578 Ứng dụng mô hình Hwa Ert-Cheng để phân tích vai trò của nông nghiệp Việt Nam, giai đoạn 1986 – 2004 - Pdf 25


1 PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.
Nông nghiệp, bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp và thủy
sản, là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu
quá trình công nghiệp hoá của các quốc gia đang phát triển, tốc độ tăng trưởng của
ngành nông nghiệp ảnh hưởng nhất định đến tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và vì những mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ (MGDs), các tổ chức quốc tế, các nhà kinh tế học vẫn tiếp tục quan tâm nghiên
cứu, tranh luận, minh chứng, thiết lập những mô hình có ý nghĩa về phương diện lý
thuyết lẫn thực tiễn về mối quan hệ và vai trò của nông nghiệp trong tăng trưởng kinh
tế, phát triển nông thôn, bảo đảm an toàn lương thực thực phẩm, xóa đói giảm nghèo,
nâng cao đời sống của người dân, và bảo vệ tài nguyên - môi trường…
Trong trường hợp Việt Nam, kể từ khi thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam
đã có những chiến lược và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội đầy tham vọng,
nhưng không thành công vì nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là đã quá chú
trọng vào phát triển công nghiệp mà xem nhẹ nông nghiệp. Do vậy, đến năm 1986
Chính phủ Việt Nam đã chính thức áp dụng chính sách Đổi mới toàn diện, từng bước cải
cách về kinh tế để hỗ trợ cho chiến lược phát triển quốc gia theo định hướng. Mục tiêu
xuyên suốt của quá trình phát triển là công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, xây dựng
nền kinh tế độc lập-tự chủ, thích ứng với hội nhập kinh tế thế giới, với một cơ cấu hiện
đại hợp lý công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ. Một trong những mục tiêu chủ yếu của sự
phát triển là xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, giảm bớt
khoảng cách chênh lệch về thu nhập của các hộ gia đình giữa các vùng lãnh thổ và giữa
nông thôn với thành thị đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Chính phủ cũng quan tâm
việc duy trì và phát triển một nền kinh tế bền vững, nhằm tránh xu hướng phát triển

toàn cầu bằng cách tích cực tham gia vào những tổ chức quốc tế như ASEAN (1996),
APEC (1997), ký Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000, và hiện đang
đàm phán gia nhập WTO…
Một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về hiệu quả của công cuộc cải cách
kinh tế ở Việt Nam chính là sự phát triển nông nghiệp theo định hướng thị trường: trong
đó, những vấn đề có ý nghiã quyết định bắt đầu từ việc giao quyền sử dụng đất cho các
hộ nông dân và tự do hóa giá cả vật tư - sản phẩm nông nghiệp. Nhờ vậy, cho đến nay,
ngành nông nghiệp Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng trung bình hàng năm với
3.7%, hiện đóng góp 22% GDP nền kinh tế, giải quyết hàng triệu việc làm ở nông thôn
với một sự chuyển dịch nhẹ: lao động nông nghiệp năm 2004 còn sấp xỉ 58% so với
năm 1985 là 72%. Trước cải cách, Việt Nam phải nhập khẩu lương thực – có năm trên
một triệu tấn, và tình trạng suy dinh dưỡng diễn ra phổ biến với mức độ nghiêm trọng. 1
Số liệu tăng trưởng về việc làm, lao động, thu nhập đầu người (giá 1994) bình quân trong giai đoạn
1986-2004 do tác giả tính toán theo Niên giám Thống kê Việt Nam các năm, có khác biệt nhỏ so với chi
tiết liên quan trong các báo cáo của Chính phủ.
3 Sau cải cách, bằng việc đẩy mạnh các biện pháp thuỷ lợi, khai hoang, tăng vụ, áp dụng
giống mới và chính sách khuyến khích phù hợp, sản xuất lương thực và các nông sản
phẩm đa dạng khác đã tăng trưởng đáng kể giúp Việt Nam bảo đảm được an ninh lương
thực quốc gia, và hơn thế nữa tiến đến xuất khẩu từ những năm cuối thập niên 80. Ngày
nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo,
cà phê, tiêu, điều, cao su và thủy sản… góp phần vào tích lũy ngoại tệ cho quốc gia

ngạch xuất khẩu; năm 2004, riêng kim ngạch xuất khẩu của nhóm bốn mặt hàng gạo, cà phê, cao su và
thủy sản đã chiếm đến 17.3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
3

Lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu mới là lợi thế do nguồn lao động rẻ và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên là chính, trên thực tế những lợi thế này đang mất dần đi.

