TÀI LIỆU
Chủ nghĩa xã hội
hiện thực và sự vận dụng
chủ nghĩa hiện thực vào
Việt Nam
1
LỜI MỞ ĐẦU
Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu tiên trên thế giới ra đời trong
hoàn cảnh rất đặc biệt, cuộc cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, đến khi
kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai. Liên Xô là nước đi tiên phong trong
việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Cho dù biến cố lịch sử có biến động như thế
nào thì cũng không thể phủ nhận sự thật là Liên Xô và các nước Đông Âu đã
đạt thành tựu to lớn và phát triển rực rỡ trên nhiều phương diện. Chế độ xã
hội chủ nghĩa tạo tiền đề cho trào lưu đấu tranh đòi dân chủ phạm vi toàn
thế giới, thể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân lao động trên rộng khắp
thế giới. Mô hình chủ nghĩa xã hội hện thực đầu tiên xuất hiện ở Nga, sau
khoảng thời gian hơn bảy mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, các nước
đã đạt tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của xã hội trên quy mô lớn.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được đảm bảo ngày càng tốt
hơn. Với công cuộc phát triển kinh tế,văn hóa, Liên Xô trở thành một nước
trình độ học vấn cao. Bước tiến lớn hơn cả về khoa học, chinh phục vũ trụ,
văn hóa,nghệ thuật…chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực không chỉ mở ra một
xu thế mới tất yếu giải phóng dân tộc nó còn đóng vai trò quan trọng quyết
định đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới.Đảng cộng sản
Việt Nam đã thấy được vai trò, sự tích cực và vận dụng mô hình xã hội chủ
nghĩa hiện thực là tất yếu. Chủ nghĩa xã hội đã mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên độc lập dân tộc và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
2
Phần I. Chủ nghĩa xã hội hiện thực
I. Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình chủ nghĩa
trọng của chính sách này.
- Với việc thực hiện NEP thì chủ nghĩa tư bản nhà nước là một trong
những hình thức thích hợp để giúp nước Nga Xô Viết nhanh chóng khắc
phục tình trạng suy sụp kinh tế sau chiến tranh, hạn chế sự phát triển tự phát
của nền sản xuất nhỏ - mầm mống của sự phục hồi chủ nghĩa tư bản. V.I
Lênin cho rằng, thông qua việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, giai cấp
vô sản có thể học tập, kế thừa và phát huy có chọn lọc tất cả những tài sản
vật chất – kỹ thuật và tinh hoa chất xám trong kinh nghiệm sản xuất kinh
doanh của các nhà tư bản cũng như tri thức khoa học – kỹ thuật và trình độ
quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản. Nhà nước vô sản có thể sử dụng
chủ nghĩa tư bản nhà nước như là một hệ thống các chính sách, công cụ,
biện pháp nhằm điều tiết hoạt động của các xí nghiệp tư bản còn tồn tại
trong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mục đích vừa sử dụng, vừa cải tạo
bằng phương pháp hòa bình đối với các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa
và sản xuất nhỏ. Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn có thể coi là
4
một trong những phương thức, phương tiện, con đường có hiệu quả trong
việc thúc đẩy xã hội hóa và làm tăng nhanh lực lượng sản xuất của chủ nghĩa
xã hội.
-Sau khi V.I.Lênin qua đời, đường lối đúng đắn này đã không được quán
triệt và thực hiện đầy đủ. Chính sách kinh tế mới thực hiện chưa được bao
lâu thì từ cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ XX, triệu chứng
một cuộc chiến tranh thế giới mới ngày càng lộ rõ. Trong bối cảnh đó, ngoài
nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, biến nước
Nga lạc hậu thành một cường quốc công nghiệp còn phải xây dựng tiềm lực
quốc phòng, đối phó với nguy cơ chiến tranh. Trong điều kiện như vậy, nhà
nước Xôviết không thể không áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao.
- Trong thực tế, Liên Xô đã thành công rực rỡ trong sự nghiệp công
nghiệp hóa với thời gian ngắn (chưa đầy 20 năm), trong đó đã mất gần 10
năm nội chiến, chống chiến tranh can thiệp và khôi phục kinh tế sau chiến
- Chủ nghĩa xã hội có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế
giới, đóng vai trò quyết định đối với sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa, mở ra
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
6
- Sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đóng vai trò quyết định đẩy lùi nguy cơ
chiến tranh hủy diệt, bảo vệ hòa bình thế giới.
- Chủ nghĩa xã hội còn có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh
đòi dân sinh, dân chủ của nhân dân trong các nước tư bản chủ nghĩa.
