấp công
nhân và nhân dân lao động trở thành lực lượng trung tâm trong một chế độ
xã hội mà nhân dân lao động làm chủ. Công cuộc xây dựng, phát triển kinh
tế - xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở một số nước như Trung
Quốc, Việt Nam, Cu-ba, Triều Tiên và Lào là những minh chứng sống động
về quá trình tự đổi mới, hướng tới củng cố, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Không ai có thể phủ nhận được rằng, Liên Xô và phong trào cộng sản quốc
tế đã có công lao vĩ đại góp phần cứu loài người thoát khỏi thảm họa phát-xít
trong Chiến tranh thế giới lần thứ II. Sự ra đời, phát triển của Liên Xô và hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới sau Chiến tranh thế giới II không chỉ mở ra
thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và cách mạng giải phóng
dân tộc; mà còn tạo sự thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho lực lượng
7
cách mạng, tiến bộ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ và
hòa bình (Năm 1919 chỉ một nước XHCN với 16% diện tích và 7,8% dân số
thế giới; sau gần 70 năm đã có 15 nước XHCN, chiếm 26% lãnh thổ và 1/3
dân số thế giới; và với sự ủng hộ, giúp đỡ toàn diện của các nước XHCN, từ
sau Chiến tranh thế giới lần thứ II phong trào giải phóng dân tộc đã giành
được những thắng lợi nhất định - hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
với 72% diện tích và 70% dân số thế giới hầu như hoàn toàn tan rã và đã có
hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi ra đời). CNXH hiện thực cũng là lực
lượng đấu tranh tích cực để bảo vệ, củng cố nền hòa bình thế giới; ngăn chặn
và làm thất bại nhiều âm mưu xâm lược và gây chiến tranh hủy diệt của chủ
nghĩa đế quốc.
- Trước thắng lợi của cách mạng XHCN, tất cả các nước XHCN đều là những
nước nông nghiệp lạc hậu; nhưng chỉ cần sau 20 năm Liên Xô và các nước
Đông Âu đều trở thành những nước công nghiệp hóa và có tốc độ phát triển
đối với nam giới và 280 năm đối với nữ giới. Liên Xô năm 1917 từ một đất
nước có 3/4 dân số mù chữ, thì đến năm 1987 trở thành đất nước có trình độ
học vấn cao nhất thế giới (78% dân cư có trình độ trung học và đại học,
chiếm 1/4 số lượng các nhà khoa học và 1/5 phát minh khoa học trên thế
giới). Hệ thống y tế và bảo vệ sức khỏe nhân dân được phát triển rộng rãi
Tuy nhiên CNXH hiện thực còn một số hạn chế:
Về kinh tế: Vẫn còn nhiều sai sót, điển hình là chuyển từ “chính sách kinh tế
mới” sang “kế hoạch hóa tập trung cao độ”. Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập
trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập
trung quan liêu, bao cấp.
Sự chậm đổi mới cơ chế kinh tế cho phù hợp với thị trường.
Việc không có cạnh tranh và sản xuất theo kế hoạch làm cho người
lao động mất động lực quyền lợi kinh tế dẫn đến sự sa sút kỷ luật và
lòng hăng hái và nảy sinh bàng quang vô trách nhiệm.
Về chính trị: Vẫn tồn tại những sai lầm trong bộ máy lãnh đạo. Mối quan hệ
giữa Đảng, nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của một chính
đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ,
khiến đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân
dân; vừa không phát huy dân chủ trong đảng và trong xã hội , dẫn đến tình
9
trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn. Tình trạng
giáo điều hóa chủ nghĩa Mác - Lênin, sao chép máy móc mô hình XôViết, bệnh
chủ quan, duy ý chí diễn ra một cách phổ biến ở các đảng cộng sản cầm quyền,
tại các nước xã hội chủ nghĩa đã làm cho chủ nghĩa xã hội không bộc lộ và phát
huy được đầy đủ bản chất ưu việt của nó.
Sự can thiêp một cách mạnh mẽ và liên tục của chủ nghĩa đế quốc.
V. Nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội XôViết:
Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời và tồn tại hơn 70 năm, đã qua những thử
thách khó khăn cực kỳ to lớn, ngay lúc mới ra đời nằm trong vòng vây thù địch
của chủ nghĩa đế quốc và sự phản loạn từ bên trong, dù bị bao vây kinh tế hay
Thứ nhất: Nội bộ Đảng cầm quyền và sai lầm, sự phản bội của những
người lãnh đạo cao nhất. Bởi vì, các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản
lãnh đạo, đảng là trung tâm lãnh đạo và chỉ huy của nhà nước và xã hội. Đảng
có vấn đề thì đó là vấn đề mang tính sống còn đối với nhà nước và đối với chế
độ.
Trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về
đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng không coi trọng kết hợp chủ
nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn nước mình và đặc điểm thời đại, không coi trọng
việc kế thừa, bổ sung và phát triển lý luận Mácxít. Hoặc là giáo điều, rập khuôn
máy móc, không căn cứ vào tình hình mới để phát triển sáng tạo. Đánh giá
không công bằng với lịch sử, từ chỗ phê phán sai lầm của cá nhân đi đến phủ
nhận toàn bộ lịch sử của Đảng và của nhà nước, phủ định chế độ xã hội chủ
nghĩa, phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin để cuối cùng đi theo con đường chủ nghĩa
dân chủ xã hội.
Về tổ chức: Chế độ tập trung trong Đảng bị phá hoại, không những làm cho
Đảng mất khả năng của bộ chỉ huy chiến đấu mà ngay mâu thuẫn trong đảng
cũng không giải quyết nổi. Tính chất quan liêu, giáo điều bảo thủ rất nặng nề ở
bộ phận lãnh đạo cấp cao của Đảng và nhà nước tác động to lớn đến đời sống xã
hội. Nhân danh cải tổ với khẩu hiệu dân chủ hoá, công khai hóa trong bộ phận
lãnh đạo cấp cao đã hình thành các phe nhóm. Với chiêu bài phi chính trị lực
lượng vũ trang, quân đội có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc chứ không thuộc đảng
11
phái nào để tách lực lượng vũ trang khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, từng
bước vô hiệu hoá và giải tán Đảng Cộng sản. Sự phân liệt Đảng Cộng sản thành
các phe nhóm chính trị khác nhau, nhiều tổ chức, đảng phái chính trị ra đời đấu
tranh giành quyền lực chính trị. Khuynh hướng dân tộc ly khai nảy sinh, những
cuộc xung đột đẫm máu xảy ra tạo môi trường cho các lực lượng phản động trỗi
dậy, xã hội mất phương hướng gây thảm hoạ cho nhân dân.
Thứ hai: Lực lượng phản bội trong nước tìm chỗ dựa từ các chính phủ tư
sản bên ngoài, các thế lực chống chủ nghĩa xã hội cũng xem đây là cơ hội tốt để
số cuộc khủng hoảng và vẫn còn khả năng phát triển. Nhưng đó không phải là
chế độ xã hội tương lai của nhân loại bởi bản chất bóc lột, phản dân chủ, vộ
nhân đạo của chính CNTB không thay đổi. Chính phương thức sản xuất dựa
trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa gây ra những ung nhọt không
thể chữa khỏi.
Trong khuôn khổ CNTB, dù là CNTB hiện đại, trên thế giới ngày nay vẫn đó
đến 1.2 tỷ người phải chịu cảnh nghèo đói, bệnh tật, mù chữ, chiến tranh,
hưởng mức thu nhập dưới 1USD/ngày, 2.5 tỷ người nghèo có tổng thu nhập chỉ
bằng thu nhập của 250 tỷ phú, triệu phú lớn nhất thế giới gộp lại; 1/3 lực lượng
lao động toàn thế giới tức là 1 tỷ người bị thất nghiệp ở các mức khác nhau; tại
hơn 100 nước đang hoặc kém phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người
giảm đi so với thập niên trước, hàng ngày có đến 30000 trẻ em chết bệnh mà lẽ
ra có thể được cứu sống, và số người lớn mù chữ lên đến hơn 800 triệu
người.CNTB đang tiếp tục bần cùng hóa một bộ phận lớn nhân loại trên hành
tinh của chúng ta. Khoảng cách giàu nghèo đang tăng lên bên trong các quốc
gia và giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển. Ở phần lớn các
nước đang phát triển, hậu quả của CNTB mới (tư nhân hóa, bãi bỏ hoặc cắt
giảm phúc lợi xã hội và sự thống trị của thị trường) đang đẩy hàng triệu triệu
nông dân ra khỏi đất đai của họ tiến về thành phố, tạo sự thiếu hụt lương thực
và nước sạch và tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao. Thậm chí ở Mỹ- đất nước được
xem là giàu nhất thế giới - có đến 10% số người thất nghiệp và 12% sống trong
nghèo đói.
Sự kiện giới cầm quyền Mỹ và giới cầm quyền Anh tấn công Irắc năm 2003
càng khẳng định bản chất khiếu chiến của chứng.
