Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu.
Với hoạt động chính là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận, việc
sử dụng vốn chình là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của Ngân
hàng trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng nhất.
Hoạt động tín dụng (là quan hệ vay mượn gồm cho vay và đi vay) là
hoạt động sinh lời lớn nhất, song đi kèm với nó là rủi ro cao nhất cho các
NHTM. Đối với hệ thống Ngân hàng Việt Nam, kể từ khi chuyển sang cơ
chế thị trường đã không ngừng lớn mạnh và thu được những thành tựu nhất
định, nhưng trong quá trình đó các Ngân hàng đã vấp phải không ít những
rủi ro trong hoạt động kinh doanh gây tổn thất nặng nề.
Ngân hàng Quốc tế Việt Nam- VIB là một ngân hàng sau hơn 10 năm
phát triển đã gặt hái được những thành công nhất định, nhưng cũng như các
ngân hàng khác trong hoạt động kinh doanh của nình còn chứa đựng rất
nhiều rủi ro tiềm ẩn.
Với nhận thức đó, thông qua quá trình tìm hiểu, thực tập tại Ngân
hàng Quốc tế em xin đề xuất đề tài thực tập tốt nghiệp của mình là:
“Sử dụng mô hình ARCH-GARCH để phân tích và đành giá rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng Quốc tế VIB”
Em xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa Toán Kinh Tế trường
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội, và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của
thầy giáo TS Trần Trọng Nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Và em xin cảm ơn các anh chị Phòng Giám Sát Tín Dụng – Ngân hàng Quốc
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
Tế VIBank đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành chuyên đề
này.
thiểu luôn lớn hơn 8%.
Nguồn lực quản lý và hoạt động không ngừng được tăng cường với việc bổ
nhiệm nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực tài chính ngân
hàng và một đội ngũ chuyên viên kinh nghiệm, giàu nhiệt huyết. Hình ảnh của
ngân hàng Quốc Tế trong lòng công chúng và khách hàng được cải thiện đáng
kể bằng nhiều chương trình đổi mới và mở rộng năng lực phục vụ, tăng cường
quảng bá hình ảnh ngân hàng.
Ngân hàng Quốc Tế được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại A theo
các tiêu chí đánh giá hệ thống Ngân hàng Việt Nam do Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ban hành trong nhiều năm liên tiếp và lần thứ 2 được Tập
đoàn Citygroup trao tặng danh hiệu “Ngân hàng hoạt động thanh toán xuất sắc”.
Cuối năm 2005, ngoài hội sở tại Hà Nội, Ngân hàng Quốc Tế có 30 chi
nhánh, Phòng giao dịch tại 9 tỉnh, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang, Đồng Nai, Bình Dương và Cần
Thơ. Trong năm 2006, Ngân hàng Quốc Tế sẽ tiếp tục vươn tầm hoạt động đến
các trung tâm kinh tế mới và nhiều tiềm năng khác trên cả nước với tổng số đơn
vị kinh doanh dự kiến lên đến 60. Mạng lưới ngân hàng đại lý cũng không
ngừng được mở rộng với hơn 2.000 đại lý trên 65 quốc gia trên Thế giới.
Với phương châm kinh doanh “Luôn gia tăng giá trị cho bạn”, cam kết của
Ngân hàng Quốc Tế trong 2006 và những năm tiếp theo là không ngừng gia
tăng giá trị của khách hàng, của đối tác, của cán bộ nhân viên ngân hàng và của
các cổ đông.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
II/ Lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng.
Năm 2005, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao,
mang đến cơ hội phát triển hoạt động kinh doanh cho ngành Ngân hàng Việt
Nam, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tạo điều kiện
cho các ngân hàng thương mại phát triển hoạt động kinh doanh
Cạnh tranh trong nghành ngân hàng cũng ngày càng gay gắt với việc
cấu đầu tư tín dụng và đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Hoạt động
kinh doanh nguồn vốn phát triển tốt, hiệu quả, đảm bảo khả năng thanh
khoản và đủ vốn, ngoại tệ phục vụ khách hàng.