4 quan ngại khác như vấn đề sở hữu ruộng đất, khoa học-kỹ thuật-khuyến nông trong sản
xuất nông nghiệp, gìn giữ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững v.v…cần
nghiên cứu, giải quyết mà trong phạm vi giới hạn của đề tài về mô hình và vai trò của
ngành nông nghiệp sẽ không thể bao quát hết được.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cá nhân, hay các tổ chức trong và
ngoài nước về vị trí - vai trò của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong những giai
đoạn khác nhau, cũng như về nhiệm vụ - những vấn đề cần giải quyết của nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam cho các năm 2001-2010 hay cho nông nghiệp bền vững với tầm
nhìn 2020. Ở đây, chúng tôi mong muốn góp vào tiếng nói chung đó với luận văn tốt
nghiệp: "Ứng dụng mô hình Hwa Erh-Cheng để phân tích vai trò của nông
nghiệp Việt Nam, giai đoạn 1986-2004". Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi ứng
dụng mô hình kinh tế lượng của Hwa Erh-Cheng để kiểm chứng vai trò nông nghiệp
Việt Nam trong nền kinh tế quốc gia suốt chặng đường chuyển đổi 1986-2004, và xem
xét những chính sách cần thiết để hỗ trợ phát triển nông nghiệp Việt Nam trong một
tương lai gần - giai đoạn 2006-2010.
0.2. Mục đích nghiên cứu.
Trước hết, thiết nghĩ đơn giản nhất và trực tiếp nhất, luận văn nghiên cứu này

Countries (1999); từ website của các cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam và một số tổ
chức quốc tế; ngoài ra còn kế thừa những kết quả nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp
(vai trò và sự đóng góp của nông nghiệp; năng suất ruộng đất và năng suất lao động
nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1976-1999) của TS. Đinh Phi Hổ, Khoa Kinh tế phát
triển, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
0.4. Kết cấu đề tài nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chương chính: thứ nhất,
Vai trò nông nghiệp đối với phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển: lý thuyết, mô
hình và bài học kinh nghiệm; thứ hai, Ứng dụng mô hình Hwa Erh-Cheng để phân tích
ảnh hưởng của tăng trưởng nông nghiệp đối với công nghiệp và kinh tế của Việt Nam
giai đoạn 1986-2004; và thứ ba, Gợi ý chính sách phát triển nông nghiệp, tạo tiền đề đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ nay đến năm 2010. 6 Chương 1 – VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI

Xem Đinh Phi Hổ (2003). Kinh tế nông nghiệp – Lý thuyết và Thực tiễn. Về khía cạnh kinh tế: Xuất
phát từ mức thu nhập bình quân đầu người thấp dẫn đến tích luỹ, đầu tư, và năng suất thấp, rồi trở lại thu
nhập thấp. Về khía cạnh xã hội: Xuất phát từ sinh đẻ nhiều (dân số tăng nhanh) dẫn đến suy dinh dưỡng,
bệnh tật cao, đông con, và đưa đến dốt nát (cơ hội học tập thấp), rồi ảnh hưởng trở lại sinh đẻ nhiều.
7 Thực vậy, nông nghiệp tạo ra phần lớn sản lượng và việc làm trong những giai
đoạn đầu của quá trình phát triển, nên nông nghiệp đã được đề cập trong hầu hết những
lý thuyết về phát triển kinh tế (Peter Timmer, 1988). Qua thời gian, những lý thuyết này
tiếp tục được nghiên cứu, tranh luận và bổ sung, nhưng khái quát có thể phân biệt chúng
theo hai nhóm chính: quan điểm cổ điển coi nông nghiệp như là ngành chỉ đóng góp
“tiêu cực” (khiêm tốn) cho tăng trưởng kinh tế trong những năm 1950 và 1960, và quan
điểm cận đại coi nông nghiệp như là ngành dẫn dắt cho công cuộc công nghiệp hóa
trong những năm 1970 và 1980. Ngoài ra, còn có những quan điểm khác không kém
phần quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn đối với các nước đang phát triển trong quá trình
chuyển đổi kinh tế: lý thuyết thay đổi cơ cấu của trường phái tân cổ điển và mô hình
tăng trưởng kinh tế ở châu Á gió mùa của Harry T. Oshima. Trong chương này, chúng
tôi sẽ tập trung trình bày khung lý thuyết theo những quan điểm và mô hình tăng trưởng
liên quan đến phạm vi của đề tài nghiên cứu.

