chuyên đề phân tích vai trò của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong đời sống quan hệ quốc tế hiện nay - Pdf 11

Chuyên đề:
Phân tích vai trò của chủ nghĩa xã hội hiện thực
trong quan hệ quốc tế

Mở đầu
Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu tiên trên thế giới ra đời trong
hoàn cảnh rất đặc biệt, cuộc cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, đến khi kết
thúc chiến tranh thế giới thứ hai. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo tiền đề cho trào
lưu đấu tranh đòi dân chủ phạm vi toàn thế giới, thể hiện ý chí và quyền lực
của nhân dân lao động trên rộng khắp thế giới. Mô hình chủ nghĩa xã hội hện
thực đầu tiên xuất hiện ở Nga, sau khoảng thời gian hơn bảy mươi năm xây
dựng xã hội chủ nghĩa, các nước đã đạt tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật
chất của xã hội trên quy mô lớn. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
được đảm bảo ngày càng tốt hơn. Với công cuộc phát triển kinh tế,văn hóa,
Liên Xô trở thành một nước trình độ học vấn cao. Bước tiến lớn hơn cả về
khoa học, chinh phục vũ trụ, văn hóa,nghệ thuật…chế độ xã hội chủ nghĩa hiện
thực không chỉ mở ra một xu thế mới tất yếu giải phóng dân tộc nó còn đóng
vai trò quan trọng quyết định đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế
giới. Đảng cộng sản Việt Nam đã thấy được vai trò, sự tích cực và vận dụng
mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực là tất yếu. Chủ nghĩa xã hội đã mở ra một
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
1. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra thắng lợi năm 1917 đã khai sinh nhà
nước XHCN đầu tiên trên thế giới, đánh dấu sự ra đời của CNXH hiện thực.
Đây là bước đột phá vĩ đại mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên
CNXH. Với tầm vóc lịch sử lớn lao đó, cách mạng Tháng Mười trở thành biểu
tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với hàng ngàn triệu người bị áp
bức trên hành tinh vùng lên đấu tranh tự giải phóng, đặt nền móng hiện thực
cho xu hướng đi lên CNXH như một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược.
Kể từ khi ra đời đến nay, CNXH đã trải qua những giai đoạn vận động

bước tiến vượt bậc. Liên Xô đã đạt thành tựu rực rỡ trong nhiều ngành khoa
học và dẫn đầu về nghiên cứu, chinh phục vũ trụ cũng như ứng dụng những
thành tựu vật lý nguyên tử vào cuộc sống.
Sự trưởng thành và phát triển của CNXH hiện thực đã đưa tới một thành
quả cực kỳ quan trọng, đó là sự hình thành hệ thống XHCN thế giới - trụ cột
của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. CNXH từ phạm vi một nước trở
thành hệ thống thế giới hùng mạnh bao gồm 15 nước, chiếm 26% diện tích và
30% dân số toàn cầu, đã thực sự chấm dứt thời đại toàn thị CNTB. Hệ thống
XHCN có những cống hiến rất to lớn đối với cuộc đấu tranh chung của nhân
loại tiến bộ vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
3. Những sai lầm cơ bản
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cơ bản không thể phủ nhận, các
nước XHCN do nguyên nhân khách quan và chủ quan đã bộc lộ ngày càng rõ
những khó khăn, hạn chế. Các ĐCS, công nhân cầm quyền đều đã từng phạm
sai lầm, thậm chí một số đảng còn phạm cả sai lầm nghiêm trọng nhưng lại
không được khắc phục kịp thời. Sự trì trệ trong nhận thức lý luận và việc
không tính đến một cách đầy đủ các quy luật khách quan khiến cho không ít
đảng chủ quan, duy ý chí, nóng vội trong thực tiễn xây dựng CNXH. Toàn bộ
điều đó lý giải vì sao công cuộc xây dựng CNXH từ cuối thập niên 70 bị chững
2
lại, hàng loạt nước XHCN đã rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
ngày càng sâu sắc, toàn diện.
Sự phát triển kinh tế theo bề rộng, những bất cập và khiếm khuyết của
cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp đã trở thành vật cản làm cho sản
xuất bị ngưng trệ. Hầu hết các nước XHCN đều chưa chú trọng đúng mức đến
việc tiếp cận và ứng dụng kịp thời thành tựu của cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế theo chiều sâu, nên chưa tạo
ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao. Đầu những năm 80, năng suất
lao động của các nước XHCN bị giảm sút chỉ bằng khoảng 1/2 đến 1/4 của các
nước tư bản phát triển; mức sống của nhân dân bị sa sút lớn. Mặt khác, tồn tại

