LỜI MỞ ĐẦU
Từ thời kì chiếm hữu nô lệ, xã hội loài người đã xuất hiện những mầm mống đầu tiên của chủ
nghĩa xã hội. Đó là những khát vọng, niềm mơ ước của công chúng bị áp bức, bóc lột. Nhưng tất cả
chỉ dừng lại ở lòng khát khao về một chế độ không có tư hữu, không có giai cấp thống trị và mọi
người đều được bình đẳng, tự do…Những “khối óc lớn” của thế kỉ XV – XVIII đã làm tư tưởng xã
hội chủ nghĩa phát triển sang một thời kì mới với một trình độ mới. “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”
của Mác – Enghen chính là phát súng đầu tiên báo hiệu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học -
học thuyết đã soi sáng con đường đi đến ước mơ của nhân dân lao động trên toàn thế giới. Quá trình
thâm nhập của những lý luận đó vào thực tiễn đấu tranh của nhân dân lao động đã cho ra đời chủ
nghĩa xã hội hiện thực.
Cách mạng tháng Mười Nga là một minh chứng hùng hồn nhất cho sự đúng đắn, khoa học
của chủ nghĩa xã hội. Sự thắng lợi của cuộc cách mạng ấy đã xóa bỏ chế độ nô lệ tư bản, lần đầu tiên
đưa nhân dân lao động bước lên vũ đài chính trị. Sự thắng lợi của cuộc cách mạng ấy đã xóa bỏ thế
độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra một thời kì mới cho lịch sử thế giới. Đó chính là thắng lợi vĩ đại
nhất của nhân dân lao động Nga nói riêng và thế giới nói chung.
Sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vào những thập
niên cuối thế kỉ XX không phải là sự chấm hết cho chủ nghĩa xã hội. Đó là kết quả tất yếu cho sự xa
rời, phản bội chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhưng chỉ là sự lùi bước nhất thời của chủ nghĩa xã hội.
Những cải cách, đổi mới trong các nước xã hội chủ nghĩa còn lại không phải là đống tro tàn cuối
cùng của ngọn lửa trước khi tắt hẳn mà là chuẩn bị cho sự trở lại và vươn lên mạnh mẽ. Bởi lẽ, với
bản chất bóc lột và hiếu chiến của mình, chủ nghĩa tư bản không thể nào trụ vững trước sự tiến bước
trên con đường đi tìm sự bình đẳng và tự do của nhân dân lao động toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội
chính là tương lai của loài người. Đó là một điều tất yếu không thể nào chối bỏ. Và ngày càng nhiều
nước đang có xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội - một dấu hiệu cho sự cáo chung của chủ nghĩa tư
bản.
1
A. NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC
VÀ TRIỂN VỌNG
I. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực
1. Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu tiên trên thế giới
a. Cách mạng Tháng Mười Nga
Chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới điều kiện chuyên chính vô sản (theo Lênin, đó là một thứ
chủ nghĩa tư bản có liên quan với nhà nước của giai cấp vô sản) là một hình thức thích hợp để giúp
Liên Xô nhanh chóng khắc phục tình trạng suy sụp kinh tế và ngăn chặn mầm mống của sự phục hồi
chủ nghĩa tư bản.
Giai cấp vô sản có thể học tập kế thừa và phát huy có chọn lọc những tài sản vật chất, kỹ
thuật, tinh hoa tri thức và trình độ khoa học quản lý kinh tế từ kinh nghiện sản xuất kinh doanh của
các nhà tư bản. Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một trong những phương thức có hiệu quả để thúc đẩy
xã hội hóa, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, làm cho nền sản xuất hàng hóa quá độ xã hội chủ
nghĩa phát triển ngày càng mạnh mẽ.
2
Chính sách kinh tế mới thực hiện chưa được bao lâu thì Lênin qua đời. Đầu những năm 20 của
thế kỷ XX nhà nước Xô Viết áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao.