1.1. Lý thuyết về vai trò của ngành nông nghiệp đối với phát triển kinh tế ở các
nước đang phát triển.
1.1.1. Quan điểm cổ điển: Mô hình hai khu vực của Lewis.
Những lý thuyết gia thuộc trường phái cổ điển, đứng đầu là Adam Smith, David
Ricardo, Thomas Malthus, và đại biểu xuất sắc trong giữa thế kỷ XX là Arthur Lewis
5

nghiệp / thành thị hiện đại (KVCN) có năng suất lao động cao, tiền lương công nhân cao
và tương đối ổn định, do đó có sức thu hút được lao động dư thừa từ KVNN chuyển
sang.
Khởi thuỷ, mô hình Lewis tập trung phân tích sự chuyển dịch lao động từ
KVNN sang KVCN và sự gia tăng sản lượng công nghiệp cũng như nhân dụng KVCN
thời kỳ 1950-1970 ở các nước đang phát triển. Theo mô hình, sẽ có khả năng mở rộng
KVCN mà vẫn không làm suy giảm tổng sản phẩm KVNN, trên cơ sở bảo đảm các điều
kiện: (1) tiền lương công nhân giả định không đổi, tổng sản phẩm công nghiệp tăng, lợi
nhuận của nhà tư bản công nghiệp tăng; tuy nhiên, tiết kiệm từ lợi nhuận trong KVCN
phải được tái đầu tư mở rộng sản xuất; (2) tiền lương trong KVCN cao hơn thu nhập
trung bình ở KVNN (thông thường là cao hơn khoảng 30%) thì sẽ khuyến khích lao
động nông nghiệp (L
A
) chuyển sang lao động công nghiệp (L
I
).
Trong các điều kiện như thế thì khả năng chuyển dịch lao động từ KVNN sang
KVCN là hoàn toàn co dãn. Quá trình này sẽ diễn ra liên tục cho đến khi hết lao động
dư thừa trong KVNN. (Xem Sơ đồ 1.1).
Nếu KVCN muốn tiếp tục thu hút lao động từ KVNN, tiền lương công nhân bây
giờ phải cao hơn vì MPL
A
> 0. Lợi nhuận công nghiệp sẽ giảm. Do đó, để mở rộng sản
xuất và tìm kiếm lợi nhuận, nhà tư bản công nghiệp sẽ lựa chọn yếu tố khác thay thế lao
động (công nghệ thâm dụng vốn chẳng hạn), quá trình tăng trưởng sẽ tiếp diễn.
Mô hình Lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở
tăng trưởng của công nghiệp, thông qua tích luỹ vốn từ thu hút lao động dư thừa của
khu vực nông nghiệp. Quá trình này sẽ tạo nên hai tác dụng: (i) di chuyển bớt lao động
ra khỏi nông nghiệp để bố trí cho công nghiệp, chỉ giữ lại số lao động cần thiết để tạo ra


Y
W
I
W
W
Nguồn: Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hoá từ nông nghiệp: Lý luận, thực tiễn và
triển vọng áp dụng ở Việt Nam; theo Yotopoulos, Pan A. (1996).
Ghi chú: AA’ và I I’ tương ứng là đường cầu lao động nông nghiệp và công nghiệp;
W
A
và W
I
là tiền lương lao động nông nghiệp và công nghiệp; W* là tiền lương cân
bằng ở hai khu vực; E là điểm cân bằng không còn lao động dư thừa trong nông nghiệp.
Trên thực tế, lý thuyết của Lewis được áp dụng để bảo vệ cho việc xây dựng
chiến lược phát triển dựa vào công nghiệp hóa của nhiều nước đang phát triển trong
những năm 1950 và 1960, mà thực tế thấy rõ ràng là khuynh hướng phát triển đô thị
trong những quyết định của các chính phủ về chính sách và đầu tư trong suốt thời kỳ
10 này (Lipton, 1977). Vào năm 1961, mô hình của Lewis được hai nhà kinh tế John Fei và
Gustav Ranis nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện.
6
1.1.2. Quan điểm của trường phái tân cổ điển (New Classical School).
Cuối thế kỷ 19, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ và tác động đến sự hình
thành và phát triển các trào lưu tư tưởng kinh tế mới. Trường phái tân cổ điển xuất hiện