Ngân hàng Quốc Tế đã chủ động trong việc điều chỉnh cơ cấu nguồn
vốn nhằm mang lại lợi ích tối ưu cho các cổ đông nhưng vẫn đảm bảo nguồn
vốn khi mở rộng cho vay chung và dài hạn và nhu cầu rút tiền gửi không kỳ
hạn. Vốn chủ sở hữu đạt 529,787 tỷ đồng, tăng 104,7% so với cuối năm
2004. Vốn tiền lệ tăng lên 510 tỷ đồng không những tạo thêm nguồn vốn
đáp ứng yêu cầu kinh doanh của Ngân hàng Quốc Tế, đặc biệt là nguồn vốn
trung, dài hạn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn khi mở rộng kinh doanh, mà còn
tạo điều kiện để đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngân hàng. Tỷ trọng vồn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn
giảm từ 7,3% trong năm 2004 xuống còn 6,9% trong năm, chứng tỏ khả
năng mở rộng quy mô các cấu thành khác, đặc biệt là tiền gửi từ các tổ chức
kinh tế.
Vốn huy động từ các tổ chức tài chính tại thời điểm 31/12/2005 đạt
2.852,872 tỷ đồng bằng 176,6% so với đầu năm và chiếm 31,7% tổng nguồn
vốn. Trong đó, tiền gửi của các tổ chức tài chính đạt 2.808 tỷ đồng chiếm
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
98% tổng nguồn vốn huy động từ các tổ chức tài chính. Việc tăng vốn điều
lệ lên 510 tỷ đồng cùng với kết quả hoạt động tăng trưởng cao và an toàn, uy
tín giao dịch trên thị trường và các quan hệ hợp tác được duy trì tốt đã dẫn
đến việc các tổ chức tín dụng trong nước và các tổ chức tín dụng quốc tế
đang hoạt động tại Việt Nam tăng hạn mức tiền gửi tại Ngân hàng Quốc tế.
Tiền vay từ các tổ chức tài chính khác giảm xuống so với năm 2004 cũng
góp phần giảm chi phí vốn của ngân hàng.
Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư đạt 5.268,617 tỷ đồng,
bằng 163% so với đầu năm và chiếm 58% tổng nguồn vốn. Đây là một kết
quả rất đáng ghi nhận trong điều kiện Ngân hàng Quốc tế phải đối mặt với
hàng Quốc Tế đã giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn
vốn với chi phí hợp lý để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng năng
suất lao động và tăng sức cạnh tranh. Ngoài ra trong năm 2005, Ngân hàng
Quốc tế tiếp tục đẩy mạnh cho vay tài trợ hoạt động xuất khẩu hàng hoá như
cho vay để doanh nghiệp sản xuất, thu mua hàng hoá xuất khẩu, cho vay
chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu. Dư nợ tín dụng doanh nghiệp tại
thời điểm 31/12/2005 là 3.904 tỷ tăng 152% so với năm và vượt 29,7% với
kế hoạch năm.
Năm 2005, Ngân hàng Quốc tế tập trung đẩy mạnh cho vay tiêu dùng
cá nhân bằng việc tung ra và đổi mới một loạt các sản phẩm tín dụng cá
nhân, bám sát nhu cầu của khách hàng như cho vay mua, sửa chữa nhà đất,
căn hộ chung cư, cho vay mua ôtô, cho vay du học, cho vay mua sắm vật
dụng gia đình. Một loạt các sản phẩm tín dụng nhằm đến các nhóm khách
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
hàng cụ thể cũng được đưa ra cho vay tín chấp cán bộ quản lý điều hành,
cho vay đối với cán bộ nhân viên,…Dư nợ tín dụng cá nhân tại thời điểm
31/12/2005 là 1.351 tỷ tăng 106% với đầu năm.
Hoạt động tín dụng được thực hiện theo phương thức phê duyệt tập
trung, chú trọng chất lượng tín dụng luôn được kiểm soát tốt do hoạt động
tín dụng được tổ chức chặt chẽ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và
các quy định, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng Quốc tế. Tỷ lệ nợ quá hạn
tình đến thời điểm cuối năm chỉ chiếm 0,87% tổng dư nợ, giảm so với mức
1.11% của năm 2004
3/ Hoạt động dịch vụ
Trong năm 2005, song song với việc gia tăng các hoạt động huy động
vốn và tín dụng, hoạt động dịch vụ đã dược quan tâm đặc biệt và được quán
triệt từ Hội sở chính đến từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc tế cả
vè chất và lượng. Tổng thu từ dịch vụ tăng 11,98% và gấp 4 lần so với năm
2004.