Với khí thế lao động của những con người được giải phóng, với tinh thần anh dũng, hi sinh của
hàng trăm triệu quần chúng nhân dân, thông qua chính sách kinh tế mới, thông qua con đường hợp
tác hóa trong nông nghiệp, công nghiệp hóa đất nước. Sau khoảng 20 năm, Liên Xô đã đạt được
những thành công rực rỡ, tạo sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế.
c. Sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
Sau Thế chiến thứ II, chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống trên toàn thế giới, hàng loạt các
nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Trong giai đoạn này, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bao gồm các
nước: Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Ba Lan, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Anbani,
Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Cuba.
Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân của các nước trên thế giới tổ chức tại Mátxcơva năm
1960 đã khẳng định: “Đặc điểm chủ yếu của thời đại chúng ta là hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới
đang trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người”
2. Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Lịch sử đã cho thấy Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có một thời phát triển rực rỡ
và đạt được những thành tựu to lớn sau đây:
Thứ nhất: Chế độ xã hội chủ nghĩa đã từng bước đưa nhân dân lao động lên làm chủ xã hội,
thúc đẩy trào lưu đấu tranh cho quyền tự do dân chủ trên toàn thế giới. Chế độ xã hội chủ nghĩa ra
đời kéo theo sự ra đời của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế dộ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân
hơn 40 năm ở Liên Xô, hơn 40 năm ở các nước Đông Âu (kể từ năm 1945). Chủ nghĩa xã hội hiện
thực đã trải qua một thời kì phát triển rực rỡ, có những thành tựu to lớn và phát huy sức mạnh mạnh
mẽ để tiến hành phát triển lịch sử loài người.
II. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực:
1. Những giai đoạn phát triển chính:
Thời đại ngày nay được mở đầu bằng cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, là thời đại đấu
tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, là thời đại đang diễn ra cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ nhằm chuẩn bị những tiền đề vật chất chín mùi cho sự xuất hiện chủ
nghĩa xã hội.
Như VI. Lênin khẳng định, tính phức tạp trong sự vận động của lịch sử nhân loại, song có thể
chia thời đại của chúng ta từ Cách mạng tháng Mười tới nay thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Từ sau cách mạng tháng mười năm 1917 tới kết thúc chiến tranh thế giới
thứ hai 1945.
Giai đoạn này là giai đoạn chủ nghĩa xã hội mới hình thành trên phạm vi một số nước như Liên
Xô, Mông Cổ. Cuộc cách mạng tháng Mười là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử, đưa nhân dân
lao động từ những người nô lệ, làm thuê trở thành những người làm chủ đất nước. Sức mạnh của chế
độ mới đã giúp nhân dân lao động Nga đứng vững trong cuộc nội chiến, đập tan âm mưu can thiệp
của chủ nghĩa đế quốc. Với khí thế lao động của những con người được giải phóng, thông qua chính
sách kinh tế mới, thông qua con đường hợp tác hóa trong nông nghiệp, công nghiệp hóa đất nước,
sau 20 năm, Liên Xô đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế. Đó là những nguyên nhân
giúp cho nhân dân Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ II, cứu
nhân loại khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát xít.
Giai đoạn thứ hai : Từ sau 1945 tới đầu những năm 1970
Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, là giai
đoạn có những biến động to lớn, sâu sắc có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Chủ nghĩa xã hội từ một nước
đã trở thành hiện thực ở một loạt nước trên thế giới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời, nhất là từ sau
khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xuất hiện, cùng với những thành tựu to lớn của hệ thống các
nước xã hội chủ nghĩa về kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật…Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã
trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì hòa bình tiến bộ trên thế giới, đẩy lùi nguy
Đây cũng là bài học kinh nghiệm trong quá trình đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa trong
giai đoạn hiện nay.
Giai đoạn thứ tư : giai đoạn từ đầu những năm 1990 tới nay.
Giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, cùng với sự sụp độ
của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, nhiều đảng cộng sản và công nhân bị tan rã,
nhiều đảng viên xin ra khỏi đảng. Nhiều nước dân tộc chủ nghĩa đã định hướng lên chủ nghĩa xã hội,
nhưng giờ đây mất chỗ dựa về vật chất và tinh thần, các lực lưọng phản động giành lại chính quyền
đưa đất nước theo con đường khác. Ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới giảm
đi nghiêm trọng.
Những thế lực phản động quốc tế đã đang dùng trăm phương, nghìn kế bằng nhiều luận điệu
khác nhau để xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của
các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, nhằm xác lập sự thống trị tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản trên thế
giới.
Lịch sử đang đặt ra những thử thách to lớn cho chủ nghĩa xã hội, phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế. Để vượt qua những thử thách đó, các nước chủ nghĩa xã hội phải tự đổi mới, phải khắc
phục những yếu kém, nhược điểm hạn chế trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tranh thủ những
điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra, không ngừng nâng cao năng
suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân để nâng cao sức mạnh mọi mặt của đất nước.
Từ thực tế những năm vừa qua giúp cho giai cấp công nhân, nhân dân tiến bộ trên thế giới thấy
được bộ mặt thật và tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại, từ đó mà đoàn kết nhau lại để
đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Trong thời đại ngày nay: “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất
bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát
triển mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.
III. Sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết và nguyên nhân của nó:
1.Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết
Sau khi Lênin qua đời, ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện
mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thời gian đầu kế hoạch hóa tập trung đã phát
huy tác dụng mạnh mẽ,song đã biến thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Sau
5
từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ hứa hẹn,từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Chủ trương đưa ra lúc đầu là tăng tốc về kinh tế để chấm dứt sự trì trệ. Đẩy mạnh nhịp
độ phát triển không có gì sai mà là tất yếu, bức bách. Vấn đề là tăng tốc bằng cách nào thì
không có câu trả lời đúng đắn. Đổi mới công nghệ bằng cách nào cũng bế tắc. Người ta liền
quy cho cơ chế quản lý kinh tế nhưng rồi cũng trầy trật, người ta chuyển nhanh sang cải tổ
chính trị, coi đây là cái chìa khóa cho mọi vấn đề. Hội nghị Đảng toàn quốc lần thứ 19 năm
1988 chủ trương chuyển trọng tâm sang cải tổ hệ thống chính trị trên cơ sở cái gọi là: tư duy
chính trị mới. Thực chất đó là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc, là sự đầu hàng là từ bỏ lập trường
giai cấp là sự phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin, phản bội sự ngiệp xã hội chủ nghĩa. Cuộc cải
cách chính trị đánh thẳng vào hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội, trước hết là vào tổ
chức Đảng. Nhóm lãnh đạo cải tổ tìm cách loại bỏ khỏi ủy ban trung ương Đảng hàng loạt
những người không tán thành đường lối sai lầm của cải tổ, kiên trì đường lối chủ nghĩa Mác
-Lênin. Những người ngấm ngầm hoặc công khai thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin chiếm
các vị trí quan trọng trong bộ máy Đảng và Nhà nước
6
Bằng phát súng lệnh công khai dân chủ, không có vùng cấm, cải tổ đã nhanh chóng tạo
ra làn sóng phê phán, công kích bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử 70 năm xây dựng chủ
nghĩa xã hội, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội. Nó gây hoang mang
xáo động đến cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của dân chúng đối với những
thành tựu của chủ nghĩa xã hội. Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng để
làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới phủ định quá khứ được các đài, báo phương
Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích đen tối của chúng.
Hai là, chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi vừa trắng trợn, thực hiện
được diễn biến hòa binh trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu.