W
I
S
I
D
I

6
Bổ sung của John Fei và Gustar Ranis (1961) cho mô hình của Lewis: (i) Phân tích vai trò to lớn hơn
của nông nghiệp trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá thông qua việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
nâng cao năng suất và sản lượng nông nghiệp; (ii) Giới địa chủ cũng đóng góp vào quá trình tăng trưởng
thông qua việc tích luỹ và đầu tư; (iii) Tỷ lệ lao động thặng dư từ nông nghiệp chuyển sang khu vực công
nghiệp là hàm số của tỷ lệ gia tăng dân số; (iv) Tăng trưởng của vốn trong công nghiệp được qui định bởi
tăng trưởng lợi nhuận trong công nghiệp, thặng dư trong nông nghiệp và tiến bộ kỹ thuật; (v) Ngoại
thương, vay mượn và viện trợ nước ngoài cũng đóng góp quan trọng trong quá trình tăng trưởng.

11 Nguồn : Đinh Phi Hổ (2005), Kinh tế phát triển, chưa xuất bản.
Ghi chú: L
A
và L
I
: lao động trong khu vực nông nghiệp và công nghiệp
TP
A

theo chiều rộng nhằm đa dạng hoá sản xuất, giải quyết nhu cầu lao động – việc làm
ngay tại khu vực nông nghiệp – nông thôn mà không cần dịch chuyển qua khu vực công
nghiệp. Hướng này phù hợp với nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, trình độ kỹ thuật
nông nghiệp tương đối và không đòi hỏi vốn đầu tư lớn như đầu tư cho khu vực công
nghiệp.
12 Giai đoạn 2 - Hướng tới việc làm đầy đủ: Con đường hướng tới việc làm đầy đủ
bao gồm năm bước. Thứ nhất, xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế và xã hội… tạo thêm
cơ hội việc làm trong thời kỳ nông nhàn. Thứ hai, việc làm đầy đủ sẽ làm tăng thu nhập
cho nông dân, từ đó tăng nhu cầu thay đổi cơ cấu sản xuất của bản thân ngành nông
nghiệp (mở rộng chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp). Thứ ba, sẽ tạo việc làm cho các hoạt
động phi nông nghiệp cho các thành viên trong gia đình nông dân. Kế tiếp, đa dạng hoá
tăng việc làm phi nông nghiệp ở các doanh nghiệp (non-agribusiness) với qui mô nhỏ và
vừa. Cuối cùng, liên kết phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ…
Giai đoạn 3 - Sau khi có đầy đủ việc làm: Ở giai đoạn này, thị trường lao động
phát triển, tiền lương thực tế tăng nhanh, hầu hết các nông trại, nhà máy phải thực hiện
cơ giới hoá, thay thế lao động chân tay, năng suất lao động tăng; đất đai giới hạn và
chuyển đổi mục đích sử dụng cho công nghiệp và phát triển đô thị; lao động nông
nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp và phi nông nghiệp nhưng sản xuất nông
nghiệp vẫn tiếp tục tăng để bảo đảm lương thực-thực phẩm, nguyên liệu chế biến công
nghiệp, và tham gia xuất khẩu… Khi đó, nền kinh tế sẽ chuyển sang nền kinh tế công
nghiệp và dịch vụ.
1.1.4. Quan điểm cận đại.
Đầu những năm 1960, đã có một sự nhìn nhận mới trong quan điểm phát triển

này có thể thấy sự đóng góp tích cực của nó ở hai điểm chủ yếu. Thứ nhất, người ta
công nhận rằng có thể nhanh chóng chuyển đổi ngành nông nghiệp truyền thống sang
ngành hiện đại thông qua việc tiếp nhận khoa học-công nghệ, từ đó tạo nên sự đóng góp
lớn cho tăng trưởng chung. Thứ hai, các nhà kinh tế có thể đưa ra những bằng chứng
thực nghiệm xác định một cách rõ ràng mối liên hệ đủ mạnh trong sự tăng trưởng và
nhiều hiệu ứng lan toả của nông nghiệp đối với các ngành phi nông nghiệp. Dưới đây là
những đúc kết thực nghiệm quan trọng.
Johnston và Mellor (1961) xác định rằng nông nghiệp có mối liên hệ trực tiếp và
hữu cơ với các ngành công nghiệp nói chung, công nghiệp chế biến nông sản nói riêng.
Chenery và Syrquin (1975) thiết lập mô hình phân tích vai trò của nông nghiệp đối với
tăng trưởng các ngành phi nông nghiệp. Tương tự, nghiên cứu thực nghiệm trong những
giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, Pryor và Holt (1999), hay Gemmell và cộng sự
(2000) cho biết phần lớn ngành sản xuất công nghiệp có liên quan đến nông nghiệp.

