TIỂU LUẬN: Quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội,con đường phát triển tất yếu của cách mạng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay pot - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội,con đường
phát triển tất yếu của cách mạng Xã hội
Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Lời giới thiệu

ôn ” Triết học Mác - LêNin ” có thể nói là một môn học rất khó để
có thể hiểu được cặn kẽ, rõ ràng về nó. Do vậy việc làm bài ” Tiểu luận Triết học
” cũng hẳn không nằm ngoài mục đích giúp cho sinh viên có thể hiểu sâu, rộng
hơn về môn học này. Muốn vậy mỗi người phải tự tìm tòi, tra khảo các tài liệu,
sách báo để phục vụ cho công việc của mình.Và vì thế bề dầy kiến thức của mỗi
người sẽ được tăng lên.Về đề tài "Vận dụng Lý luận về Hình thái kinh tế - xã
hội giải thích quá trình phát triển của Việt Nam ngày nay” hẳn rất bổ ích và
cần thiết vì từ xưa con người đã muốn tìm hiểu về chính mình, về thế giới xung
quanh mà vấn đề đặt ra hết sức bức xúc là Kinh tế - Xã hội nó bao trùm lên tất
cả, nó gắn liền với mỗi người mà ở đây hình thái Kinh tế - Xã hội của Mác là một
bước đột phá, là nền tảng lý luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Việc nghiên cứu
nó như thế nào để vận dụng vào thực tiễn nước ta, quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội
là hết sức cần thiết.

sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của Lực
lượng sản xuất và với một Kiến trúc thượng tầng phù hợp được xây dựng trên
những quan hệ ấy.
Ngoài những mối quan hệ cơ bản trên đây Hình thái Kinh tế - Xã hội còn có
những quan hệ về dân tộc, giai đoạn lịch sử và các quan hệ khác. Các quan hệ
trên đây tuy có vai trò độc lập nhất định nhưng cũng bị chi phối bởi những điều
kiện vật chất kinh tế cụ thể và những quan hệ cơ bản khác của xã hội.

II. Tính cấp thiết của đề tài.

Học thuyết của Mác về Hình thái Kinh tế - Xã hội ra đời là một cuộc cách
mạnh trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội, là cơ sở phương pháp luận của
sự phát triển khoa học về quá trình vận động và phát triển xã hội. Nhờ có lý luận
Hình thái Kinh tế - Xã hội này lần đầu tiên trong lịch sử Mác đã chỉ rõ được bản
chất của từng chế độ xã hội. Như vậy, lý luận hình thái Kinh tế - Xã hội giúp
chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học về sự vận hành của xã hội
trong giai đoạn phát triển nhất định.
Do đặc điểm về lịch sử về những quan hệ và thời gian, không phải quốc gia
nào cũng phải trải qua tất cả các hình thái Kinh tế - Xã hội theo một sơ đồ
chung.Lịch sử cho thấy có những nước đã bỏ qua một hình thái Kinh tế - Xã hội
nào đó trong tiến trình phát triển của mình. Vận dụng điều này vào hoàn cảnh cụ
thể ở nước ta hiện nay chúng ta có cơ sở khoa học để chứng minh rằng con
đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua Tư bản chủ nghĩa ở nước ta - cả trong
điều kiện hiện nay - vẫn là tất yếu và hoàn toàn có khả năng thực hiện được.
Như vậy, việc nghiên cứu đề tài : "Vận dụng Lý luận về Hình thái kinh tế
- xã hội giải thích quá trình phát triển của Việt Nam ngày nay” là rất thực
tiễn và cấp bách cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.


