Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
A. NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI KHOA HỌC HIỆN THỰC
1. Cách mạng tháng 10 Nga và mô hình CNXH hiện thực đầu tiên trên thế giới:
a. Cách mạng tháng 10 Nga:
+ Thời gian xảy ra :
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là một sự kiện lịch sử đánh dấu sự ra
đời của nhà nước Nga Xô Viết. Cách mạng tháng Mười nổ ra vào ngày 24 tháng 10
năm 1917, do Vladimir Ilyich Lenin và Ðảng Bolshevik lãnh đạo. Cách mạng tháng
Mười thành công vào ngày 7 tháng 11 năm 1917.
+ Kết quả :
Cách mạng tháng Mười đã hoàn thành sứ mệnh đánh đổ giai cấp tư sản và giai
cấp phong kiến địa chủ, giành chính quyền về tay vô sản và nhân dân lao động.
Ngay trong đêm 7 tháng 11 năm 1917 (25 tháng 10 theo lịch Nga), Đại hội Xô
Viết toàn Nga lần thứ hai tuyên bố khai mạc tại điện Smoniyl và tuyên bố thành lập
chính quyền Xô Viết do Lenin đứng đầu. Các sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô
Viết đã được thông qua là Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất. Chính quyền Xô
Viết còn thực hiện các biện pháp thủ tiêu các tàn tích của chế độ cũ như xóa bỏ sự
phân biệt đẳng cấp, những đặc quyền của giáo hội, nam nữ bình đẳng. Đối với các
dân tộc, chính phủ Xô Viết công bố bản Tuyên ngôn về quyền các dân tộc ở Nga
khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc và cho phép các dân tộc có quyền tự
quyết như công nhận nền độc lập của Ba Lan, Phần Lan. Các cơ quan trung ương và
Xô Viết các địa phương được thành lập. Tháng 12 năm 1917, Hội đồng kinh tế quốc
dân tối cao được thành lập nhằm xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ngày 3
tháng 3 năm 1918, nước Nga Xô Viết kí Hòa ước Brest-Litovsk với các nước phe
Liên minh Trung tâm chính thức rút khỏi Thế chiến thứ nhất.
Lớp 7 K34 1
và nhân dân lao động Nga tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Mười, khai
sinh Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, đánh dấu một bước ngoặt to
lớn trong lịch sử thế giới, kết thúc cả một thời kỳ lịch sử do giai cấp bóc lột kế tiếp
Lớp 7 K34 2
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
nhau thống trị nước Nga, mở đầu một thời kỳ lịch sử của giai cấp công nhân và nông
dân lao động Nga đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, xây dựng nền chuyên chính
vô sản. Mặt khác, nó đã làm đảo lộn hoàn toàn chiến lược toàn cầu của Mỹ và các
nước đồng minh của Mỹ. Thể hiện tính ưu việt của Chủ nghĩa xã hội xây dựng và
phát triển kinh tế , quốc phòng vững mạnh, nâng cao đời sống của của nhân dân.
Đối với Việt Nam, sự ra đời của Liên Xô có ý nghĩa trọng đại, soi sáng và thức
tỉnh con đường cách mạng Việt Nam: Giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Nhờ vậy, con tàu cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao ghềnh thác, giành được
những thắng lợi mang ý nghĩa thời đại và đang tiếp tục vững bước trên con đường
đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Mô hình đầu tiên của chủ nghĩa xã hội ra đời trong bối cảnh đặc biệt. Điều kiện
xây dựng một chế độ mới cực kỳ khó khăn và phức tạp. Chiến tranh thế giới thứ
nhất kết thúc, nhân dân Liên Xô phải gánh chịu những hi sinh và tổn thất hết sức to
lớn. Đây là cuộc chiến tranh tàn khốc và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại, số
người Nga thiệt mạng lên đến 20 triệu người, nền kinh tế vốn lạc hậu lại bị tàn phá
nặng nề. Sau đó nước Nga phải trải qua 4 năm nội chiến đầy khốc liệt (1918 – 1921)
chống lại lực lượng phản cách mạng nổi dậy khắp nơi trong nước, tiếp đó là chiến
tranh can thiệp của 14 nước đế quốc và bị bao vây, cấm vận về kinh tế, vừa có thù
trong, vừa có giặc ngoài.