7
Ngoài năm hình thức đóng góp trên, Peter Timmer (1992) còn nhấn mạnh đến vai trò ngày càng lớn của
nông nghiệp trong việc bảo đảm an toàn về lương thực, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng các nguồn tài
nguyên và xóa đói giảm nghèo. Timmer cũng lập luận rằng các chính phủ thường "học qua thực hành"
(learning by doing) và chính nhờ kinh nghiệm điều phối các chính sách phát triển nông nghiệp-nông thôn
mà ngày càng trở nên điêu luyện hơn trong việc đề ra chính sách. Theo ông, tất cả các yếu tố trên đều góp
phần thúc đẩy tăng trưởng chung cho nền kinh tế. Và trong một số công trình nghiên cứu gần đây,
Timmer tranh luận rằng, nói chung, trong các nền kinh tế đang phát triển, mỗi một phần trăm tăng trưởng
trong nông nghiệp thường đi đôi với mức tăng trưởng gần như tương tự trong các ngành phi nông nghiệp.
8
Xem Claudio Bravo-Ortega và Daniel Lederman (2005). Agriculture and National Welfare around the
World: Causality and International Heterogeneity Since 1960. World Bank Policy Research Working
Paper 3499, February 2005. The World Bank. tr.11-12.

kinh tế đòi hỏi đáp ứng hai tiền đề: (i) cung cấp lương thực - thực phẩm với khối lượng
lớn và ổn định; (ii) đồng thời cung cấp lương thực - thực phẩm với giá thấp và ổn định.
Có quan điểm tranh luận rằng đóng góp của nông nghiệp vào lĩnh vực này không
quan trọng, vì sự thiếu hụt lương thực - thực phẩm cho tiêu dùng trong nước có thể giải
15 quyết bằng con đường nhập khẩu. Thực tế, đối với các nước đang phát triển, ngoại tệ rất
khan hiếm, phải dành nguồn ngoại tệ thiếu hụt này
9
cho nhập khẩu thiết bị, công nghệ,
nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và cả những vật tư cần thiết khác cho sản xuất
nông nghiệp. Như vậy, chi phí cơ hội dùng ngoại tệ nhập khẩu lương thực - thực phẩm
rất cao, không khả thi.
Thứ hai, nông nghiệp kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua việc nông nghiệp
cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Đặc
điểm xuất phát của các nền kinh tế đang phát triển là công nghiệp chế biến được coi là
ngành chìa khoá (key sector): điều này thể hiện ở tỷ trọng của ngành công nghiệp chế
biến chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản lượng công nghiệp, sau đó mới mở rộng sang các
ngành khác của công nghiệp. Nền kinh tế cũng đòi hỏi đáp ứng được hai tiền đề: (i)
cung cấp khối lượng lớn nguyên liệu đồng nhất về chất lượng sản phẩm; (ii) cung cấp
nguyên liệu với giá thấp và ổn định.
Vai trò này của nông nghiệp có thể định lượng bằng chỉ tiêu: Tỷ trọng giá trị
nguyên liệu có nguồn gốc từ nông sản so với giá trị sản lượng công nghiệp chế biến.
- Nếu tỷ lệ này tiến gần đến mức 100% : phản ánh trình độ sơ chế, công nghệ thấp
của công nghiệp chế biến, cũng có nghĩa là vai trò nông nghiệp quan trọng.
- Nếu tỷ lệ này tiến gần đến mức 0% : phản ánh vai trò nông nghiệp giảm dần đi.