1. Những cơ sở xuất phát để phân tích đời sống xã hội

hi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử Mác và F.Ăngen đã xuất
phát từ những tiêu đề sau đây :
" Tiên đè đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại
của những cá nhân, con người sống ”. Xã hội dưới bất kì một hình thức nào
cũng là sự liên hệ và tác động qua lại giữa người với người. Ngay từ khi mới ra
đời, con người đã có nhu cầu tìm hiểu về chính mình và về Thế giới xung quanh.
Các nhà tư tưởng đã từng tiếp cận vấn đề con người dưới nhiều hình thức, nhiều
góc độ khác nhau và có nhiều đóng góp quý báu : Phát hiện ra nhiều thuộc tính,
phẩm chất, năng lực phong phú, kì diệu của con người về mọi mặt sinh học, xã
hội cũng như tâm lý, ý thức. Trên cơ sở đó, họ có đề xuất những con đường, biện
pháp hướng con người đến cuộc sống tốt đẹp. Nhưng do những hạn chế lịch sử,
nên những nhà tư tưởng trước đây chưa có cái nhìn đầy đủ về tồn tại của con
người cũng như về lịch sử xã hội loài người, do vậy, họ đã mắc một sai lầm lớn.
Để khắc phục điều này triết học Mác đã có những phát hiện mới, những đóng
góp mới. Lần đầu tiên Mác vạch ra phương thức tồn tại của con người, xuất phát
từ cuộc sống của con người hiện thực. Mác đưa ra một trong những luận điểm
được coi là quan trọng nhất trong quan điểm duy vật về lịch sử của ông : ”Trong
tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ
xã hội ”. Theo C.Mác con người tồn tại trong xã hội với tư cách là sản phẩm của
xã hội, hơn nữa con người không phải là sản phẩm của xã hội nói chung mà bao
giờ cũng là sản phẩm của một hình thái xã hội nhất định.
Mặt khác, Mác nhận thấy phương thức tồn tại của con người chính là hoạt
động của họ. Các quy định hành vi lịch sử đầu tiên và cũng là động lực thúc đẩy
con người hoạt động trong suốt lịch sử của mình là nhu cầu và lợi ích. F.Ăngen

Xã hội là bộ phận đặc thù của thế giới vật chất,vận động và phát triển theo
quy luật khách quan. Quy luật xã hội là những mối liên hệ bản chất, tất yếu, lắp
đi lắp lại của các quá trình,hiện tượng của đời sống xã hội, đặc trưng cho khuynh
hướng cơ bản phát triển của xã hội từ thấp đến cao.

2. Hình thái Kinh tế - Xã hội

a) Hình thái Kinh tế - Xã hội là một phạm trù của Chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản
xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng
sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ ấy.
Hình thái Kinh tế - Xã hội đặt nguyên tắc phương pháp luận khoa học để
nghiên cứu tất cả các mặt của xã hội. Chẳng những nó đã đưa ra bản chất của một
xã hội cụ thể, phân biệt chế đọ xã hội này với chế độ xã hội khác, mà còn thấy
được tính lặp lại, tính liên tục của mối quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất và sinh hoạt ở những xã hội khác nhau. Nói cách khác, phạm trù
Hình thái Kinh tế - Xã hội cho phép nghiên cứu xã hội cả về mặt loại hình và về
mặt lịch sử. Xem xét đời sống xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định,
coi như một cấu trúc thống nhất tương đối ổn định đang vận động trong khuôn
khổ của chính hình thái ấy.

b) Kết cấu và chức năng của các yếu tố cấu thành Hình thái Kinh tế - Xã hội.

Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc, những cái
nhìn riêng lẻ, xã hội là một chỉnh thể toàn diện có cơ cấu phức tạp. Trong đó có
những mặt cơ bản nhất là Lực lượng sản xuất, Quan hệ sản xuất và Kiến trúc
thượng tầng. Mỗi mặt đó có vai trò nhất định và tác động lên những mặt khác tạo

người lao động”. Giữa các yếu tố của Lực lượng sản xuất có sự tác động
biện chứng. Sự tác động của tư liêu lao động phụ thuộc vào trí thông
minh, sự hiểu biết, kinh nghiệm của con người. Đồng thời bản thân những
phẩm chất của con người, những kinh nghiệm và thói quen của họ đều
phụ thuộc vào Tư liệu sản xuất hiện có, phụ thuộc vào chỗ họ sử dụng
những tư liệu lao động nào.

 Quan hệ sản xuất .

Quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là những quan hệ cơ
bản ban đầu và quyết định mọi quan hệ xã hội khác, không có những mối quan
hệ đó thì không thành xã hội và không có quy luật xã hội. Mỗi hình thái Kinh tế -
Xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó tương ứng với một trình độ nhất
định của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất đó là tiêu chuẩn khách quan để
nhận biết xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác đồng thời tiêu biểu cho một
giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt sau đây :
 Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
 Quan hệ tổ chức quản lý.
 Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó Quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả những quan hệ khác. Bản chất
của bất kỳ mối quan hệ sản xuất nào cũng phụ thuộc vào vấn đề những Tư liệu
sản xuất chủ yếu trong xã hội được giải quyết như thế nào.
Có hai hình thức sở hữu cơ bản về Tư liệu sản xuất : Sở hữu tư nhân và Sở
hữu xã hội. Những hình thức sở hữu đó là những quan hệ kinh tế thực hiện giữa
người với người trong xã hội.

quyền nhà nước thì hệ tư tưởng cung những thể chế của giai cấp ấy cũng giữ địa
vị thống trị. Nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng của toàn bộ đời
sống tinh thần của xã hội và quyết định cả tính chất đặc trưng cơ bản của toàn bộ
Kiến trúc thượng tầng xã hội.