Từ năm 1918 đến mùa xuân 1921 để đảm bảo cung cấp lương thực cho quân
đội, cho tiền tuyến, cho công nhân và cho nhân dân thành thị trong điều kiện lương
thực cực kỳ khan hiếm, Đảng Cộng sản Nga, Đứng đầu là Lênin đã đề ra Chính sách
cộng sản thời chiến, nhằm huy động mọi tài nguyên trong nước cho nhu cầu của tiền
tuyến. Là một chính sách đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế bị tàn phá nặng nề,
Trong giai đoạn thực hiện chính sách kinh tế mới, sản lượng nông nghiệp
không chỉ hồi phục ở mức đã đạt được trước cách mạng mà còn tăng trưởng mạnh.
Việc phá bỏ các lãnh địa gần như phong kiến tại các vùng nông thôn ở thời Sa
Hoàng trước đây cho phép nông dân có được sự khích lệ lớn nhất từ trước tới nay để
tăng cao sản xuất. Kết quả của là Liên bang sô viết trở thành nhà sản xuất lúa gạo
lớn nhất thế giới.
+ Đọc thêm:
* Chính sách cộng sản thời chiến bao gồm :
1. Tất cả nền công nghiệp được quốc hữu hóa và áp dụng cơ chế quản lý tập
trung nghiêm ngặt.
2. Độc quyền nhà nước về ngoại thương.
3. Kỷ luật nghiêm khắc đối với người lao động.
4. Nghĩa vụ lao động công ích bắt buộc áp dụng cho "tầng lớp không lao động".
Lớp 7 K34 4
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
5. Phân chia lương thực – trưng thu thặng dư nông sản từ nông dân theo giá trị
tối thiểu để phân phối tập trung cho dân số còn lại.
6. Lương thực và phần lớn hàng hóa được phối cấp và phân phối theo phương
thức tập trung.
7. Xí nghiệp tư nhân là bất hợp pháp.
8. Quản lý đường sắt theo dạng quân sự.
* Chính sách kinh tế mới bao gồm :
1. Lấy thương nghiệp làm khâu trung tâm để khôi phục kinh tế.
2. Thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực.
3. Thực hiện chính sách nông dân được tự do trao đổi nông sản
4. Đặt các xí nghiệp nhà nước trên cơ sở hạch toán kinh tế.
5. Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước và tô nhượng cho tư bản nước ngoài
nhằm phục vụ lợi ích xây dựng chủ nghĩa xã hội.
6. Nhà nước sử dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ và tác động một cách có kế
hoạch để lãnh đạo và quản lí nền kinh tế quốc dân
xây dựng hoặc thuê các xí
nghiệp vừa và nhỏ, khuyến
khích TB nước ngoài đầu tư
vào Nga
+ Thương nghiệp và tiền tệ:
Cho phép tư nhân được tự do
buôn bán, cho mở lại các chợ.
Phát hành đồng Rúp mới .
Tác dụng + Đánh bại cuộc tập kích
của liên minh 14 nước đế
quốc và nội phản.
+ Bảo vệ nguyên vẹn
thành quả của CM tháng
10.
+ Đưa nước Nga thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế và chính
trị.
+ Khuyến khích nhân dân sản
xuất, tăng năng suất lao động.
Hạn chế + Trầm trọng hóa hậu quả
của chiến tranh.
+ Mất cân đối dân cư giữa
thành thị và nông thôn.
+ Gây ra nạn đói cuộc
đình công của công nhân
và nổi loạn của nông dân.
+ Sự sụt giá tư bản có sản
lượng kém
+ Mất cân bằng giữa cầu và
cung tiền, gây ra sự độc
cốt đã phát triển mạnh mẽ, trở thành thành trì của hoà bình và cách mạng thế giới.