đoạn phát triển (3)). Các trường hợp có thể xảy ra như sau :
- (1) Giai đoạn đầu công nghiệp hoá ΔLa > 0
- (2) Giai đoạn chuyển đổi: ΔLa = 0
- (3) Giai đoạn phát triển: ΔLa < 0
Lưu ý rằng, trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế khả năng sẽ xảy ra điểm
ngoặt - Turning Point (xem Hộp 1.1). Trong thực tiễn, cần dự báo tốt để hoạch định
chiến lược phát triển kinh tế phù hợp.
Thứ tư, nông nghiệp kích thích tăng trưởng GDP nền kinh tế thông qua việc
nông nghiệp cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá
của các nước đang phát triển, ngành công nghiệp còn non trẻ, xu hướng phổ biến là
công nghiệp thay thế nhập khẩu (để tiết kiệm ngoại tệ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước), trình độ công nghệ thấp, khó cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do vậy,
chủ yếu nguồn thu ngoại tệ trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá là từ xuất khẩu nông
sản phẩm, tuy chỉ xuất khẩu ở dạng nông sản phẩm thô, giá thấp.
Cuối cùng, nông nghiệp đóng vai trò kích thích tăng trưởng nền kinh tế thể hiện
qua việc nông nghiệp cung cấp vốn đầu tư cho nền kinh tế, hoặc trực tiếp, hoặc gián
tiếp.
(a) Về cách trực tiếp: Đó là thông qua thuế đánh vào khu vực nông nghiệp như
thuế đất, thuế xuất nhập khẩu… Đây là nguồn thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn
đầu công nghiệp hóa. Kinh nghiệm của Nhật cho thấy: Thuế đất nông nghiệp chiếm đến
80% nguồn thu ngân sách trong hai thập kỷ đầu quá trình công nghiệp hóa.
17 (b) Về cách gián tiếp: Đó là thông qua chính sách tỷ giá giữa mặt hàng nông sản
phẩm và hàng công nghệ phẩm cũng như vật tư nông nghiệp theo xu hướng cánh kéo
10

Giá cánh kéo giữa công nghiệp và nông nghiệp được đo bằng tỷ lệ giá hàng công nghiệp trên giá hàng
nông nghiệp. Xu hướng giá cánh kéo là một trong những yếu tố quyết định đến sự phân bổ nguồn lực giữa
nông nghiệp và công nghiệp. Nếu tỷ giá cánh kéo biến đổi theo hướng có lợi cho hàng hóa nông nghiệp
thì lượng thặng dư nông nghiệp được giữ lại ở khu vực nông nghiệp-nông thôn càng lớn, và ngược lại.
11
Xem tiểu sử tóm tắt của Simon Kuznets ở phần phụ lục.
18 Mức độ đóng góp của nông nghiệp, sẽ ký hiệu là đối với tăng trưởng
chung của nền kinh tế được xác định bởi biểu thức mang tên Kuznets như sau:
a
GDP%
C
a
GDP%
C
=
1
1
Ya
RnPn
Y
RaPa
Δ
=
Δ

19 Ghi chú: (a) bao gồm Bangladesh, India, Sri-Lanka, Pakistan, Indonesia, Egypt,
Thailand, và Colombia; (b) bao gồm Mexico, Italy, United Kingdom, Japan, USA; (c)
nghiên cứu của Đinh Phi Hổ, (2000).
Như vậy, bằng chứng thực tiễn trên thế giới cho thấy, xu hướng đóng góp của
nông nghiệp vào tốc độ tăng trưởng GDP nền kinh tế là rất quan trọng trong ngắn hạn
và giảm dần tương đối trong dài hạn.

1.3. Mô hình HWA ERH-CHENG (1983) lượng hóa mối liên hệ giữa tăng
trưởng công nghiệp với tăng trưởng nông nghiệp và nền kinh tế.
Như đã đề cập ở phần 1.1,

trong những thập niên 60, 70 và 80, các nhà kinh tế
học đã phát triển lý thuyết về vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tế của các nước
đã và đang phát triển. Điểm tương đồng là họ không phủ nhận vai trò của nông nghiệp.
Nhưng xem xét ở những giai đoạn phát triển khác nhau của các quốc gia, một vấn đề thú
vị dẫn đến tranh luận: Liệu tăng trưởng nông nghiệp vẫn liên quan và duy trì vai trò
quyết định hay quan trọng trong suốt tiến trình phát triển? Đi tìm câu trả lời, một giả
thiết đã được đặt ra: Tăng trưởng nông nghiệp không những ảnh hưởng đến tăng trưởng
chung của nền kinh tế trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa (GDP đầu người thấp) mà
còn tiếp tục ảnh hưởng trong giai đoạn phát triển (GDP đầu người cao).
Bằng công trình thực nghiệm của mình, Hwa Erh-Cheng là một trong những
người ở châu Á đi tiên phong giải quyết vấn đề thú vị đó.
1.3.1. Mô hình HWA ERH-CHENG và những giả định của mô hình.
Xây dựng mô hình:
Để kiểm tra giả thiết nêu trên, Hwa Erh-Cheng (1983)
12
đã