Phạm trù Hình thái Kinh tế - Xã hội là mô hình lý luận về xã hội và như mọi
mô hình, nó không bao quát tất cả tính đa dạng của các hiện tượng đời sống xã
hội. Vì vậy, hiện thực xã hội và sơ đồ lý thuyết vầ xã hội không đồng nhất với
nhau. Trong thực tế các sự kiện lịch sử mang tính chất không lặp lại, hết sức
phong phú, các yếu tố tinh thần và vật chất, kinh tế và chính trị thường xuyên tác
động qua lại, xâm phạm,chuyển hoá lẫn nhau. Hình thái Kinh tế - Xã hội chỉ
phản ánh mặt bản chất những mối liên hệ bên trong, tất yếu, lặp lại của các hiện
tượng ấy; Từ tính đa dạng cụ thể, lịch sử bỏ qua nhũng chi tiết cá biệt, dựng lại
cấu trúc ổn định và lôgic phát triển của qúa trình lịch sử. Bất kì trong giới tự
nhiên hay trong xã hội đều không có và không thể có hiện tượng ” thuần tuý
”.Đó chính là điều mà phép biện chứng của C.Mác đã nêu lên.
Hình thái Kinh tế - Xã hôị đem lại những nguyên tắc phương pháp luận xuất
phát để nghiên cứu xã hôị, loại bỏ đi cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, không đi vào
cái chi tiết, vượt qua khỏi tri thức kinh nghiệm hoặc xã hội học mô tả, đi sâu
vạch ra cái bản chất ổn định từ cái phong phú của hiện tượng, vạch ra cai lôgic
bên trong của tính nhiều vẻ của lịch sử.

3. Sự phát triển của các Hình thái Kinh tế - Xã hội.

Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều quá trình nối tiếp nhau từ thấp
đến cao. Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái Kinh tế - Xã hội. Sự vận
động thay thế nối tiếp nhau của các Hình thái Kinh tế - Xã hội trong lịch sử đều

điểm lịch sử ở mỗi nước của quá trình lịch sử cụ thể vô cùng phong phú có hàng
loạt những yếu tố làm cho tiến trình chung trong sự phát triển trong sự phát triển
của xã hội loài người có những biểu hiện đa dạng phong phú ở những nước, dân
tộc khác nhau. Không thể xem xét quá trình lịch sử như một con đường thẳng,
nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là nền sản xuất đời sống
hiện thực. Những nhân tố kinh tế không phải là nhân tố duy nhất quyết định mà
những nhân tố khác của Kiến trúc thượng tâng đếu có ảnh hưởng đến quá trình
lịch sử. Vì vậy để hiểu được lịch sử thì cần thiết phải tính đến các nhân tố cơ bản
có tham gia trong sự tác động lẫn nhau của chúng.
Tiến trình lịch sử của một dân tộc của một quốc gia cụ thể thường xuyên bị
yếu tố bên trong và bên ngoài khác chi phối như hoàn cảnh địa lý, truyền thống
văn hoá, tâm lý dân tộc, quan hệ giao lưu với các dân tộc khác. Tất cả các yếu tố
đó đều có thể góp phần kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển của một dân tộc nhất
định. Tính trọng chiến tranh hay hoà bình của một dân tộc cũng có thể làm gián
đoạn,phá vỡ tiến trình phát triển tự nhiên hoặc tạo tiền đề phát triển của lịch sử
một dân tộc.

II. Quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội - Con đường phát triển tất yếu của cách
mạng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

1. Hình thái Kinh tế - Xã hội của Mác trong cuộc cách mạng Xã hội Chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay.

Nước ta quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội không qua giai đoạn phát triển Tư

Các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị xã hội không tồn tại như
một ục đích tự thân mà vì phục vụ con người thực hiện cho được lợi ích và quyền
lực của nhân dân lao động.