13
Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay thực ra là cuộc khủng hoảng theo chu kỳ
của CNTB. Khi các nguồn tài nguyên không tái sinh như dầu và khí đốt ngày
càng khan hiếm, chúng ta sẽ thấy ngày càng nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế-xã
hội.
CNTB đang phá hủy xã hội chúng ta. Tất cả mọi thứ bây giờ đều trở thành
“cái chết của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung”. Sự sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình của
chủ nghĩa xã hội trong quá trình đi tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Lịch sử đã
chứng tỏ rằng thay thế một xã hội cũ đã tồn tại hàng ngàn năm bằng một xã
hội mới khác về bản chất, trên phạm vi toàn thế giới không phải là việc một
sớm, một chiều. Cuộc cách mạng nào cũng vậy, nhất là cách mạng xã hội
chủ nghĩa, bao giờ cũng phải trải qua những bước thăng trầm, quanh co, đầy
khó khăn, thử thách. Ph. Ăngghen từng chỉ rõ, trong quá trình phát triển,
lịch sử loài người không tránh khỏi những sự vận động chữ chi và những
bước thụt lùi tạm thời. Sự biến ở Liên Xô và Đông Âu vừa qua là bước thụt
lùi lớn của lịch sử. Lịch sử chứng tỏ rằng, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới không diễn ra trong một thời gian ngắn và
theo một con đường thẳng tắp. Cũng như mọi thời đại khác trong lịch sử, nó có
tiến, có thoái, quanh co khúc khuỷu nhưng tương lai của xã hội loài người vẫn
là chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật khách quan phát triển của lịch sử. Tính chất
của thời đại hoàn toàn không thay đổi, loài người vẫn tồn tại trong thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở đầu
bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Các mâu thuẫn của thời đại vẫn tồn
tại, chỉ thay đổi hình thức biểu hiện và đặt ra yêu cầu mới cần giải quyết.
III. Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực:
Đã xuất hiện những nhân tố mới của xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở một
số quốc gia trong thế giới đương đại.
Trong tình hình xã hội chủ nghĩa tạm thời lâm vào thoái trào ở nhiều nơi trên
thế giới đặc biệt là ở Mỹ Latinh, từ những năm 1990 đã xuất hiện xu thế thiên
tả ngày càng phát triển mạnh lên thành một trào lưu vào đầu thế kỷ XXI. Từ
1998 đến nay, thông qua bầu cử dân chủ, các chính phủ cánh tả, tiến bộ đã lên
15
cầm quyền ở 11 nước Mỹ Latinh và trong số các nước Mỹ Latinh có cảnh tả
cầm quyền hiện nay, nhiều nước tuyên bố tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 2005, tổng thống Hugo Chavez nhiều lần công khai tuyên bố mục tiêu
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin đi vào điều kiện
cụ thể của mỗi nước đã tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện
lịch sử mới, Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước đã tiến hành công cuộc cải cách
đổi mới tương đối thành công nhất.
Đối với VIỆT NAM:
Tư tưởng của Lênin, học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh đã có vai trò, tác
động to lớn không chỉ đối với cách mạng giải phóng dân tộc mà còn đối với
công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN do Đảng ta khởi xướng,
lãnh đạo. Có thể khẳng định, chúng ta không thể đưa công cuộc đổi mới đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đến thành công nếu xa rời lập trường
quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mặt khác, việc tìm ra những giải pháp để đưa công cuộc đổi mới đến thành
công không thể không gắn liền vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn theo phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Như vậy, đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và phát
triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình
thống nhất. Đó là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, sự thống nhất giữa
tính khoa học và tính cách mạng của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Công cuộc đổi mới ở nước ta, được Ðại hội VI của Ðảng khởi xướng năm 1986,
bên cạnh nhiệm vụ nóng bỏng trước mắt là khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế
- xã hội nảy sinh từ cuối thập kỷ 70, còn có nhiệm vụ cơ bản và lâu dài hơn: Ðó
là xây dựng nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và xác định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ðể thực hiện nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa hệ trọng đó, Ðảng và nhân dân ta kiên
trì đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời
17
tích cực phát huy tấm gương Hồ Chí Minh trong vận dụng và phát triển sáng tạo
lý luận Mác - Lênin phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh
là người đã có công lao to lớn: Nêu lên hàng loạt nhận thức sinh động về chủ
và nhân dân ta đạt được qua thực tiễn 20 năm đổi mới tập trung nổi bật ở quan
điểm về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nền dân chủ hướng tới đông
đảo quần chúng nhân dân, bảo đảm dân chủ và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, xây dựng Ðảng Cộng sản cầm quyền trong sạch, vững mạnh, coi đó
là khâu then chốt, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực mạnh mẽ và quyết định
thành bại của công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Khâu quyết định đối với việc chúng ta có tiếp tục xây dựng nhận thức đúng đắn
về chủ nghĩa xã hội và làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta hay không là công tác nắm bắt kịp thời, tổng kết chính xác thực tiễn
kinh tế - xã hội, chính trị, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, tinh thần của thời đại và
cuộc sống sôi động của đất nước. Không tiến hành có hiệu quả nhiệm vụ tổng
kết thực tiễn, Đảng và nhân dân ta không thể góp phần tạo ra cho lý luận Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội sinh lực và xung lực trong
thời đại mới; càng không thể khai mở ngày càng sáng tỏ con đường Việt Nam đi
lên chủ nghĩa xã hội.