dạng bậc 2) với tốc độ tăng trưởng hàng năm thu nhập bình quân đầu người.
0
2
II
I = α lnY + β (lnY) + ε
I
A
(1.2)
0
2
AA
A= α lnY + β (lnY) + ε
(1.3)
Trong đó, và là các sai số ngẫu nhiên.
I
ε
A
ε
GDP được xem như một biến đại diện cho các giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
Tương quan hồi qui giữa và thể hiện theo phương trình:
I
ε
A
ε
IA
ε = λε + u ,
λ
>0 (1.4)
Trong đó, u cũng là sai số ngẫu nhiên.
Biến đổi và rút gọn các phương trình (2), (3) và (4), ta có:

hiện trong các Bảng 1A và Bảng 1B ở phần phụ lục.
21 Bảng 1C: Kết quả phân tích hồi qui Mô hình Hwa Erh-Cheng

Tham số của các biến độc lập
(biến giải thích)
Phương
trình
hồi qui
Giai đoạn
phát triển
Tham số
trục tung
0
A

lnY (lnY)
2
Hệ số
tương quan
R
2
1 1960-1970 -24.331 -
9.277 *
(2.7)

Kết quả Bảng 1C cho thấy:
-

Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa: tăng trưởng nông nghiệp giải thích đến
0.06% của tăng trưởng công nghiệp (so sánh phương trình hồi qui (1) và (3)).
-

Trong giai đoạn phát triển: tăng trưởng nông nghiệp giải thích đến 0.15% của
tăng trưởng công nghiệp (so sánh phương trình hồi qui (2) và (4)).
-

Trong cả hai giai đoạn, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp có tương quan có ý
nghĩa với tốc độ tăng trưởng nông nghiệp.
1.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia ở châu Á trong việc lựa chọn chiến lược
phát triển nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa.
1.4.1. Phát triển nông nghiệp ở Đài Loan.
Đài Loan đã đầu tư lớn vào lĩnh vực nông nghiệp từ đầu những năm 50, vì phát
triển nông nghiệp được coi là cơ sở quan trọng cho phát triển kinh tế. Năm 1953, chính
phủ Đài Loan đã bắt đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 4 năm lần thứ nhất theo
hướng củng cố tăng trưởng nông nghiệp, phát triển nền kinh tế hiện đại, và nâng cao thu
nhập quốc dân. Chỉ trong vòng hai thập kỷ, Đài Loan đã chuyển từ nền kinh tế chủ yếu
dựa vào nông nghiệp với lao động dư thừa sang nền kinh tế mà công nghiệp giữ vị trí trụ
cột. Chúng ta sẽ xem xét sau đây những bằng chứng của tiến trình đó.
22 Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nếu năm 1952 nông nghiệp chiếm 32% GDP nền


14
Nguồn số liệu ở phần 1.4.1: Đặng Kim Sơn (2001), trích dẫn theo IFPRI, 1985 và Nguyễn Điền 1997.
15
Trong bối cảnh vừa thoát khỏi cuộc nội chiến, xã hội còn bất ổn, Hoa kỳ bắt đầu cắt giảm viện trợ, nên
Chính phủ quân sự Park Chung Hee lên nắm quyền từ năm 1961 buộc phải thiên về kinh tế chỉ huy hơn,
nhưng vẫn tôn trọng những qui luật khe khắt của thị trường. Chính phủ mới đã xây dựng và triển khai Kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1962-1966) theo hướng đó.
23 Vào Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1962-1996, chính sách phát triển nông nghiệp
của Hàn Quốc chú trọng vào việc giải quyết tốt nhất vấn đề tự túc lương thực, và mặt
khác, nông nghiệp phải hỗ trợ tất cả cho chiến lược tăng trưởng công nghiệp định hướng
vào xuất khẩu. Sau khi áp dụng những biện pháp cấp bách để thanh toán số nợ nặng lãi
ở nông thôn (tháng 5/1961) và cải cách thể chế trong nông nghiệp: các hợp tác xã, các tổ
chức tín dụng nông thôn… Chính phủ bắt đầu tiến hành chương trình tự túc lương thực.
Đã có hơn 110.000 ha đất bỏ hoang được qui hoạch và đưa vào sản xuất nông nghiệp,
tăng 6% diện tích đất nông nghiệp; hơn một vạn hộ gia đình thị dân nghèo, vốn là nông
dân bị chiến tranh đẩy ra thành phố nay quay trở lai nông thôn, được huy động vào vùng
đất mới khai hoang. Nhờ những nỗ lực đó, tăng trưởng nông nghiệp đạt mức khả quan
theo mức gia tăng của GDP và tỷ lệ tự túc lương thực đạt đến 90%.
Vào Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1967-1971), tăng trưởng công nghiệp vượt trội,
đất đai được chuyển dần sang cho sản xuất công nghiệp và phát triển đô thị; làn sóng di
dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng gia tăng, nên tăng trưởng nông nghiệp suy
giảm, tỷ lệ tự túc lương thực chỉ còn 69% và có dấu hiệu mất cân đối giữa thành thị và
nông thôn. Vì vậy, đầu những năm 70, chính phủ đã có sự can thiệp mạnh mẽ hơn vào