1. Nhận thức về Chủ nghĩa Xã hội và thời kỳ quá độ.

a) Nhận thức về Chủ nghĩa Xã hội

”Chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra,
không phải là một ý tưởng mà hiện thực phải tuôn theo. Chúng ta gọi Chủ
nghĩa Cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay,
những điều kiện của phong trào ấy là kết quả của những tiền đề hiện đang
tồn tại”. Dựa vào sự phát triển những mâu thuẫn của xã hội Tư sản trong giai
đoạn đầu phát triển của nó, dựa vào triển vọng của phong trào công nhân, C.Mác
và F.Ăngen đã đưa ra dự đoán về sự phát triển của xã hội loài người trong tương
lai tất yếu phải tiến đến Hình thái Kinh tế - Xã hội Cộng sản Chủ nghĩa mà Chủ
nghĩa Xã hôi là giai đoạn đầu của hình thái ấy.
LêNin cũng chỉ rõ : ”Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một
cái gì đó xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý
luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người Xã hội Chủ
nghĩa phải phát triển hơn nữa về mọi mặt nếu họ không muốn trở thành lạc
hậu với cuộc sống”. Cũng như các Hình thái Kinh tế - Xã hội khác, Hình thái
Kinh tế - Xã hội Cộng sản Chủ nghĩa trải qua giai đoạn phát triển từ thấp đến
cao, trong đó có hai giai đoạn cơ bản: Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản.
Đó là hai giai đoạn kế tiếp nhau trong cùng một Hình thái Kinh tế - Xã hội; Sự
khác nhau cơ bản của hai giai đoạn nói trên là trình độ phát triển Kinh tế - Xã hội
và trước hết là trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. C.Mác coi hai giai

tộc, dân chủ và Chủ nghĩa Xã hội.

Những đặc trưng cơ bản nói trên phản ánh bản chất của Chủ nghĩa Xã hội.
Mặc dù trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, chế
độ Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến Chủ nghĩa Xã hội tạm
thời lâm vào thoái trào nhưng bản chất thời đại không hề thay đổi. Loài người
vốn ở trong quá trình quá độ tư Chủ nghĩa Tư bản lên Chủ nghĩa Xã hội mở đầu
bằng cuộc cách mạng tháng 10 Nga vĩ đại. Con đường mà nhân loại đang đi
chính là con đường thắng lợi của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và Chủ nghĩa
Xã hội.
Lịch sử đã chứng minh, không phải bất kì nước nào cũng phải tuần tự trải
qua các hình thái Kinh tế - Xã hội đã từng có trong lịch sử. Việc bỏ qua một Hình
thái Kinh tế - Xã hội nào đó do những yếu tố bên trong quyết định, xong đồng
thời còn tuỳ thuộc ở sự tác động của từng nhân tố bên ngoài. ở nước ta cũng đã
có những tiền đề và điều kiện cho phép chúng ta lựa chọn con đường Xã hội Chủ
nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để quá độ lên Chủ nghĩa
Xã hội, nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu làm cho đất nước ngày càng
phồn vinh.

b) Về thời kỳ quá độ.

Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là
những nhân tố của xã hội mới và tân tiến của xã hội cũ đan xen lẫn nhau và đấu
tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hoá, xã hội, tư
tưởng trong xã hội. Cái biện chứng nhất của thời kỳ quá độ là sự quá độ về
chính trị. ở đó nhà nước chuyên chính vô sản được thiết lập, củng cố và ngày
càng hoàn thiện.

Đây là những khó khăn, trở ngại lớn trong bước chuyển tiếp lịch sử từ một
xã hội kém phát triển sang một xã hội hiện đại, phù hợp với những chuẩn mực và
giá trị của nền văn minh nhân loại và của tiến bộ xã hội.
Điều cần chú ý là có thể bỏ qua chế độ Tư bản quá độ lên Xã hội Chủ nghĩa,
nhưng không thể bỏ qua những việc chuẩn bị những tiêu đề cần thiết, nhất là tiêu
đề kinh tế cho sự quá độ ấy. Nói cách khác, có thể bỏ qua chế độ Tư bản Chủ
nghĩa nhưng phải tiến hành sao cho sự bỏ qua này không hề vi phạm đến tính
lịch sử tự nhiên của sự phát triển. Do đó, cần có sự phát triển nhất định, coi nhân
tố Tư bản Chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ là một yêu cầu khách quan.
Đáng tiếc trong nhiều năm qua chúng ta đã áp dụng một cách máy móc, có
những quan niệm sai lầm về Chủ nghã xã hội, chúng ta đã bỏ qua tất cả những gì
thuộc về Chủ nghĩa tư bản. Điều này vi phạm nghiêm trọng về lý luận sự phát
triển của Mác.Chúng ta đã phủ nhận Chủ nghĩa Tư bản một cách sạch trơn,
không tiếp thu những yếu tố tích cực của nó vào sự phát triển của đất nước.
Chúng ta vì nôn nóng muốn có nhay Chủ nghĩa Xã hội trong thời gian ngắn đã
tiến hành cải tạo ồ ạt nhằm xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân Tư bản Chủ nghĩa,
xoá bỏ thành phần kinh tế Tư bản Chủ nghĩa bằng bất cứ giá nào.
Đứng trước thực tế từ đầu những năm 80 trở lại đây, khủng hoảng Kinh tế -
Xã hội nảy sinh và ngày càng trở nên trầm trọng. Để thực hiện tốt công cuộc đổi
mới đất nước Đảng ta đã khẳng định rằng phải kiên trì nghiên cứu và vận dụng
đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý, lý luận của Chủ nghĩa Mac-LêNin mà trước
hết là lý luận Hình thái Kinh tế - Xã hội vào việc đề ra các chủ trương, chính
sách, các giải pháp xây dựng đất nước.Việc đề ra những giải pháp đúng đắn vào
điều kiện cụ thể của nước ta là một vấn đề hết sức khó khăn. 3. Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta.