3
kỳ khó khăn, trắc trở, thậm chí thoái trào. Chính Lênin đã từng vạch rõ nếu
hình dung lịch sử như một con đường thẳng tắp, trơn tru…thì không biện
chứng, không khoa học, không đúng về mặt lý luận. Nhãn quan biện chứng
này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các ĐCS khi nhận thức về vận mệnh
lịch sử và sự vận động của CNXH hiện thực. Quá độ từ CNTB lên CNXH là
một quá trình lịch sử lâu dài, gồm nhiều thời kỳ vận động dích dắc, phức tạp. Do đó,
nhất thiết phải đoạn tuyệt với những ảo tưởng giản đơn, vốn đã từng tồn tại để
không nóng vội, chủ quan; đồng thời cũng không hoài nghi, dao động, bi quan
trước những khó khăn, hạn chế, những sai lầm và biến động phức tạp của
CNXH hiện thực.
Nhận thức rõ tính cấp bách phải khắc phục được những khó khăn, hạn
chế và sai lầm nảy sinh trong thực tiễn xây dựng CNXH, nhiều ĐCS cầm
quyền đã tỏ rõ tính chủ động lịch sử, phát động công cuộc cải cách, cải tổ, đổi
mới. ĐCS Trung Quốc từ cuối thập niên 70 đã tiến hành cải cách, mở cửa, đẩy
mạnh “bốn hiện đại hoá”. Đến giữa thập niên 80, ĐCS Liên Xô phát động cải
tổ, ĐCS Việt Nam khởi xướng đổi mới cùng lúc với tiến trình cải cách ở một
số nước XHCN khác. ĐCS Cuba và Đảng Lao động Triều Tiên cũng bắt đầu
cải cách vào những thời điểm khác nhau của thập niên 90.
Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện cải cách, cải tổ, đổi mới do nhiều
nguyên nhân, nên diễn biến và kết quả của nó ở mỗi nước XHCN không hoàn
toàn giống nhau, thậm chí trái ngược nhau. Cùng hướng tới mục tiêu nhằm
khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra ngày càng gay gắt,
các nước XHCN đã phát động cải tổ, cải cách và đổi mới. Vậy nhưng, cũng
chính từ bước đi cấp thiết và có ý nghĩa quyết định này đối với vận mệnh của
CNXH, thì một số ĐCS lại tỏ ra lúng túng, không tìm ra bước đi thích hợp, dao
dộng hoặc xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây
dựng CNXH, mất cảnh giác trước thủ đoạn chống phá của CNĐQ. Thậm chí,
một bộ phận lãnh đạo chóp bu trượt vào lập trường cơ hội phản bội đã đưa cải
tổ, cải cách lâm vào bế tắc và thất bại. Sự đổ vỡ chế độ XHCN ở Đông Âu và