Các dịch vụ mang laị giá trị gia tăng cho khách hàng cũng được đầu
tư phát triển. Trên nền tảng công nghệ hiện đại, Ngân hàng Quốc tế bắt đầu
đưa ra những tiện ích tạo sự thuận tiện cho khách hàng khi giao dịch với
ngân hàng như Mobile Banking và Internet Banking .
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
4/ Hoạt động quảng cáo, khuyếch trương và quan hệ công chúng.
Trong năm 2005, việc đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, thương hiệu của
ngân hàng đến công chúng được hoạch định từ đầu năm với các chương
trình hành động cụ thể. Các hoạt động xây dựng thương hiệu được duy trì tốt
trong năm và được phân bố đều trong phạm vi toàn quốc. Sự ổn định về mặt
chất lượng dịch vụ và tình hình tài chính, tổ chức, hoạt động cùng khả năng
phát triển bền vững là những yếu tố giúp thương hiệu Ngân hàng Quốc tế
ngày càng lớn mạnh. Bộ nhận diện thương hiệu Ngân hàng Quốc Tế, hoàn
chỉnh trong năm 2004, tiếp tục được áp dụng thống nhất trên toàn hệ thống
ngân hàng đã tạo ra hình ảnh mới trong mọi hoạt động và giao tiếp của ngân
hàng và là một bước phát triển mang tính chuyên nghiệp trong quản lý hình
ảnh của ngân hàng.
Cũng trong năm 2005, với hàng loạt sản phẩm, dịch vụ gắn bó thiết
thục với đời sống cộng đồng được đưa ra phục vụ khách hàng, nhiều đài báo
trung ương và địa phương đã tham gia viết bài và đưa tin về Ngân hàng và
các sản phẩm của Ngân hàng như: báo Lao Động, Hà Nội mới, Thời báo
Kinh tế Việt Nam, Sài Gòn Giải phóng, Tuổi trẻ, Thanh niên, VietNam Net,
VnExpress…Các chuyên trang, chuyên mục được các báo Đầu tư,Thời báo
Ngân hàng xây dựng nhằm cung cấp thông tin về tiện ích sản phẩm tài chính
ngân hàng cho bạn đọc cũng liên tục viết bài về sản phẩm của Ngân hàng
Quốc Tế.
Với mong muốn hoà nhập vào cộng đồng xã hội, trong năm 2005,
Ngân hàng Quốc tế đã tham gia nhiều chương trình văn hoá, vui chơi giải trí
bổ ích và thu hút nhiều người quan tâm như: “Hãy chọn giá đúng”, “Ở nhà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
nhánh và Phòng Giao Dịch của Ngân hàng Quốc tế đã duy trì tốt các hoạt
động tại các địa bàn đễ kết hợp với các hoạt động quảng bá thương hiệu, sử
dụng tốt công cụ lãi suất, tạo hiệu quả huy động vốn dân cư tăng trưởng cao.
6/ Công nghệ ngân hàng và thông tin
Trong năm 2005, Ngân hàng Quốc tế bắt đầu triển khai Hệ thống ngân
hàng đa năng SYMBOLS do System Access cung cấp – đây là giải pháp
Ngân hàng đa năng trọn gói cung cấp các chức năng cho các hệ thống
nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, ngân hàng bán buôn, ngân hàng Internet và hệ
thống quản lý quan hệ khách hàng. Đây là hệ thống có khả năng mở rộng
cao, đáp ứng cho mô quy mô của ngân hàng.
Năm 2005 cũng là thời điểm Đề án tập trung hoá dữ liệu và giao dịch
trực tuyến của Ngân hàng Quốc tế phát huy tác dụng mạnh mẽ. Tính an toàn
dữ liệu và giao dịch trực tuyến cũng tăng lên đáng kể. Cũng trong năm 2005,
Ngân hàng Quốc tế chính thức ký hợp đồng mua Hệ thống Chuyển mạch Tài
chính và Quản lý thẻ từ Công ty Card Tech Limited (CLM) – Vương quốc
Anh. Giải pháp công nghệ này sẽ giúp VIB đột phá trong lĩnh vực thẻ thông
qua việc cung ứng hàng loạt các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu và
phù hợp với từng nhóm khách hàng.