b) Phương hướng.

Coi trọng vai trò và bản chất của nhà nước, thể hiện đầy đủ quyền và nguyện
vọng của nhân dân. Xây dựng nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy
đủ quyền làm chủ của nhân dân,giữ nguyên kỷ cương xã hội, chuyên chính với
mọi hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và của nhân dân.
Thực hiện những biến đổi có tính công nghiệp hoá trên cả 3 lĩnh vực : Lực
lượng sản xuất, Quan hệ sản xuất và Kiến trúc thượng tầng. Trong đó phát triển
Lực lượng sản xuất là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu tạo tiền đề kinh tế vững chắc
cho sự ra đời của phương thức sản xuất Xã hội Chủ nghĩa. Phát triển Lực lướng
sản xuất trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra
dồn dập, mạnh mẽ,đ òi hỏi chúng ta phải có quan niệm mới về công nghiệp hoá,
không phải là ưu tiên xây dựng cơ sở vật chất với những ngành công nghiệp
truyền thống theo đường công nghiệp hoá cổ điển mà là lựa chon những ngành
công nghiệp thích hợp, xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ
thống thông tin tạo tiềm năng nhanh chóng ứng dụng công nghệ mới. Bên cạnh
đó phải phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm
từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa Xã hội, không ngừng
nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Phù hợp với sự phát triển của Lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước Quan
hệ sản xuất Xã hội Chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở
hữu. Chế độ công hữu phải là kết quả hợp quy luật của quá trình xã hội hoá thực
sự chứ không thể tạo ra bằng biện pháp hành chính, cưỡng ép. Chuyển từ quan hệ
hiện vật sang quan hệ hàng hoá - tiền tệ trở lại đúng quy luật phát triển tự nhiên
của kinh tế: Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao

sở khách quan và toàn diện. Chủ nghĩa Mác là giải phóng công nhân lao động
khỏi sự bóc lột, tất nhiên chủ nghĩa Mác không phải là dấu chấm cuối cùng của
triết học. Ngay trong bản thân triết học Mác cũng mang tính mở, tức là bổ sung,
hoàn thiện dần theo các quá trình lịch sử. Tuy nhiên triết học Mác được xây dựng
trên một nền tảng lấy khách quan, toàn diện làm cơ sở vì vậy triết học Mác trong
đó có lý luận Hình thái Kinh tế - Xã hội có giá trị không chỉ trong một thời điểm
lịch sử phát triển nhất định,phục vụ cho một giai cấp nhất định.
Tóm lại, lý luận Hình thái Kinh tế - Xã hội là một trong những thành tựu
khoa học mà C.Mác đã đề ra cho nhân loại. Lý luận đó đã chỉ ra: Xã hội là một
hệ thống mà trong đó Quan hệ sản xuất phải phù hợp với một trình độ phát triển
nhất định của Lực lượng sản xuất và các Quan hệ sản xuất tạo thành một kết cấu
Kinh tế - Xã hội nhất định mà trên đó dựng lên một Kiến trúc thượng tầng pháp
lý và chính trị cũng như các hình thái ý thức xã hội tương ứng. Đồng thời lý luận
cũng chỉ ra rằng sự vận động và phát triển của các Hình thái Kinh tế - Xã hội là
một quá trình lịch sử tự nhiên. Thông qua cách mạng xã hội, các Hình thái Kinh
tế - Xã hội thay thế nhau từ thấp đến cao. Tuy nhiên sự vận động và phát triển
của các Hình thái Kinh tế - Xã hội vừa bị chi phối của các quy luật chung, vừa bị
tác động bởi điều kiện lịch sử cụ thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status