Chủ nghĩa đế quốc thường xuyên tiến hành một cuộc chiến tranh khi bằng súng đạn, khi
bằng diễn biến hòa bình chống chủ nghĩa xã hội, chống Liên Xô. Chủ nghĩa đế quốc đã gây
ra cuộc chiến tranh lạnh từ sau Chiến tranh thế giới thứ II. Các chiến lược gia phương Tây
sớm nhận ra cái gót chân Asin của cải tổ: đó là đường lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là
chính sách thỏa hiệp nhân nhượng vô nguyên tắc với Mỹ và phương Tây thể hiện tập trung ở
Chính phương thức sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa gây ra những ung
nhọt không thể chữa khỏi.
7
Trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, dù là chủ nghĩa tư bản hiện đại, trên thế giới ngày nay
vẫn có đến 1,2 người chịu cảnh nghèo đói, bệnh tật, mù chữ, chiến tranh, hưởng mức thu nhập thấp
dưới 1 USD/ngày; 2,5 tỷ người nghèo có tổng thu nhập chỉ bằng thu nhập của 250 tỷ phú, triệu phú
lớn nhất thế giới gộp lại; 1/3 lực lượng lao động toàn thế giới bị thất nghiệp ở các mức khác nhau,
hàng ngày có trên 30.000 trẻ em chết bệnh mà lẽ ra có thể được cứu sống và số người mù chữ lên tới
800 triệu người. Sự kiện giới cầm quyền Mỹ, Anh tấn công Irac (2003) càng khẳng định bản chất
hiếu chiến của chúng.
Tóm lại, chủ nghĩa tư bản với những mâu thuẫn bên trong không thể khắc phục, xã hội tư bản
không thể thay đổi bản chất của mình.
2. Các yếu tố xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện trong lòng xã hội tư bản
Chủ nghĩa tư bản hiện đại sẽ còn tiếp tục phát triển qua những cuộc khủng hoảng, những cuộc
cải cách để thích ứng. Quá trình phát triển đó cũng chính là quá trình quá độ sang một xã hội mới.
Trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện những yếu tố của xã hội mới, những yếu tố của
nền văn minh hậu công nghiệp, kinh tế tri thức nảy sinh và phát triển, tính chất xã hội của sở hữu
ngày càng tăng, sự điều tiết của nhà nước đối với thị trường ngày càng hữu hiệu, tính nhân dân và xã
hội của nhà nước tăng lên; những vấn đề phúc lợi và môi trường…ngày càng được giải quyết tốt
hơn. Đó là những xã hội quá độ vì nó chứa đựng các yếu tố của chủ nghĩa tư bản và xã hội tương lai.
3. Liên xô và các nước Đông Âu sụp đổ không có nghĩa là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội
Sự sụp đổ của Liên xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình của chủ nghĩa xã hội trong
quá trình đi tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Nó không đồng nghĩa với sự cáo chung của chủ nghĩa xã
hội với tư cách là một hình thái kinh tế xã hội mà loài người đang vươn tới. Tương lai của xã hội loài
người vẫn là chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử. Tính chất của thời
đại hoàn toàn không thay đổi, loài người vẫn trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên xã hội chủ
nghĩa trên phạm vi toàn thế giới mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Các mâu thuẫn
của thời đại vẫn tồn tại, chỉ thay dổi hình thức biểu hiện và đặt ra yêu cầu mới phải giải quyết.
4. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, đổi mới và ngày càng đạt được những
thành tựu to lớn
quốc tế; giảm dần sự can thiệp vi mô, sự can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,
gia tăng quản lý vĩ mô, gia tăng sự phân chuyển cho các địa phương; thực hiện chế độ dân chủ nói
chung, đặc biệt là ở các cơ sở theo hướng công khai, minh bạch, gia tăng sự giám sát của các cấp,
của công luận, của Quốc hôi, của Hội đồng nhân dân các cấp, của các tổ chức xã hội, tinh giản bộ
máy và biên chế…
Thứ tư, xây dựng các tổ chức xã hội phi chính phủ đa dạng gồm các hội nghề nghiệp, văn hóa,
tôn giáo, xã hội…Các tổ chức ngày càng có vai trò to lớn trong các lĩnh vực mà Nhà nước không với
tay tới, như từ thiện, cứu trợ người nghèo…
Thứ năm, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đều tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế như: Liên
hợp quốc, WTO, các tổ chức trong khu vực…Trở thành những quốc gia tích cực trong hội nhập khu
vực ASEAN, Đông Á.