Để chỉ rõ những điều cơ bản trong phát triển của chủ nghĩa xã hội từ giữa thế kỷ 19
đến nay, ta tách biệt ra các giai đoạn phát triển như sau:
Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn Mác và Ăngghen hình thành lý luận khoa học
về chủ nghĩa cộng sản, tổ chức phong trào cộng sản quốc tế (Quốc tế I) và bước
chuyển sang việc thành lập các đảng công nhân ở các nước châu Âu. Đây là giai
đoạn từ giữa thế kỷ 19 đến năm 1917. Khoa học về chủ nghĩa cộng sản là học thuyết
khoa học thường xuyên phát triển và không ngừng được làm phong phú thêm bằng
tri thức khoa học và thực tiễn. Do vậy, học thuyết cộng sản chủ nghĩa luôn mang
tính mới mẻ, sống động và hiện đại.
Giai đoạn thứ hai là bước chuyển từ lý luận khoa học sang thực tiễn của chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, là việc thực hiện cách mạng chính trị, xã hội vĩ
đại nhất thế kỷ 20 – Cách mạng Tháng Mười Nga. Đây là giai đoạn của chủ nghĩa
xã hội thực tiễn ở một nước từ năm 1917 đến giữa thập niên 40 của thế kỷ 20. Đây
là thời kỳ tốt nhất trong phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô – thời kỳ Lênin
Lớp 7 K34 7
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
(1917 - 1924), thời kỳ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội.
Đây cũng là thời kỳ giải quyết nhanh chóng những mâu thuẫn gay gắt, nâng cao tối
đa hoạt động sáng tạo của quần chúng nhân dân và của đảng cầm quyền. Mối liên hệ
mật thiết và thường xuyên giữa đảng với quần chúng đã góp phần phát huy sức
mạnh của nguồn năng lượng khổng lồ của nhân dân. Đảng và quần chúng trở thành
một khối thống nhất. Chính thực tế này đã nâng cao uy tín và ảnh hưởng của chủ
nghĩa xã hội ở nhiều nước trên thế giới.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn hàng loạt nước đi theo con đường chủ nghĩa xã
hội sau Thế chiến thứ 2. Đây là một bước nhảy vọt cách mạng, lớn về chất trong
phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới. Thế giới được phân chia ra
thành 2 hệ thống xã hội đối lập nhau – chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Chủ
nghĩa xã hội đã mang tính toàn cầu. Việc tạo dựng thế giới xã hội chủ nghĩa đã kích
thích phong trào giải phóng dân tộc phát triển ở các nước thuộc địa, làm cho hệ
ra kết luận : Với tư cách một cơ thể sống luôn phát triển, chủ nghĩa xã hội không thể
không liên tục cần được cải biến, đổi mới thực hiện kết hợp những bước thay đổi về
lượng và nhảy vọt về chất một cách thích ứng.
'$()* Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga, với sự lãnh
đạo của Đảng Mácxít đứng đầu là Lênin, đã lật đổ nhà nước của giai cấp tư sản,
thành lập nhà nước cách mạng, thực hiện quyền làm chủ của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động các dân tộc trên thế giới, đã biến CNXH từ học thuyết lí luận
thành hiện thực, đã hiện thực hóa lý tưởng về một xã hội mới – XHCN, mà trước đó
chỉ là những ước mơ. Chủ nghĩa xã hội hiện thực tuy vấp phải một số sai lầm, thất
bại cũng như có những thời kỳ thoái trào, khủng hoảng trong lịch sử phát triển của
nó nhưng cũng không thể phủ nhận được sự thật là Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa khác đã có một thời phát triển mạnh mẽ rực rỡ và đạt được những thành tựu to
lớn.
c. Những thành tựu của CNXH hiện thực:
Cho dù lịch sử có biến động như thế nào, dù ai đó có cố tình xuyên tạc sự thật
và mặc dù mô hình kế họach hóa tập trung ở Liên Xô và những nước XHCN đã sụp
đổ trong những năm gần đây, người ta cũng không thể phủ nhận rằng Liên Xô và
những nước XHCN đã có một giai đọan phát triển rực rỡ và đạt được những thành
tựu to lớn.