Viêc trong thời gian qua Ngân hàng Quốc tế triển khai thành công
hàng loạt cá dự án công nghệ đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thanh
toán chất lượng cao mang lại nhiều lợi ích và giá trị gia tăng cho khách
hàng.
7/ Phát triển nguồn lực
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
Nguồn lực quan trọng nhất của ngân hàng là nguồn lực con người và
lợi thế cạnh tranh của ngân hàng cũng là nguồn lực con người, do đó ngân
hàng luôn cố gắng xây dựng một môi trường làm việc cho phép khuyến
khích mọi cán bộ nhân viên phát huy hết khả năng của mình. Ngân hàng
hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
Trong năm 2005, hoạt động đầu tư sinh lợi chủ yếu của Ngân hàng
Quốc tế vẫn là hoạt động tín dụng với đóng góp tới 96,56% tổng thu nhập.
Thu nhập từ các hoạt động dịch vụ trong năm 2005 đạt 33.178 triệu
đồng. Để đạt được kết quả trên, toàn hệ thống Ngân hàng Quốc tế đã chú
trọng tìm kiếm các nguồn vốn chi phí thấp, đồng thời mở rộng khách hàng
tín dụng an toàn để tối ưu hoá sử dụng nguồn vốn.15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
Chương 2
Lý thuyết về rủi ro
I/ Rủi ro trong hoạt động ngân hàng
1/ Khái niệm.
Mọi hoạt động của con người đều đưa tới hai khả năng, hoặc sẽ đem lại
những kết quả thuận lợi như mong muốn, hoặc sẽ mang lại kết quả không
như mong đợi. Khi làm bất cứ việc gì con người ai cũng muốn đạt được kết
quả tốt, tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào cũng được như ý. đôi khi
người ta gặp phải biến cố ngoài ý muồn gây tổn thất ngoài dự kiến - điều
này cũng có nghĩa là họ đã gặp rủi ro. Vậy rủi ro là gì?
“Rủi ro là những khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến”
Bất kỳ một hoạt động, một thành phần, một hoàn cảnh nào đều có nguy
cơ gặp phải rui ro. Đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
luôn luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Ngân hàng Thương mại là loại
doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt - hàng hoá tiền tệ. Đa phần trong
đó là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu. Nguồn tiền cua các NHTM
đang có thay đổi mạnh mẽ do có gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân
hàng, giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính dưới ảnh hưởng của công
nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hoá. Các nguồn tiền gửi của các cá nhân
thể xảy ra cho các Ngân hàng bất cứ lúc nào, với bất kỳ món vay nào và nó
có thể làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của Ngân hàng, nặng hơn nó có
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
thể khiến Ngân hàng đi đến bờ vực của sự phá sản, gây hậu quả nặng nề cho
Ngân hàng.
2.2/ Rủi ro lãi suất.
Lãi suất là giá cả của sản phẩm Ngân hàng hay cũng chính là chi phí để
vay, là giá phải trả cho việc chuyển quyền tạm thời sử dụng vốn trong một
thời gian nào đó.
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất
thay đổi ngoài dự kiến.
Trong quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng tồn tại hai loại
lãi suất: lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay. Cả hai loại lãi suất trên
đều biến động theo quy luật cung cầu của thị trường. Do đó, mọi sự thay đổi
của lãi suất đều có thể tác động đến việc làm tăng giảm thu nhập, chi phí và
lợi nhuận của Ngân hàng, điều đó cũng có nghĩa là Ngân hàng cũng thường
xuyên phải đối đầu với khả năng gặp phải rủi ro lãi suất.
Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất là do sự không cân xứng giữa các tài
sản nợ và có. Nếu ngân hàng dùng các tài sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào các
tài sản có dài hạn thì khi lãi suất ngắn hạn tăng lên, trong khi lãi suất đầu tư
vẫn giữ nguyên, ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Ngược lại, nếu ngân hàng dùng tài
sản nợ dài hạn để đầu tư vào tài sản có ngắn hạn thì khi lãi suất đầu tư giảm
ngân hàng cũng có nguy cơ gặp rủi ro.
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như:
• Do bất lợi trong cạnh tranh, buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huy
động và hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, do đó làm tăng chi
phí và làm giảm thu nhập của ngân hàng.