Thứ sáu, bảo đảm sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước trên tất cả các mặt. Sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung
Quốc, của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang được đổi mới theo hướng khoa học, dân chủ và hiệu
quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Trung Quốc và Việt Nam
*Thành tựu đạt được:
Kết quả gần 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978-2007), Đại hội XVII Đảng Cộng
sản Trung Quốc đã khẳng định: Đây là bước ngoặc lịch sử vĩ đại từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập
trung cao độ sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và là con đường tất yếu phát triển chủ nghĩa xã
hội đặc sắc Trung Quốc; chỉ có chủ nghĩa xã hội mới cứu được Trung Quốc, phát triển được chủ
nghĩa xã hội và phát triển được chủ nghĩa Mác.
Tổng kết 20 năm đổi mới của Việt Nam (1986-2006), Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định: “Để đi lên chủ nghĩa xã hội chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần cho xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện
đại đoàn kết dân tộc; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; đảm bảo quóc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế.”
Thế và lực của các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng tăng lên. Bất chấp sự chống phá của
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, các nước xã hội chủ nghĩa đã giành được nhiều thắng lợi
thế giới, của phương tiện thông tin, các dân tộc ngày càng ý thức được những quyền lợi dân tộc cơ
bản của mình. Mặt khác các nước lớn, giàu thường ỷ lại vào các thế mình kinh tế, quân sự để chi
phối các nước nhỏ, các nước nghèo bằng cách áp đặt quan điểm chính trị, dùng thủ đoạn bóc lột về
kinh tế, thậm chí tiến hành chiến tranh xâm lược, lật đổ.
d. Các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân kiên trì đấu tranh vì hòa
bình, tiến bộ và phát triển:
Tình hình quốc tế hiện nay có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng phấn đấu cho hòa bình, ổn định,
tiến bộ và phát triển vẫn là xu thế chung của nhân loại.
e. Các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu tranh cùng tồn tại cho hòa
bình:
Nhận thức được đặc điểm và xu hướng của thời đại ngày nay đã cung cấp cho chúng ta cơ sở
khoa học để luận chứng tất yếu hợp quy luật của định hướng xã hội chủ nghĩa. Giúp nắm bắt được
cơ hội, vượt qua thách thức để tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong thời đại mới. Đó là vấn đề sống
còn với Đảng và nhân dân.
B. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC VÀ TRIỂN VỌNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM:
10
Trước hết, chủ nghĩa xã hội khoa học có ý nghĩa là một bộ môn khoa học chính trị - xã hội, bởi
trong nội dung của nó có nhiều quy luật cơ bản của quá trình hình thành và phát triển của cách mạng
xã hội chủ nghĩa, của xã hội xã hội chủ nghĩa (hay chế độ xã hội chủ nghĩa) là cộng sản chủ nghĩa do
đại đa số người lao động trực tiếp tham gia, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã là những quy
luật thì ai muốn vận dụng nó đều phải nghiên cứu một cách đẩy đủ và nghiêm túc, với thái độ thật sự
khoa học (như đối với các môn khoa học khác: toán, hóa, lý, văn, kinh tế…). Đặc biệt, là các Đảng
Cộng sản và các nhà nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
cộng sản thì phải nắm vững, vận dụng đúng đắn sáng tạo và phát triển - cụ thể hóa lý luận của chủ
nghĩa xã hội khoa học vào hoàn cảnh mỗi nước mới có thể đạt được mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng
sản chủ nghĩa. Mà trong các Đảng Cộng sản, nhà nước và trong xã hội, bao giờ cũng có nhiều thế hệ
người kế tiếp nhau. Do đó, các thế hệ kế tiêp nhau đều cần nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học với
những hình thức và nội dung phù hợp với thế hệ mình. Cứ như vậy, các thế hệ mới kế tục và phát
triển ngày càng cao hơn theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Các Đảng Cộng sản và
trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời tích cực phát huy tấm gương Hồ
Chí Minh trong vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin phù hợp với hoàn cảnh Việt
Nam. Chính Mác và Ăng ghen, hơn ai hết đã nhiều lần cảnh báo rằng chủ nghĩa xã hội là một phong
11
trào hiện thực, chứ không phải một khuôn mẫu lý luận bắt hiện thực phải tuân theo. Cách đây hơn
150 năm, trên cơ sở phân tích sự phủ định biện chứng của chủ nghĩa tư bản, các ông đã nêu lên
những nhận thức cơ bản về chủ nghĩa xã hội mà theo chúng tôi, có giá trị và sức sống bền vững. Đó
là quan điểm về chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội của giải phóng và phát triển, của dân chủ và
công bằng xã hội; một chế độ do nhân dân lao động làm chủ, không còn bóc lột, áp bức. Những quan
điểm của Mác-Ăng ghen về chủ nghĩa xã hội, tuy là nền móng rất quan trọng đối với nhận thức của
chúng ta về chủ nghĩa xã hội nhưng đó mới chỉ là những khái quát chung nhất, nhất thiết phải được
cụ thể hoá ''thành xương, thành thịt'' trên từng mảnh đất hiện thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã
có công lao to lớn: nêu lên hàng loạt nhận thức sinh động về chủ nghĩa xã hội. Theo Người, xây
dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một chế độ xã hội sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời
sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ; là làm cho dân có ăn, có mặc, có
nhà ở, ai ai cũng được học hành tiến bộ, được chăm sóc sức khoẻ, được tự do đi lại, được hưởng
quyền dân chủ, có đời sống tươi vui, hạnh phúc, đấy là mục đích của mọi chính sách của Đảng và
Chính phủ.
Trong Di chúc, Người nói rõ điều mong muốn cuối cùng, cũng là hoài bão, khát vọng cả cuộc
đời mà Người đã tranh đấu không mệt mỏi cho dân, cho nước, ấy là xây dựng một nước Việt Nam
hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Đây chính là tính hướng đích sâu xa của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ở đó, là làm tất cả những
gì có ích, có lợi cho cuộc sống của nhân dân, chăm lo phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân, đi liền
với tiết kiệm sức dân. Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân đã từng là phát kiến lý
luận đầy bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh. Thống nhất sức mạnh giai cấp với sức mạnh dân tộc và
thời đại, gắn quyện mật thiết mục tiêu bản chất- động lực của chủ nghĩa xã hội ở sức mạnh của dân
chủ và quyền làm chủ của dân, ở tự do, công bằng và bình đẳng trong sự phát triển hài hoà giữa cá
nhân và xã hội, đó là chiều sâu trong tư duy lý luận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Qua 20 năm đổi mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta ngày càng sáng tỏ hơn. Cho đến nay, Ðảng ta đã bước đầu hình thành được trên những nét cơ bản
IX hoàn chỉnh thêm: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Có thể nói, tư
duy lý luận của Ðảng về dân chủ đã có những bước phát triển quan trọng từ nhận thức dân chủ hóa
và đổi mới hệ thống chính trị ở Ðại hội VI và Ðại hội VII đến Quy chế dân chủ ở cơ sở trong nhiệm
kỳ Ðại hội VIII và đổi mới hệ thống chính trị cơ sở trong nhiệm kỳ của Ðại hội IX.