II. Sự khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã
hội xôviết và nguyên nhân của nó
1. Sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xô
Viết
Lịch sử xã hội loài người không đi theo con đường thẳng và phong trào
cách mạng cũng không tránh khỏi sai lầm, thất bại hay những thời kỳ thoái
trào. Bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu đi vào thời kỳ khủng hoảng. Từ tháng 4 năm 1989
trở đi, sự đổ vỡ diễn ra liên tiếp ở các nước Đông Âu. Chỉ trong vòng 2 năm,
đến tháng 9 năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và sáu nước Đông
Âu đã bị sụp đổ hoàn toàn. Sự đổ vỡ cũng diễn ra ở Mông Cổ, Anbani, Nam
tư.
2. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ
a/ Nguyên nhân sâu xa
- Là những sai lầm thuộc về mô hình phát triển của chủ nghĩa xã hội
Xôviết. Sau khi V.I.Lênin qua đời, ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không
7
được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hoá tập trung cao độ. Thời
gian đầu, kế hoạch hoá tập trung đã phát huy mạnh mẽ tác dụng, song đã
biến dạng thành kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh
thế giới thứ II, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Trong mô hình này
hoàn toàn chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Từ chủ trương ban đầu là cải tổ kinh tế chuyển nhanh sang cải tổ về chính trị
một cách vô nguyên tắc đã tạo điều kiện cho sự phát triển làn sóng “công
khai”, “dân chủ”, “không có vùng cấm”, phủ định mọi thành tựu của chủ
nghĩa xã hội, gây tâm lý hoang mang cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ
niềm tin của quần chúng đối với chủ nghĩa xã hội. Bằng việc loại bỏ dần
những người không tán thành đường lối sai lầm của cải tổ, nhóm lãnh đạo
cải tổ đã chiếm được các vị trí chủ chốt trong bộ máy Đảng và nhà nước.
- Hai là, chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng
trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và các nước
Đông Âu. Chủ nghĩa đế quốc thường xuyên tiến hành cuộc chiến tranh khi
thì bằng súng đạn, khi bằng “diễn biến hòa bình” chống chủ nghĩa xã hội,
gây ra cuộc chiến tranh lạnh từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Các chiến
lược gia phương Tây đã sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường
lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô
nguyên tắc với Mỹ và phương Tây thể hiện ở “tư duy chính trị mới”. Các thế
lực chống chủ nghĩa xã hội ở bên ngoài theo sát quá trình cải tổ, tìm mọi
9
cách để lái nó theo ý đồ của họ, tác động vào cải tổ cả về tư tưởng, chính trị
và tổ chức.
Tóm lại, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội từ bên
trong là nguyên nhân trực tiếp làm Liên Xô sụp đổ. Hai nguyên nhân này
quyện chặt vào nhau, tác động cùng chiều, tạo nên lực cộng hưởng rất mạnh
và nhanh như một cơn lốc chính trị trực tiếp phá hoại ngôi nhà của chủ nghĩa
xã hội. Tất nhiên, xét cho cùng chính bọn cơ hội, xét lại và phản bội, sự mất
cảnh giác trong hàng ngũ những người cộng sản đã tạo cơ hội bằng vàng cho
chủ nghĩa đế quốc “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trong tình hình
chủ nghĩa xã hội trì trệ và khủng hoảng do sai lầm củamô hình cũ thì cải tổ,
cải cách mở cửa, đổi mới là tất yếu để thoát khỏi khủng hoảng, đưa đất nước
vào thời kỳ phát triển mới. Nhưng vấn đề là ở chỗ, cải cách dựa trên nguyên
hội của sở hữu ngày càng tăng; sự điều tiết của nhà nước đối với kinh tế thị
trường ngày càng hữu hiệu; tính nhân dân và xã hội của nhà nước tăng lên.
Việc giải quyết những vấn đề phúc lợi xã hội và môi trường ngày càng tốt
hơn. Với những đặc điểm trên đây, có thể xem đó là những xã hội quá độ vì
nó chứa đựng trong nó cả các yếu tố của chủ nghĩa tư bản và xã hội tương
lai.
2. Chủ nghĩa xã hội – tương lai của xã hội loài người
a/ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ không có
nghĩa là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội
- Sau sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, các
thế lực chống chủ nghĩa xã hội ra sức tuyên truyền rêu rao về “cái chết của
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác-Lênin”. Song sự phân tích ở các phần
trên cho thấy, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của mô hình
chủ nghĩa xã hội thực tế chứ không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã
hội với tư cách là hình thái kinh tế - xã hội mà loài người đang vươn tới.