• Do cung tiền tệ nhỏ hơn cầu tiền tệ nên ngân hàng phải tăng lãi suất
18
khoán bằng ngoại tệ…Rủi ro hối đoái là sự lỗ tiềm tàng cho các NHTM. Khi
tỷ giá ngoại tệ biến động thì giá trị tài sản có ròng bằng ngoại tệ thay đổi và
rủi ro ngoại hối xảy ra khi giá trị này âm. Điều này xảy ra trong 2 trường
hợp đó là trạng thái “trường” và “đoản” về hối đoái. Nếu ngân hàng ở trạng
thái ngoại tệ “trường” thì khi ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ có lãi, ngược lại
ngân hàng sẽ bị lỗ nếu ngoại tệ đó xuống giá. Nếu ngân hàng đang ở trạng
thái “đoản” về ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ lên giá ngân hàng sẽ bị lỗ và
ngược lại.
2.5/ Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài
sản (nội bảng). Các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các
chứng khoán hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc ngân hàng phát hành các chứng
khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp nhưng lại có thể ảnh hưởng đến trạng thái
tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, vì các hoạt động ngoại bảng có
thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng.
Xuất phát từ hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được phí trong khi
không sử dụng đến vốn kinh doanh nên các hoạt động này ngày càng phát
triể, đi cùng với nó là những rủi ro tiềm ẩn. Có trường hợp rủi ro trong
trường hợp ngoại bảng là nguyên nhân dẫn đến ngân hàng phá sản. Nhưng
thông thường các hoạt động ngoại bảng tham gia tích cực trong phòng ngừa
rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất…
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
2.6/ Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là rủi rođầu tư nước ngoài mà khi ngân hàng gặp phải
khi đầu tư bản tệ cho cá công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài. Rủi ro
quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng trong trường
hợp ngân hàng đầu tư cho các công ty nội địa, vì khi rủi ro xảy ra ngân hàng
hầu như không thể thu hồi lại một phần vốn nào.
2.7/ Rủi ro công nghệ và hoạt động.
của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều
cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích
đáng. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro là không thể
tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điếm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là
bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại
trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt
động chung của ngân hàng.
2/ Rủi ro tín dụng
2.1/ Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng:
Nguyên nhân bất khả kháng.
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ
mất khả năng thanh toán cho ngân hàng. Ví dụ: thiên tia, chiến tranh hoặc
những thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào
thuế quan…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người
cho vay, tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho người cho vay. Tuy
nhiên, khi tác động của những nguyên nhân này đến với người vay thì khả
năng trả nợ của họ đều bị suy giảm.
Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay.
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh
doanh, yếu quản trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng…là
nguyên nhân gây rủi ro tín dụng. Rất nhiều người vay mạo hiểm với kỳ vọng
thu được lợi nhuận cao. Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm
mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai, mua
chuộc…Nhiều người vay đã không tính toán kĩ lưỡng hoặc không có khả
năng tính toán kĩ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng
thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh. Có trường hợp doanh
rủi ro cho từng loại sản phẩm…
Hiện nay các ngân hàng thường sử dụng một số chỉ tiêu sau để đánh
giá rủi ro tín dụng:
• Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: đây là chỉ tiêu thường
được sử dụng nhất để đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng.
- Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã
đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Đây là khoản
vay mà ngân hàng xếp vào khoản vay có vấn đề. Nợ quá hạn có
hai loại: nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không
có khả năng thu hồi.
- Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / tổng dư nợ *100%.
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa: Toán Kinh tế
• Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ đòi trên tổng dư nợ.
• Nợ có vấn đề.
• Tính đa dạng hoá của tài sản.
• Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của người
vay) hoặc xếp hạng tín dụng người vay.
• Đảm bảo tiền vay.
• Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
• Môi trường hoạt động của người vay.
• Các chỉ tiêu khác: bên cạnh nợ quá hạn và nợ khó đòi, nhà quản lý
ngân hàng còn sử dụng các hình thức đo rủi ro tín khác, gắn liền với
chiến lược đa dạng hoá tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập quỹ dự
phòng, đặt giá đối với các khoản cho vay…
Điểm của khách hàng: ngân hàng phân tích tình hình tài chính, năng
lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn…để lập hồ sơ về khách hàng,
xếp loại và cho điểm. Dựa vào các dấu hiệu này ngân hàng có thể thấy được
phần nào rủi ro “tiềm ẩn” của khách hàng.