CNXH đã từng bước đưa nhân dân lao động lên làm chủ xã hội, thúc đẩy trào
lưu đấu tranh cho quyền tự do dân chủ trên tòan thế giới. Nó chấm dứt sự thống trị
của các chế độ, các giai cấp áp bức, bóc lột và mở ra một kỉ nguyên mới về chất
trong sự phát triển của nền văn minh nhân loại – giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trở thành lực lượng trung tâm trong một chế độ xã hội mà nhân dân lao động
làm chủ.
Lớp 7 K34 9
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chế độ xã hội chủ nghĩa
được thiết lập, chế độ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động, thực hiện ngày
càng đầy đủ những quyền dân chủ, ngăn ngừa và trấn áp những hành vi xâm phạm
mù chữ CNTB đã mất 180 năm đối với nam giới và 280 năm đối với nữ giới. Liên
Lớp 7 K34 10
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
Xô năm 1917 từ một đất nước có 3/4 dân số mù chữ, thì đến năm 1987 trở thành đất
nước có trình đô học vấn cao nhất thế giới (78% dân cư có trình độ trung học và đại
học, chiếm 1/4 số lượng các nhà khoa học và 1/5 phát minh khoa học trên thế giới).
Hệ thống y tế và bảo vệ sức khỏe nhân dân được phát triển rộng rãi.
Liên Xô và các nước XHCN khác trước đây đã đạt được những bước tiến lớn
trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chinh phục vũ trụ, có tiềm lực quân sự và công
nghiệp quốc phòng hùng mạnh.
VD: Về khoa học - kĩ thuật Liên xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh
nhân tạo (1957), mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của lài người; năm 1961 ,
phóng con tàu vũ trụ của loài người bay vòng quanh trái đất. Liên xô cũng là nước
đứng đầu thế giới về những chuyến bay dài ngày trong vũ trụ. Như vậy, đến đầu
những năm 70 của thế kỉ XX, Liên xô đã đạt được thế cân bằng chiến lược về sức
mạnh lực lượng hạt nhân nói riêng với Mĩ và các nước phương Tây
Trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học và công nghệ, các nước
XHCN cũng đạt được những thành tựu hết sức to lớn.
Với sự lớn mạnh tòan diện, CNXH có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính
trị thế giới, đóng vai trò quyết định trong sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa
đế quốc, mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên
CNXH trên phạm vi tòan thế giới. Sự ra đời, phát triển của Liên Xô và hệ thống xã
hội chủ nghĩa thế giới sau Chiến tranh thế giới II đã tạo ra sự thay đổi tương quan
lực lượng có lợi cho lực lượng cách mạng, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, phong
trào dân chủ và hòa bình.
CNXH hiện thực chính là lực lượng đấu tranh tích cực để bảo vệ, củng cố nền
hòa bình thế giới; ngăn chặn và làm thất bại nhiều âm mưu xâm lược và gây chiến
tranh hủy diệt của chủ nghĩa đế quốc. CNXH hiện thực trên thế giới sau cách mạng
tháng mười Nga đã giải phóng hàng trăm triệu người thóat khỏi tình cảnh nô lệ, phụ
quốc, Ăngghen qua đời, phong trào chủ nghĩa lại lâm vào khủng hoảng lần thứ hai.
Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin,
Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản được thành lập, chấm dứt khủng hoảng lần hai.
Cuối thế kỉ 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
đi vào thời kì khủng hoảng.Trong vòng 2 năm ( 1989 – 1991), Liên Xô và sáu nước
Đông Âu sụp đổ hoàn toàn, cả Mông Cổ và Anbani.
2. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ
Nguyên nhân sâu xa là q
uan niệm giáo điều về CNXH.
Trước hết, là do quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ
giữa sản xuất và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây
dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu
kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực
Lớp 7 K34 12
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được
tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Chậm đổi mới cơ
chế kinh tế, hệ thống quản lý.
Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã
biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh thế giới
lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa,
từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế
thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao
động.