Chính là nhờ những nhận thức lý luận mới được hình thành và phát triển trong thực tiễn và tổng
kết thực tiễn mà giờ đây chúng ta có thể nói: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng dưới
sự lãnh đạo của Đảng là một xã hội nhằm đi tới ''Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh''. Có thể xem đây là hình dung tổng quát về bản chất, mục tiêu, bao hàm trong đó cả hệ
thống giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc, cả động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Một quan niệm như thế về chủ nghĩa xã hội đã được thể hiện trong tổng kết lý luận - thực tiễn 20
năm đổi mới, trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội X là kết quả tìm tòi, nghiền ngẫm từ thực tiễn
của Đảng và nhân dân ta. Nhờ bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và trở về với thực tiễn mà lý
luận về chủ nghĩa xã hội của Ðảng có được hơi thở, sức sống thực tiễn, phù hợp với cuộc sống và lợi
ích, nhu cầu, nguyện vọng thiết thân của quần chúng. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, thành tựu lý
luận mà Ðảng ta và nhân dân ta đạt được qua thực tiễn 20 năm đổi mới tập trung nổi bật ở quan điểm
về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân, nền dân chủ hướng tới đông đảo quần chúng nhân dân, bảo đảm dân chủ và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Ðảng Cộng sản cầm quyền trong sạch, vững mạnh, coi
đó là khâu then chốt, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực mạnh mẽ và quyết định thành bại của
công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sự xác định đúng đắn những vấn đề trên cho thấy, lý luận, tư duy lý luận của Ðảng về chủ nghĩa
xã hội thấm nhuần tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đã đóng vai trò quan trọng đối với thực tiễn đổi mới, làm nên những thành tựu của đổi mới.
Tuy nhiên, còn không ít những vấn đề lý luận, cả lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, liên quan tới cơ cấu kinh tế, chế độ sở hữu, cơ chế quản lý cũng như lý luận về chính trị,
về Ðảng Cộng sản cầm quyền, nhà nước pháp quyền, hệ thống chính trị, xã hội dân sự chúng ta
cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ. Sự phát triển của thực tiễn và sự nâng cao không ngừng năng
lực tư duy lý luận của Đảng, trình độ nhận thức của xã hội, nhất là của giới lý luận sẽ từng bước góp
phần làm sáng tỏ và đem lại lời giải đầy đủ, thấu đáo hơn những vấn đề đó. Trên tinh thần của đổi
mới, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, chúng ta cần thẳng thắn nhận rõ rằng, lý luận về chủ
Lênin, những mưu toan phủ nhận Mác-Lênin có dụng ý. Sự phê phán này phải thật sự là những
nghiên cứu khoa học khách quan, nghiêm túc nhất, góp phần củng cố niềm tin khoa học với chủ
nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội.
Năm là nghiên cứu những thành tựu khoa học, lý luận mà thế giới đương đại đã và đang đạt
được, từ đó thấy rõ những gì cần phải bổ sung, làm phong phú và sâu sắc thêm kho tàng di sản kinh
điển mácxít.
Sáu là nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần thể hiện
chân thật và sinh động việc thực hành nhất quán, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc sống, từ
trong Ðảng, Nhà nước đến các tổ chức, đoàn thể của hệ thống chính trị, trong đời sống của nhân dân
và trong toàn xã hội.