năng suất nông nghiệp và nâng cao thu nhập. Năm 1989, Chính phủ đưa ra các "biện
pháp tổng hợp phát triển nông thôn" để thúc đẩy các chương trình đó. Năm 1993, Chính
phủ ban hành "Chính sách nông nghiệp mới" (NPA - New Policy on Agriculture): đầu
tư hiện đại hoá quá trình sản xuất và tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, xoá bỏ hạn điền 3
ha mà cải cách nông nghiệp năm 1950 trước đây ấn định, chuyển từ trợ cấp sang bảo hộ
có chọn lọc những sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế, đào tạo nhân lực và nâng cao
trình độ quản lý nông nghiệp mang phong cách công nghiệp.
1.4.3. Phát triển nông nghiệp ở Trung Quốc.
Trung Quốc bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế kể từ năm 1978. Trong hai thập
kỷ, nông nghiệp đã có đóng góp lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế.
Ở giai đoạn 1978-1985, nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh với mức bình quân
hàng năm 9.4%. Chính phủ ban hành chính sách nông nghiệp "tái điều chỉnh, củng cố,
và cải tiến" bao gồm: xác định hộ nông dân là chủ thể kinh tế của khu vực nông nghiệp-
nông thôn; tự do hoá sản xuất-tiêu thụ nông sản phẩm; thực hiện tăng giá nông sản
phẩm chính cũng như sản phẩm ngành nghề phụ ở nông thôn để khuyến khích đầu tư
phát triển sản xuất vào lĩnh vực này. Nhờ đó, nông nghiệp-nông thôn khởi sắc, giải
quyết được vấn đề thiếu ăn thiếu mặc cho đa số người dân, tạo môi trường thuận lợi cho
những cải cách tiếp theo: tăng trưởng bình quân hàng năm là 10.1% (tăng nhanh hơn
công nghiệp), đóng góp 42.3% GDP nền kinh tế.
Ở giai đoạn 1986-1990, chính phủ tiếp tục giảm thiểu rồi tiến đến xoá bỏ sự
kiểm soát giá cả vật tư, nông sản phẩm chính và sản phẩm ngành nghề phụ (áp dụng chế
độ giá thị trường sản phẩm), giảm dần trợ giúp đối với các ngành công nghiệp phục vụ
sản xuất nông nghiệp. Cuối giai đoạn này, khu vực nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng
lớn trong GDP kinh tế với 51.8% nhưng tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp chậm hẳn
lại chỉ còn 5.5% hàng năm (trong khi công nghiệp là 8.4%), lạm phát có nguy cơ gia
tăng, bởi vì các nguồn lực đã bắt đầu chuyển mạnh từ nông nghiệp sang các ngành công
nghiệp và dịch vụ ở đô thị, hay sang các ngành phi nông nghiệp ở ngay nông thôn.

thôn ra thành thị tăng lên với đòi hỏi thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp để tăng năng
suất lao động, và cơ hội tìm kiếm việc làm trong nông nghiệp càng khó khăn, dù cho
nông nghiệp vẫn bảo đảm 40%-50% lực lượng lao động vào năm 1997; (iii) khoảng
cách giữa nông thôn và thành thị không khép lại, thu nhập từ nông nghiệp-nông thôn
còn thấp, kéo theo sự hạn chế đầu tư vào nông nghiệp; và (iv) đáng chú ý là giữa những 17
Nguồn: Viện Thông tin khoa học xã hội (1999), tr. 183-185.

Trích đoạn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) của Đảng đã thông qua Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 với mục tiêu tổng quát là: Tăng trưởng kinh VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn trong tương quan với cơ cấu kinh tế các ngành. Chính sách ngân sách: Tăng tỷ lệ vốn đầu tư cho cơ sở hạt ầng nông nghiệp nông thôn, kể cả lĩnh vực khoa học-kỹ thuật.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status