Đối với Việt Nam, tư tưởng của Lênin, học thuyết cách mạng của Người đã có
vai trò, tác động to lớn không chỉ đối với cách mạng giải phóng dân tộc mà còn
đối với công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN do Đảng ta khởi
xướng, lãnh đạo.
Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Lênin vĩ đại (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta, những người cách
mạng và nhân dân Việt Nam, không chỉ là cái “cẩm nang” thần kỳ, không
những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới
thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản”.
Công cuộc đổi mới đất nước cũng đã chứng minh sinh động một chân lý: đổi
mới không phải là từ bỏ hoặc xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin
19
về CNXH. Vấn đề trước hết là phải đổi mới tư duy, nhận thức về CNXH và con
đường đi lên CNXH trên cơ sở kết hợp “cái phổ biến” với “cái đặc thù” trong
Châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị
lớn của thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan
hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ
thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt
Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP,
UNFPA và UPU. Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc
tế đã được thể hiện thông qua việc tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh
Cộng đồng Pháp ngữ năm 1997, Hội nghị cấp cao ASEAN năm 1998, Hội thảo
quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và châu Phi năm 2003. Năm 2004,
Việt Nam tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM vào tháng 10. Năm 2006, Việt Nam
đăng cai tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11. Từ ngày 11 tháng
1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Đây là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội
nhập với nền kinh tế quốc tế.Ngày 16 tháng 10 năm 2007, tại cuộc bỏ phiếu
diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính
thức được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.
Đối với TRUNG QUỐC:
Ngày 1-10-1949 nước CHND Trung Hoa thành lập. Năm mươi năm qua, dưới
sự lãnh đạo của ĐCS, nhân dân Trung Quốc đã đoàn kết nhất trí, gian khổ phấn
đấu, xây dựng Trung Quốc từ một nước nghèo nàn lạc hậu thành một nước
XHCN bước đầu phồn vinh thịnh vượng. Đặc biệt là trong 20 năm cải cách mở
cửa vừa qua, với sự chỉ đạo của lý luận Đặng Tiểu Bình, sự nghiệp xây dựng
CNXH ở Trung Quốc đã bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong bài viết ngắn
này, tôi muốn tập trung giới thiệu những thành tựu Trung Quốc đã thu được
trong chính sách mở cửa đối ngoại.
Ngay sau khi nước Trung Hoa mới ra đời, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã chỉ rõ:
nhân dân Trung Quốc mong muốn hợp tác hữu nghị với nhân dân các nước trên
thế giới, khôi phục và phát triển quan hệ thông thương quốc tế, vì công cuộc
21
Trung Quốc trong mậu dịch thế giới từ vị trí 32 năm 1978 vươn lên vị trí thứ 11
năm 1992, năm 1997 lại lên vị trí thứ 10. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã được ưu
22
hoá rõ rệt. Tỷ trọng các mặt hàng chế tạo công nghiệp xuất khẩu trong tổng
ngạch xuất khẩu năm 1978 là 45,2%, năm 1997 tăng lên 86,9%. Năm 1998,
trong tình hình bùng nổ cơn khủng hoảng tài chính châu á kéo dài và xảy ra nạn
lũ lụt nghiêm trọng trong nước, tổng ngạch xuất nhập khẩu mậu dịch đối ngoại
của Trung Quốc vẫn đạt 323,9 tỷ USD, chỉ giảm 0,4% so với năm 1997. Hiện
nay, những đối tác buôn bán với Trung Quốc đã phát triển tới 227 quốc gia và
khu vực. Tính đến cuối năm 1998, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đạt 144,9 tỷ
USD, tăng 5 tỷ USD so với năm 1997.