Bảy là khâu quyết định đối với việc chúng ta có tiếp tục xây dựng nhận thức đúng đắn về chủ
nghĩa xã hội và làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hay không là công tác
nắm bắt kịp thời, tổng kết chính xác thực tiễn kinh tế - xã hội, chính trị, khoa học - kỹ thuật, văn hóa,
tinh thần của thời đại và cuộc sống sôi động của đất nước. Không tiến hành có hiệu quả nhiệm vụ
tổng kết thực tiễn, Đảng và nhân dân ta không thể góp phần tạo ra cho lý luận Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội sinh lực và xung lực trong thời đại mới; càng không thể khai mở
ngày càng sáng tỏ con đường Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục xây dựng nhận thức về chủ nghĩa xã hội và làm sáng tỏ hơn nữa con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta chính là bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước và
bảo đảm thắng lợi của công cuộc đổi mới. Nhìn từ vai trò, vị trí này, vấn đề đang bàn trở nên thật sự
sống còn và cao cả. Ðây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với toàn Ðảng, toàn dân, trong đó có
đội ngũ những người làm công tác lý luận. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng sẽ tiếp tục tiến lên phía
trước trong tư duy và thực hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi chúng ta có sự lãnh đạo của Ðảng
quang vinh đã từng dẫn dắt dân tộc đến nhiều kỳ tích lịch sử, đã khởi xướng và lãnh đạo thành công
14
công cuộc đổi mới 20 năm qua; có nguồn thực tiễn rất năng động và sáng tạo của hơn 80 triệu nhân
dân Việt Nam đã làm nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử qua hai thập kỷ đổi mới. Với
những nhân tố quý báu này, tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta sẽ biến thách thức thành cơ hội, vươn lên ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ của Ðảng, của dân
tộc và phù hợp với xu thế thời đại.
trình đi tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa chứ không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội với tư
cách là một hình thái kinh tế xã hội mà loài người đang vươn tới. Trong tình hình chủ nghĩa xã hội
trì trệ và khủng hoảng do những sai lầm của mô hình cũ thì cải tổ, cải cách, đổi mới là tất yếu. Chỉ có
làm như vậy mới có thể đưa chủ ngĩa xã hội thoát khỏi khủng hoảng, bước vào thời kì phát triển
mới. Trong đó Trung Quốc và Việt Nam là hai nước đã tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới tương
đối thành công nhất. Sự xuất hiện của “Chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỉ XXI” cần phải tiếp tục
nghiên cứu và theo dõi nhưng rõ ràng những biểu hiện đó đã và đang có sự tác động sâu xa vào sức
sống mạnh liệt của chủ nghĩa xã hội hiện thực với các nước Mỹ Latinh, thể hiện bước tiến mới của
chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Đó là một thực tế lịch sử chứng minh cho sức sống và khả năng phát
triển của chủ nghĩa xã hội, củng cố niềm tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là quá trình tất yếu của lịch sử xã hội loài người. Các Đảng Cộng sản
và các nước chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản phải
nắm vững, vận dùng đúng đắn sáng tạo và phát triển, cụ thể hóa lý luận của chủ nghĩa xã hội và hoàn
cảnh mỗi nước mới có thể đạt được mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đồng thời các
thế hệ phải nối tiếp nhau cần nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học với hình thức và nôi dung phù
16
hợp với thế hệ mình. Nhận thức đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng vào thực tiễn phải sử
dụng cả ba bộ phận: triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học. Hơn nữa chính chủ nghĩa
xã hội khoa học là bộ phận quan trọng vì nó nghiên cứu trực tiếp các lực lượng con người – nhân tố
quyết định nhất đối với quá trình cách mạng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hôi, chủ nghĩa
cộng sản với nhiều vấn đề lý luận và thực tiển rất mới mẻ và phức tạp. Bản thân các Đảng Cộng sản
và các nước chủ nghĩa xã hội, nếu coi nhẹ chủ nghĩa xã hội thì không thể lãnh đạo và quản lý đất
nước. Việt Nam nếu kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, nếu vận dụng đúng và phát triển sáng tạo thì
sẽ ổn định và phát triển nhanh chóng trong công cuộc đổi mới
Phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới đang ở một khúc quanh lịch sử, một bước thụt lùi lớn, song
chắc chắn rằng “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá
của lịch sử”. Dù cho hiện nay có những đảo lộn rất lớn, nhưng những đảo lộn ấy không làm bánh xe
lịch sử quay ngược lại, không hề làm thay đổi tính chất và nội dung căn bản của thời đại hiện nay
được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Bởi lẽ, thời đại là một phạm trù
lịch sử có tầm bao quát rộng lớn và phản ánh tổng quát một giai đoạn lớn của lịch sử, mang ý nghĩa