một số nhà nước XHCN và ĐCS, các ĐCS cầm quyền khẳng định kiên trì
những nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đổi mới và phát triển
sáng tạo lý luận về con đường đi lên CNXH, tăng cường phát triển quan hệ
giữa các nước XHCN trên nhiều lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế,
an ninh quốc phòng. ĐCS Việt Nam cùng với ĐCS Trung Quốc, Đảng Nhân
dân cách mạng Lào, ĐCS Cuba thường xuyên gặp gỡ cấp cao song phương để
trao đổi kinh nghiệm lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH, bày tỏ quan điểm
về nhiều vấn đề quốc tế cùng quan tâm Sự lớn mạnh của các ĐCS cầm quyền
trở thành nhân tố hết sức quan trọng đối với tiến trình lịch sử của CNXH ở mỗi
nước và trên thế giới.
Trung Quốc sau ba thập kỷ cải cách, mở cửa và hiện đại hoá đã có những bước
phát triển mạnh mẽ. Với đường lối lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm và bắt đầu cải
cách từ lĩnhvực kinh tế, Trung Quốc liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao đứng đầu thế
giới. Thành công trong phát triển kinh tế đã tạo điều kiện tăng cường thực lực về mọi
mặt. Trên cơ sở tổng kết sâu sắc những thành tựu, kinh nghiệm cơ bản trong sự
nghiệp cải cách, mở cửa, ĐCS Trung Quốc trên quan điểm phát triển hài hòa,
đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá CNXH, phấn đấu mở ra cục diện mới cho sự
nghiệp xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc.
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã giành được thành tựu to lớn có ý
nghĩa lịch sử. Điều đó khẳng định sự lựa chọn mục tiêu, bước đi của đổi mới là
thích hợp và sáng tạo. Cùng với việc đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Việt
5
Nam không chỉ phát triển kinh tế nhanh, mà còn giữ vững ổn định chính trị -
xã hội, an ninh, quốc phòng, mở rộng quan hệ quốc tế. Việt Nam đang nỗ lực
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hướng tới mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Thêm một lần nữa,
bằng thành tựu của đổi mới, Việt Nam chứng tỏ tính đúng đắn của sự lựa chọn
con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Cách mạng và chế độ XHCN của Cuba tiếp tục được bảo vệ, củng cố bất

bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân (GCCN). Trên cơ sở này,
các nước XHCN có khả năng phát triển quan hệ quốc tế một cách đa dạng,
6
đoàn kết quốc tế rộng rãi, tập hợp lực lượng trên thế giới đấu tranh vì hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II, sự trưởng thành và phát triển mọi
mặt của CNXH hiện thực đã đưa tới sự hình thành hệ thống XHCN làm thay
đổi căn bản tương quan so sánh lực lượng của thế giới nghiêng về phía có lợi
cho hoà bình và cách mạng. CNXH từ phạm vi một nước trở thành hệ thống
thế giới hùng mạnh, xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó mật thiết giữa các
nước XHCN trên nền tảng của chủ nghĩa quốc tế XHCN (thông qua Hội đồng
tương trợ kinh tế và khối Hiệp ước Vacsava), phát huy ảnh hưởng ngày càng
rộng khắp trên các châu lục. Với tương quan lực lượng này, CNXH hiện thực
đóng vai trò là lực lượng đối trọng trước CNTB, buộc CNTB và các thế lực đế
quốc phải thu hẹp trận địa, từng bước phải chấp nhận những nguyên tắc cơ bản
trong quan hệ quốc tế hiện đại là cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ
xã hội khác nhau, tôn trọng độc lập dân tộc, bình đẳng, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau… CNXH hiện thực trở thành lực lượng chủ yếu, là
mũi tiến công quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh chống CNĐQ, tạo chỗ dựa
vững chắc hậu thuẫn phong trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc; ủng hộ
một cách hiệu quả phong trào đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động ở các
nước tư bản chủ nghĩa. Liên Xô vàc các nước XHCN đã xác lập sự cân bằng
lực lượng hạt nhân chiến lược, hình thành cấu trúc của hệ thống quan hệ quốc
tế theo hình thái trật tự thế giới hai cực, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu
tranh bảo vệ hoà bình thế giới, ngăn chặn và làm thất bại những tham vọng
hiếu chiến của CNĐQ trên phạm vi toàn cầu.
Nếu như sự ra đời và phát triển của CNXH hiện thực đã tạo ra những
thay đổi có ý nghĩa bước ngoặt trọng đại đối với đời sống mọi mặt của thế giới,
thì sự khủng hoảng và thoái trào của nó từ cuối thập niên 80 thế kỷ XX cũng
tác động hết sức sâu sắc, toàn diện đến thế giới và quan hệ quốc tế hiện đại.