Thời kỳ 1865-1885 là thời kỳ mà những mâu thuẫn của xã hội Liên Xô đã chín
muồi và phát tác gây những hệ quả xấu cho nền kinh tế và đời sống tâm lý, chính trị,
xã hội của nhân dân. Trong kinh tế, nền sản xuất duy trì theo phương thức kế hoạch
hóa và bao cấp không tạo được kích thích quyền lợi của người sản xuất nên kỷ luật
hoặc tư pháp thì luôn song hành với đảng ủy. Sự lãnh đạo của Đảng là trực tiếp. Hệ
thống chính trị như vậy của nhà nước Liên Xô làm xã hội Xô viết mang đặc tính tập
trung quyền lực rất lớn của Đảng. Có lúc nào đó đặc tính này có thể mang lại tác
dụng tốt nhưng đồng thời nó là nguyên nhân rất dễ dẫn đến các hiện tượng lạm dụng
quyền lực của các cấp đảng vì các cấp ủy đảng thực tế gần như không bị nhân dân
kiểm soát vì Đảng vừa làm ra pháp luật và vừa thi hành pháp luật, mà hệ quả là hiện
tượng vi phạm các quyền tự do của công dân được hiến pháp quy định, cũng như
các tiêu cực khác ví dụ tình trạng không quy được trách nhiệm cá nhân.
Đánh giá quá cao CNXH hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư bản,
chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các
bước đi của tiến trình xây dựng CNXH (như quan điểm của Liên Xô về “CNXH đã
hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “CNXH phát triển” ),
không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên CNXH. Thời kì này đã hình thành một quan niệm về thời đại dựa trên
những ảo tưởng có thể nhanh chóng thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và thúc đẩy một cách
chủ quan quá trình cách mạng XHCN, không phù hợp với quy luật khách quan của
sự phát triển xã hội.
Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên cản trở sự cải tổ, cải cách, đổi
mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ XHCN suy yếu, rơi vào khủng
hoảng. Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ XHCN, mà
do quan niệm giáo điều về CNXH.
Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ
1
Một là, trong cải tổ Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm
trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là đường lối hữu khuynh, cơ
1
Nguồn tham khảo http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2009/10/204711/ và tài liệu “Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác Lênin”
Lớp 7 K34 14
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
khoa học, kỹ thuật mới được chủ nghĩa tư bản đi trước.
Khuyết tật lớn của mô hình là đã tuyệt đối hóa cơ chế kế hoạch hóa tập trung
cao, tuyệt đối hóa nguyên tắc tập thể, coi nhẹ vai trò chủ động và sáng kiến cá nhân,
chối từ một cách chủ quan duy ý chí nền sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường, thực
Lớp 7 K34 15
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
hiện chế độ bao cấp tràn lan, triệt tiêu động lực lợi ích trực tiếp, do đó triệt tiêu tính
chủ động, sáng tạo của các đơn vị kinh tế và cá nhân người lao động. Hậu quả của
sự kéo dài cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp là nền kinh tế Liên Xô từ chỗ là một
nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới với sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật đạt
nhiều đỉnh cao, đã lâm vào tình trạng trì trệ, tốc độ phát triển chậm dần, sức sản xuất
ngày càng tụt hậu, hiệu quả kinh tế ngày càng thua kém các nước tư bản, đời sống
nhân dân ngày càng khó khăn, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Trong
khi gặp khó khăn về kinh tế, nhà nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh nhất này vẫn
phải dành một tỷ lệ ngân sách quá lớn cho quốc phòng trước sự thách thức chạy đua
vũ trang của Mỹ.
Sai lầm, khuyết tật gắn với mô hình cũ không chỉ trên lĩnh vực kinh tế. Nó còn
thể hiện ở hệ thống chính trị, ở phương thức lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản lý của
nhà nước, ở quan hệ giữa Ðảng và Nhà nước với nhân dân. Một trong những khuyết
điểm lớn của mô hình cũ là không phát huy được tính ưu việt của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm nghiêm trọng. Chủ nghĩa quan
liêu hoàn toàn trái ngược với bản chất chủ nghĩa xã hội, nhưng với cơ chế cũ thì
không có cách gì ngăn chặn sự phát triển của nó.