Sử dụng vốn ngoại đã trở thành một bộ phận quan trọng, gắn liền với nền kinh
tế quốc dân của Trung Quốc. Nhất là từ sau năm 1992 tới nay, lĩnh vực thu hút
vốn ngoại ở Trung Quốc không ngừng được mở rộng, quy mô không ngừng
được gia tăng, trình độ không ngừng được nâng cao. Từ năm 1993 đến năm
1997, trong 5 năm liền, Trung Quốc là nước thu hút vốn ngoại nhiều nhất trong
các nước đang phát triển, so trên toàn cầu thì Trung Quốc chỉ đứng sau Mỹ.
Tính đến cuối năm 1998, đã có 324.712 xí nghiệp vốn ngoại đầu tư trực tiếp vào
Trung Quốc đã được phê chuẩn, tổng số vốn ngoại theo hợp đồng là 572,52 tỷ
USD, tổng số vốn doanh nghiệp hải ngoại đầu tư trực tiếp đã được sử dụng trên
thực tế là 267,45 tỷ USD. Hiện nay có 145.000 xí nghiệp do doanh nghiệp hải
ngoại đầu tư trực tiếp đã đi vào hoạt động, số người làm việc là 17,5 triệu
người.
Nhìn lại quá trình mở cửa đối ngoại ở Trung Quốc 20 năm qua, chúng tôi càng
thấy rõ: không mở cửa, không cải cách, thì sẽ không có lối ra, sự nghiệp hiện
đại hóa đất nước sẽ không có hi vọng. Thế nhưng mở cửa đổi ngoại như thế
nào, lại là một vấn đề cần nghiên cứu cẩn thận, một khi chủ trương chính sách
sai lầm, sẽ dẫn tới những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Qua thực tiễn, chúng tôi
đã rút ra kết luận: Mở cửa đối ngoại không thể xa rời con đường XHCN.
Căn cứ vào đường lối cơ bản của ĐCS Trung Quốc trong giai đoạn đầu của
pháp ngày càng tương đồng với hệ thống luật pháp hiện đại, đặc biệt là phù
hợp với những cam kết quốc tế; giảm dần sự can thiệp vi mô, sự can thiệp
vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, gia tăng quản lý vĩ mô, gia
tăng sự phân quyền cho các địa phương; thực hiện chế độ dân chủ nói chung,
đặc biệt là ở các cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, gia tăng sự giám
sát của các cấp, của công luận, của quốc hội, của hđnd các cấp, của các tổ
chức xã hội, tinh giản bộ máy và biên chế…
24
- Xây dựng các tổ chức xã hội phi chính phủ đa dạng gồm các ngành nghề,
văn hóa, tôn giáo, xã hội… các tổ chức này ngày càng có vai trò to lớn trong
các lĩnh vực mà nhà nước không với tay tới như từ thiện, cứu trợ người
nghèo…
- Hội nhập quốc tế sâu rộng tham gia vào các hầu hết các tổ chức quốc tế,
LHQ các tổ chức khu vực đặc biệt là đã gia nhập WTO, trở thành những
quốc gia tích cực trong hội nhập khu vực ASEAN, Đông Á.
- Bảo đảm sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước trên tất cả các mặt. Sự lãnh đạo và cầm
quyền của Đảng đang được đổi mới theo hướng khoa học, dân chủ và hiệu
quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của TQ,VN.
Tổng kết gần 30 năm cải cách mở cửa của TQ, đại hội XVII Đảng cộng sản
Trung Quốc tháng 10 năm 2007 đã khẳng định: Cuộc cải cách đại mở cửa chưa
từng diễn ra trong lịch sử đã huy động tính tích cực của hàng trăm triêu người
khắp các địa phương, làm cho nước ta thực hiện thành công bước ngoặt lịch sử
vĩ đại từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ sang kinh tế thị trường
XHCN tràn đầy sức sống, từ đóng cửa hé cửa đến mở cửa toàn diện… Thực tế
chứng minh một cách hùng hồn rằng, cải cách, mở cửa là sự lựa chọn then chốt
của vận mệnh Trung Quốc đương đại, là con đường tất yếu phát triển CNXH
đặc sắc TQ, thực hiện chấn hưng dân tộc TQ vĩ đại; chỉ có CNXH mới cứu
được TQ phát triển được cnxh và phát triển được CN Mác.
Tổng kết 20 năm đổi mới của VN (1986 - 2006), Đại hội X của Đảng cộng sản