quốc tế để tăng cường hoạt động áp đặt, can thiệp vào công việc nội bộ của
nhiều quốc gia có chủ quyền.
Như vậy, hệ thống XHCN tan rã khiến cho CNTB chiếm lĩnh đa phần
thế giới và trong lúc không còn địch thủ đáng gờm phải đối mặt, CNĐQ đứng
đầu là đế quốc Mỹ càng ráo riết bành trướng thế lực, đẩy mạnh thực hiện chiến
lược toàn cầu phản cách mạng, mưu toan thao túng hoàn toàn thế giới trong
quỹ đạo của mình. Một mặt, Mỹ và các thế lực đế quốc gia tăng “Diễn biến
hoà bình” nhằm xoá bỏ các nước XHCN còn lại, tăng cường áp lực khống chế
các nước thuộc “thế giới thứ ba”; mặt khác, đẩy mạnh hoạt động chống phá
các ĐCS và các phong trào dân chủ, tiến bộ ở các nước tư bản phát triển
(TBPT). Biểu hiện rõ nhất là sau chiến tranh vùng Vịnh, Mỹ ngày càng tung
hoành ngang ngược với vị thế siêu cường duy nhất, can thiệp trắng trợn vào
công việc nội bộ nhiều nước. Mỹ đã phát động liên tiếp 3 cuộc chiến tranh
dưới danh nghĩa khác nhau chống Liên bang Nam Tư, Apganistan và Irắc bất
chấp Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế cũng như làn sóng phản
đối mạnh mẽ của công luận quốc tế.
Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, phương thức tập hợp lực lượng trên thế
giới đã thay đổi nhanh chóng và cơ bản, bắt nguồn từ những biến đổi về so
sánh lực lượng giữa CNXH và CNTB. Hơn 4 thập niên kể từ sau chiến tranh
thế giới lần thứ II, cuộc đối đầu giữa hai siêu cường Xô - Mỹ đã đưa nhân tố
chính trị - quân sự, ý thức hệ tư tưởng trở thành tiêu chí quan trọng hàng đầu,
quy định cách thức tập hợp lực lượng thế giới. Quan niệm “bạn - thù” cũng trở
nên rạch ròi, lợi ích quốc gia - dân tộc phục tùng nghiêm ngặt lợi ích của phe,
của hệ thống mà quốc gia - dân tộc đó tham gia. Sau khi Liên Xô và hệ thống
8
XHCN tan rã, phương thức tập hợp lực lượng trên thế giới trở nên đa đạng và
linh hoạt. Lợi ích quốc gia - dân tộc, trước tiên là lợi ích kinh tế, nổi lên hàng
đầu chi phối các quan hệ quốc tế hiện đại và quan điểm chính sách đối ngoại
của các nước.
Trước đây, CNXH hiện thực với tư cách chế độ xã hội đối trọng với

với phong trào cách mạng, tiến bộ trên thế giới sau chiến tranh lạnh diễn ra
không như Mỹ dự kiến. Phong trào cộng sản, công nhân quốc tế tuy chưa hoàn
toàn vượt qua khủng hoảng, nhưng có những dấu hiệu phục hồi rõ nét. Các
nước xã hội chủ nghĩa không chỉ tiếp tục đứng vững, mà còn giành được nhiều
thành tựu quan trọng trong cải cách, đổi mới và nâng cao vị thế quốc tế. Các
9
nước này do nâng cao được vị thế quốc tế của mình ngày càng trở thành những
chủ thể quan trọng của các quan hệ quốc tế hiện đại, chủ động đổi mới chính
sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan
hệ quốc tế, hội nhập một cách hiệu quả thiết thực với khu vực và thế giới. Mặt
khác, làn sóng cánh tả lan rộng ngay tại khu vực Mỹ Latinh vốn được coi là
“sân sau” của Mỹ.
Kết luận
Những chuyển động tích cực của phong trào cộng sản, công nhân và
cánh tả trên thế giới, những thành tựu phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập
quốc tế đạt được của các nước xã hội chủ nghĩa đang tác động nhiều mặt đến
cấu trúc mới của hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại. Điều đó đang đóng góp
vào quá trình hình thành một trật tự quốc tế mới theo hướng thật sự dân chủ,
công bằng và cùng phát triển, cũng như vào cuộc đấu tranh chung của nhân
dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Toàn bộ
tình hình nêu trên làm cho không gian địa- chính trị và ảnh hưởng của chủ
nghĩa xã hội được củng cố. Đây thực sự là một nhân tố có ý nghĩa quan trọng,
không thể không tính đến trong tương quan lực lượng thế giới hiện nay.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status