Tương lai của loài người vẫn là chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật khách quan
của sự phát triển lịch sử. Tính chất của thời đại hoàn toàn không thay
đổi,loài người vẫn ở trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga
vĩ đại. Các mâu thuẫn của thời đại vẫn tồn tại, chỉ thay đổi hình thức biểu
hiện và đặt ra yêu cầu mới phải giải quyết.
b/ Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, mở cửa, đổi mới
và ngày càng đạt được những thành tựu to lớn.
12
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã có tác
động mạnh mẽ đến các nước xã hội chủ nghĩa còn lại nhưng với sự kiên định
con đường xã hội chủ nghĩa, các nước này không những đứng vững mà còn
thực hiện đổi mới tương đối thành công. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của mình, Trung Quốc và
Việt Nam đã từng bước tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thích hợp.
ASEAN,Đông Á và trở thành thành viên tích cực của các tổ chức này.
- Đảm bảo sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên tất cả các mặt. Sự lãnh đạo của
Đảng cũng dần được đổi mới theo hướng dân chủ và hiệu quả hơn, phù hợp
với điều kiện cụ thể của Trung Quốc và Việt Nam. Công cuộc cải cách của
Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan
trọng. Những định hướng phát triển của Trung Quốc và Việt Nam đều tôn
trọng những giá trị tiến bộ của nhân loại, nghiên cứu và ứng dụng chúng phù
hợp với điều kiện cụ thể trên cơ sở những giá trị nhân đạo cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin. Sự tiến triển thực tế của những cuộc cải cách ở Trung
Quốc và Việt Nam sẽ góp phần quan trọng làm sáng tỏ hơn con đường đổi
mới chủ nghĩa xã hội.
14
c/ Đã xuất hiện những nhân tố mới của xu hướng đi lên chủ nghĩa xã
hội ở một số quốc gia trong thế giới đương đại
- Trong tình hình chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào thì ở nhiều
nơi trên thế giới, nhất là khu vực Mỹ Latinh, từ những năm 1990 đã xuất
hiện xu thế thiên tả và phát triển lên thành một trào lưu vào đầu thế kỷ XXI.
Từ 1998 đến nay, thông qua bầu cử dân chủ, các Chính phủ cánh tả tiến bộ
đã lên cầm quyền ở 11 nước Mỹ Latinh, trong đó có nhiều nước tuyên bố đi
lên chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 2005, Tổng thống Vênêxuêla Hugo Chavez nhiều lần công khai
tuyên bố mục tiêu của cách mạng Vênêxuêla là đưa đất nước đi lên chủ
nghĩa xã hội. Sau khi tái đắc cử trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2006, Tổng
thống Hugo Chavez một lần nữa khẳng định: Vênêxuêla sẽ tiếp tục con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI.Tổng thống Bôlivia Êvô Môralét
nói rằng: chủ nghĩa xã hội là mơ ước của các dân tộc Mỹ Latinh. Êcuađo và
Nicarago cũng tuyên bố lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội.Sự xuất hiện
của “Chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỷ XXI” còn nhiều vấn đề cần phải
tiếp tục nghiên cứu, đánh giá nhưng đó là những biểu hiện về sức sống mãnh
tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con
đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh
tế - xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một giai
16
đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong những
điều kiện và hoàn cảnh khách quan cụ thể nhất định.
Như vậy về mặt lý luận, chúng ta có thể khẳng định sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện
nay là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc, phù hợp
với quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế phát triển của thời
đại.
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn
phát triển của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, do đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đó
cũng có những điểm khác so với trước đây.
Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của
chủ nghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến
những thất bại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Liên xô
và các nước Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm đã
dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chính trị.
Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các
lĩnh vực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa
xã hội là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh
vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng
tâm.
Thực tiễn hơn 10 năm đổi mớỉ nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác
nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên. Đại hội đại biểu lần thứ
VIII của đảng đã khẳng định”xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc
đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và
dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện
nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, với những hậu quả chiến tranh hết
sức nặng nề. Để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu trong một chế
độ mà nhân dân làm chủ, cần có nền kinh tế phát triển cao nhờ lực lượng sản
xuất hiện đại, với quan hệ sản xuất tiên tiến Muốn vậy, phải đẩy mạnh
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa bằng con đường ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây
dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-
nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa
phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu
kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác
lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng;
tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xó hội chủ
nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xó hội chủ nghĩa, đồng thời phát
triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ
quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước
xã hội chủ nghĩa có kinh tế công-nông nghiệp hiện đại văn hoá và khoa học,
kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc.