Do chậm đổi mới cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý, hệ thống chính trị và mối quan
hệ gắn bó với nhân dân, nên hậu quả là Liên Xô đang trên đà rút ngắn khoảng cách
về trình độ phát triển kinh tế so với các nước tư bản phát triển thì từ giữa những năm
70 tình hình diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Sự thua kém rõ rệt của Liên Xô thể
hiện trong lĩnh vực công nghệ và năng suất lao động. Mà đây lại là yếu tố như Lê-
nin nói, xét đến cùng quyết định thắng lợi hoàn toàn của chế độ mới.
Chủ nghĩa giáo điều, sự xơ cứng trong tư duy lãnh đạo dẫn tới chậm phát hiện
danh cải tổ với khẩu hiệu dân chủ hoá, công khai hóa trong bộ phận lãnh đạo cấp
cao đã hình thành các phe nhóm. Với chiêu bài phi chính trị lực lượng vũ trang,
quân đội có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc chứ không thuộc đảng phái nào để tách lực
lượng vũ trang khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, từng bước vô hiệu hoá và giải
tán Đảng Cộng sản. Sự phân liệt Đảng Cộng sản thành các phe nhóm chính trị khác
nhau, nhiều tổ chức, đảng phái chính trị ra đời đấu tranh giành quyền lực chính trị.
Khuynh hướng dân tộc ly khai nảy sinh, những cuộc xung đột đẫm máu xảy ra tạo
môi trường cho các lực lượng phản động trỗi dậy, xã hội mất phương hướng gây
thảm hoạ cho nhân dân.
Lực lượng phản bội trong nước tìm chỗ dựa từ các chính phủ tư sản bên ngoài,
các thế lực chống chủ nghĩa xã hội cũng xem đây là cơ hội tốt để thực hiện ý đồ
“diễn biến hoà bình”. Chúng ra sức cổ vũ lôi kéo những phần tử cơ hội, phản bội giữ
địa vị cao ở các cơ quan đảng, nhà nước để đưa đất nước theo xu hướng tư bản. Khi
Lớp 7 K34 17
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
bộ phận lãnh đạo tối cao đã liên kết với lực lượng đế quốc bên ngoài thì chủ nghĩa
xã hội theo mô hình Xôviết dễ dàng sụp đổ.
Từ những tuyên bố ban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều CNXH
hơn”, “chúng ta sẽ đi tới CNXH tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta
tìm trong khuôn khổ của CNXH chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu
trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra” , rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông
ngụy trang cho ý đồ phản bội. Sau đó những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng
bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu
XHCN mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản.
Cải tổ kinh tế chuyển nhanh sang cải tổ về chính trị
một cách vô nguyên tắc đã
tạo điều kiện cho sự phát triển làn sóng “công
khai”, “dân chủ”, “không có vùng
cấm”, phủ định mọi thành tựu của chủ
này quyện chặt vào
nhau, tác động cùng chiều, tạo nên lực cộng hưởng rất mạnh và nhanh như một cơn
lốc chính trị trực tiếp phá hoại ngôi nhà của chủ nghĩa xã hội. Tất nhiên, xét cho cùng
chính bọn cơ hội, xét lại và phản bội, sự mất cảnh giác trong hàng ngũ những người
cộng sản đã tạo cơ hội bằng vàng cho chủ nghĩa đế quốc “chiến thắng mà không cần
chiến tranh”.
Trong tình hình chủ nghĩa xã hội trì trệ và khủng hoảng do sai lầm của
mô hình cũ
thì cải tổ, cải cách mở cửa, đổi mới là tất yếu để thoát khỏi
khủng hoảng, đưa đất
nước vào thời kỳ phát triển mới. Nhưng vấn đề là ở chỗ, cải cách dựa trên nguyên
tắc nào? Bằng phương pháp nào để vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa
đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao.Bài học của Liên Xô và Đông Âu có ý nghĩa vô
cùng quan trọng cho những người Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trong quá
trình đổi mới hiện nay.