Thực hiện đường lối kinh tế đó, chúng ta đó đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ
nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, đối với tiểu công nghiệp
và thủ công nghiệp, đối với thương nghiệp nhỏ ở miền Nam. Song, kết quả
19
của cải tạo xã hội chủ nghĩa lại làm cho nền kinh tế đất nước rơi vào tình
trạng khủng hoảng.
Có tình trạng trên đây là do chúng ta đó chủ quan, nóng vội, xác định sai
lầm bước đi; không biết tận đụng và phát triển lực lượng sản xuất đó có; có
những biểu hiện nóng vội, giản đơn trong công cuộc cải tạo xã hội chủ
nghĩa. Hậu quả là những nhân tố khủng hoảng kinh tế - xã hội đó xuất hiện.
hoảng kinh tế - xã hội nảy sinh từ cuối thập kỷ 70, cũng có nhiệm vụ cơ bản
và lâu dài hơn: Đó là xây dựng nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và
xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (24-27-6-1991) đó thông
qua Cương lĩnh trong thời kỳ quá độ lên CNXH (cũn gọi là Cương lĩnh 91)
nêu ra 6 đặc trưng của CNXH: Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là
một xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ;
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;
- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo
năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện cá nhân;
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng
tiến bộ;
21
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế
giới.
Sáu đặc trưng trên đây, bao quát cả sáu lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, vǎn
hóa, con người, dân tộc, quốc tế. Gọi là đặc trưng, bởi lẽ đây là những khác
biệt so với mọi kiểu loại xã hội đó từng tồn tại trong lịch sử, những khác biệt
đem lại sự giải phóng hoàn toàn và triệt để cho dân tộc, cho xã hội và cho
con người.
Đến Đại hội VIII ((28/6-1/7/1996) và Đại hội IX ((19/4-22/4/2001, Đảng
ta vẫn tiếp tục khẳng định: 6 đặc trưng của CNXH. Đến Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng ((18/4-25/4/2006), Đảng ta bổ sung mô hình
đặc trưng CNXH gồm 8 đặc trưng như sau:
- Xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội cụng bằng văn minh.
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
cộng đồng các dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử như lòng yêu
nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết đức tính cần cù… Việc bảo vệ bảo vệ bản
sắc dân tộc gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những
cái hay những cái tiến bộ. Chúng phải kiên quyết chống lại tư tưởng phản
tiến bộ, trái với phương hướng đi lên CNXH.
- Con người được giải phóng áp bức bóc lột, bất công làm theo năng lực
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no hạnh phúc có điều kiện phát triển
toàn diện sống trong môi trường sinh thái trong lành.
Con người là điểm xuất phát và giải phóng con người là mục tiêu
cao nhất trong cuộc cách mạng XHCN.
23
Xã hội XHCN là một liờn hợp xã hội kiểu mới “trong đó sự phát
triển tự do của mới người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả
mọi người’’
Phân phối theo lao động trong xã hội XHCN, là hình thức phân
phối thích hợp nhất để tạo ra sự bình đẳng con người trong xã hội
XHCN được tự do phát triển khả năng, phát biểu ý kiến. Con
người luôn là trung tâm, họ được tạo điều kiện phát triển.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng
tiến bộ.
Mục tiêu cơ bản của mục tiêu của CNXH là xoá bỏ áp bức dân tộc
phấn đấu cho quyền được sống trong hoà bình tự do, hạnh phúc,
bình đẳng của một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc, xây dựng
quan hệ đoàn kết hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc.
Thắng lợi của CNXH cũng phụ thuộc một phần rất quan trọng vào
việc giải quyết các vấn đề dân tộc. Kết hợp chặt chẽ độc lập dân
tộc với CNXH là một vấn đề có tính quy luật của sự phát triển xã
hội trong thời đại ngày nay sự. Sự tồn tại và phát triển của CNXH
đòi hỏi phải giải quyết đúng dắn vấn đề dân tộc sự bình đẳng đoàn
kết của các dân tộc tạo sự liên kết lớn, một khối đại đoàn kết vững
Thông qua quan hệ hợp tác, hữu nghị các nước trên thế giới, chủ nghĩa
mở rộng sự ảnh hưởng của mình giúp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hoà bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ
xã hội. Việt Nam san sằng là bạn của tất cả các nước trên thế giới. Mở rộng
25