;0<=2
Việt Nam- nhận thức và những đổi mới
2
Từ sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu Việt Nam
đã dần rút ra được những bài học và con đường riêng cho chính mình. Từ khi xuất
hiện những dấu hiệu bất ổn do áp dụng một cách cứng nhắc mô hình của Liên Xô,
Việt Nam đã mạnh dạn nhìn nhận và loại bỏ những khuyết điểm đế không phải bước
vào vết xe đổ của Liên Xô cũng như các nước Đông Âu.
Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng
với sự thật, nói rõ sự thật đã khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ rõ
những khuyết điểm, sai lầm. Đại hội chỉ rõ chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm
trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ
chức thực hiện.
Về mặt lý luận, đó là sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật
Định hướng xã hội chủ nghĩa: Theo quan điểm trước Đổi Mới, Nhà nước Việt
Nam cho rằng kinh tế thị trường là nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản và hoạt động
không tốt. Sau Đổi Mới, quan điểm của Nhà nước Việt Nam là kinh tế thị trường là
thành tựu chung của loài người, không mâu thuẫn với chủ nghĩa xã hội. Định
hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước
trong nền kinh tế, vì theo quan điểm của chủ nghĩa Marx về chủ nghĩa xã hội thì
mọi tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà
nước đại diện cho nhân dân.
Nền kinh tế chuyển từ khép kín, đóng cửa, sang mở cửa, hội nhập với thế giới.
Lớp 7 K34 20
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
Trên lĩnh vực chính trị:
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thì Đổi Mới không phải là từ
bỏ việc thực hiện chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ quyền lãnh
đạo duy nhất. Đổi Mới chỉ là thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cho đến nay, Đổi Mới về chính trị ở Việt Nam là chuyển từ việc lãnh đạo
kinh tế chủ quan, duy ý chí sang tôn trọng quy luật khách quan của thị trường.
Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam chuyển từ chú trọng quan hệ hợp tác với
các nước XHCN sang chú trọng quan hệ hợp tác đa phương, làm bạn với tất cả các
nước, trên quan điểm bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập các tổ chức khu
vực ASEAN, APEC, WTO
1994: bắt đầu thực hiện chất vấn của các đại biểu Quốc hội đối với các thành
viên Chính phủ.
Đại hội Đảng lần X lần đầu tiên lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các tầng lớp
nhân dân, lần đầu tiên cho phép Đảng viên tự ứng cử vào Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
Một số quốc gia và tổ chức cho rằng Việt Nam không có nhân quyền,
vì quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận không được đảm bảo. Tuy nhiên,
chính phủ Việt Nam khẳng định quyền tự do tôn giáo là hoàn toàn được đảm bảo ở
khuyết tật, chính phương thức sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa đã tạo ra cho chủ nghĩa tư bản những ung nhọt. Trải qua một quá trình
phát triển và biến đổi lâu dài, nhưng bản chất bóc lột, phản dân chủ của nó vẫn
không thay đổi.
Bên cạnh đó, chính những cuộc khủng hoảng đã khiến cho chủ nghĩa tư bản phải
tìm cách để cải cách và thích ứng. Quá trình biến đổi và phát triển đó của chủ nghĩa
tư bản cũng chính là quá trình quá trình quá độ lên xã hội mới. Những yếu tố của
một xã hội mới đang dần xuất hiện trong lòng chủ nghĩa tư bản, những yếu tố của
nền văn minh hậu công nghiệp, kinh tế tri thức nảy sinh và phát triển, tính chất xã
hội của sở hữu ngày càng gia tăng, sự điều tiết của nhà nước đối với xã hội ngày
càng hữu hiệu, những vấn đề về môi trường và phúc lợi ngày càng được quan tâm và
Lớp 7 K34 22
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
giải quyết hữu hiệu. Từ những đặc điểm trên, ta có thể thấy đó là dấu hiệu của một
xã hội quá độ, vì nó chứa đựng trong đó cả yếu tố xã hội và tương lai.
2. Liên hệ thực tế:
Đây là kết quả cuộc thăm dò dư luận do BBC World Service của tổ hợp truyền
thông Anh BBC thực hiện với 29.033 người trưởng thành ở 27 quốc gia, từ ngày
19/6 đến 23/10 và công bố ngày 9/11 cho thấy sau 20 năm kể từ khi Chiến tranh
Lạnh kết thúc, nỗi thất vọng đối với chủ nghĩa tư bản ngày càng lan rộng trên phạm
vi toàn cầu. Theo cuộc thăm dò này, chỉ có 11% số người được hỏi cho rằng thị
trường tự do của chủ nghĩa tư bản đang vận hành tốt, trong khi có tới 51% nhận định
các vấn đề hiện nay của chủ nghĩa tư bản chỉ có thể được giải quyết nếu bổ sung
thêm các quy định và tiến hành cuộc cải cách triệt để.
Từ khi TBCN xuất hiện cho tới nay, tỉ suất bóc lột giá trị thặng dư theo thời gian
vẫn tăng lên một cách chóng mặt: từ trên 200% vào những năm 50, tăng lên 300%
trong những năm 90 của thế kỷ XX và đến nay con số đó đạt tới ngưỡng 500.
Sự phân cực giữa giai cấp tư sản và những người nghèo khổ mà chính 600%.
những người của thế giới tư bản đã phải gọi những người nghèo khổ này là “thế giới
thứ tư” trong xã hội, càng tăng lên nhanh chóng. Ở Mỹ, nơi được xem là mô hình
nghĩa xã hội mới giải quyết được nghèo khổ và bất bình đẳng xã hội”.
Đành rằng trong mấy thập kỷ qua, chủ nghĩa tư bản, nhất là các nước tư bản phát
triển đã đạt được những thành tựu lớn về tin học, tự động hoá, công nghệ sinh học,
vật liệu mới…; đã tận dụng có hiệu quả những thành tựu đó trong tăng trưởng kinh
tế và điều chỉnh một số chính sách xã hội nhằm giảm mức độ căng thẳng của xung
đột giai cấp và mâu thuẫn xã hội, nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản lại không vượt
qua được những mâu thuẫn lớn gay gắt của thời đại cũng như những mâu thuẫn nội
tại trong quá trình phát triển của chính nó. Đó là mâu thuẫn giữa tư bản và lao động
không chỉ hiện hữu trong từng nước tư bản mà ngày càng có quy mô toàn cầu. Các
tầng lớp người lao động trên toàn thế giới liên tiếp tiến hành những cuộc đấu tranh
với quy mô toàn cầu chống tư bản độc quyền xuyên quốc gia, chống mặt trái của
toàn cầu hoá theo mô hình chủ nghĩa tự do mới của chủ nghĩa tư bản… Đó là mâu
thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội mà biểu hiện chủ yếu của nó hiện
nay là cuộc đấu tranh giữa âm mưu “diễn biến hoà bình” và cuộc đấu tranh chống lại
âm mưu này. Đó là mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển với các nước tư bản
phát triển, hay còn được gọi là mâu thuẫn Nam- Bắc, với quy mô thực sự rộng lớn
và liên quan trực tiếp đến hàng loạt quốc gia và bao trùm mọi lĩnh vực, như chính
trị, kinh tế, văn hoá, khoa học-công nghệ…Đó là mâu thuẫn giữa các nước tư bản
với nhau, nhất là mâu thuẫn giữa ba trung tâm lớn của chủ nghĩa tư bản hiện đại -
Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản - trong thiết lập một trật tự thế giới mới theo tham vọng
của riêng họ. Trong khi Mỹ mưu toan thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ
làm bá chủ, Tây Âu, Nhật Bản lại cổ xuý một trật tự thế giới đa cực mà bản thân họ
sẽ đóng vai trò là mỗi cực trong trật tự thế giới đó.
Lớp 7 K34 24
Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và Triển vọng GVHD: TS. Nguyễn Khánh Vân
Như vậy, thời đại mới được mở ra từ sau thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội
chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại hoàn toàn không phải đã chấm dứt như những kẻ
chống phá chủ nghĩa xã hội từng rêu rao. Nội dung cơ bản của thời đại vẫn là nhân
loại đang quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Thay lời kết, xin dẫn lại
nhận định của một nhà nghiên cứu Nhật Bản rằng, thế giới trong thế kỷ XXI sẽ là