Tiểu luận đầu tư quốc tế thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại việt nam từ năm 2007 đến nay thực trạng và giải pháp - Pdf 24

Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và
phụ thuộc chính vào nông nghiệp. Do vậy, vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn
luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và là một trong những mục tiêu hàng đầu
trong định hướng phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã đẩy nhanh quá
trình lưu chuyển dòng vốn trên thế giới, đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI). Ở nước ta, đặc biệt kể từ khi ra nhập WTO, dòng vốn FDI đã góp phần
tạo nên những chuyển biến quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, có một thực tế là
trong khi vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ ngày càng tăng, thì vốn FDI
vào lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp lại có xu hướng giảm, chiếm một tỷ trọng rất nhỏ
trong cơ cấu vốn FDI.
Hơn nữa, so với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các lĩnh vực khác,
hiệu quả thực hiện các dự án FDI trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn rất hạn
chế, chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, thế mạnh của nước ta trong lĩnh vực này.
Xuất phát từ lý do trên, nhóm tiểu luận chúng em đã chọn đề tài: “Thu hút FDI
vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam từ năm 2007 đến nay: Thực trạng và giải
pháp” nhằm nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp đồng
thời đưa ra một số gợi ý góp phần tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực này. Bài tiểu
luận gồm 3 phần chương:
1
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
Chương 1: Tổng quan về FDI và vai trò của FDI trong nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào nông nghiệp tại Việt Nam từ năm 2007
đến nay
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu FDI vào nông nghiệp tại Việt Nam
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ FDI VÀ VÀ VAI TRÒ CỦA FDI
TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu vốn tối thiểu không phải luôn luôn là 10%, phụ thuộc vào
quy định của pháp luật đầu tư từng quốc gia. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ
sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được
quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là
nhà đầu tư gián tiếp.
Theo quy định của Việt Nam: Luật đầu tư năm 2005 không đưa ra khái niệm về
FDI, nhưng có quy định “ Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư tự bỏ
vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”(Điều 3, khoản 2) và “ Đầu tư
nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài
sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”( Điều 3, khoản 12).
Từ hai khái niệm trên có thể hiểu FDI theo tinh thần của luật Đầu tư 2005 là “ FDI là
hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn và tham gia kiểm soát hoạt động
đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật
có liên quan”.
3
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
Nói tóm lại, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ
đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở
một nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.
1.1.2. Đặc điểm của FDI
− FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: theo
cách phân loại FDI của nhiều tài liệu cũng như theo quy định pháp luật của nhiều
nước, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, luật pháp của một số nước (ví dụ như Việt
Nam) quy định trong trường hợp đặc biệt FDI có thể tham gia góp vốn của Nhà nước.
Dù chủ thể là tư nhân hay Nhà nước, cũng cần khẳng định FDI có mục tiêu ưu tiên
hàng đầu là lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư hay là các nước đang phát triển phải đặc
biệt lưu ý khi tiến hành thu hút FDI. Các nước tiếp nhận vốn đầu tư cần phải xây
dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý
để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình,
tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu

doanh nghiệp ở nước nhận dầu tư. Hình thức đầu tư này giúp chủ đầu tư tăng lợi
nhuận bằng các tăng doanh thu mở rộng thị trương ra nước ngoài.
− FDI tìm kiếm thị trường (defensive FDI): nhằm khia thác nguồn lao động rẻ ở các
nước nhận đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy lợi nhuận của các
chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên.
1.1.3.2. Theo định hướng của nước nhận đầu tư
Theo tiêu chí này, FDI được chia thành ba hình thức:
− FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng
cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm trước đây còn phải nhập khẩu. Các
yếu tố ảnh hưởng đến hình thức FDI này là dung lượng thị trường, các rào cản
thương mại của các nước nhận đầu tư và chi phí vận tải.
− FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải
hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn trên thế
5
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư. Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào giá rẻ
của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm.
− FDI theo các định hướng khác của chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thể áp
dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước
mình theo đúng ý đò của mình, ví dụ như tăng cường thu hút FDI để giải quyết tình
trạng thâm hụt cán cân thanh toán.
1.1.3.3. Theo cách thức thâm nhập
Có hai hình thức chủ yếu là đầu tư mới- Greenfield Investment (GI) và mua lại
sáp nhập qua biên giới- Cross-border Merger and Acquisition (M&A)
− Đầu tư mới –GI: Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất
kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư. Hình thức này thường được các nước nhận đầu
tư đánh giá cao vì nó có khả năng tăng thêm vốn, tạo thêm việc làm và giá trị gia tăng
cho nước này.
− Mua lại và sáp nhập qua biên giới -M&A:Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sát

nhiều hình thức pháp lý khác nhau. Ở Việt Nam, FDI được tiến hành dưới các hình
thức pháp lý chủ yếu sau:
− Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến
hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó quy định trách nhiệm chia kết quả kinh
doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
Hình thức FDI này có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư
nước ngoài. Điểm đặc biệt của hình thức này là không hình thành pháp nhân mới (các
bên đối tác thực hiện quyền và nghĩa vụ của hợp đồng với tư cách pháp nhân cũ của
mình). Hình thức này thường áp dụng đối với một số ngành kinh tế đặc biệt như viễ
7
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
thông, dầu khí,… hoặc chỉ áp dụng khi các chủ đầu tư nước ngoài thâm nhập vào một
thị trường mới mà họ chưa biết rõ.
− Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở
hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên, trường hợp đặc biệt có thể
thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước
ngoài, để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.
Trong hình thức FDI này, cụng có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và
chủ đầu tư nước ngoài. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hình thành
pháp nhân mới ở Việt Nam và lag pháp nhân Việt Nam.
− Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Khác với hai hình thức trên, hình thức FDI này không có sự tham gia của chủ
đầu tư Việt Nam. Cũng giống như liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
cũng hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam.
Ngoài ra FDI ở Việt Nam còn được tiến hành bằng các hình thức Xây dựng –
Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO),
Xây dựng – Chuyển giao (BT).
1.2. Vai trò của FDI với phát triển nông nghiệp

hiện đại cho nền kinh tế và ngành nông nghiệp thông qua chuyển giao công nghệ qua
các dự án FDI.
9
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
Công nghệ áp dụng trong nông nghiệp rất đa dạng như công nghệ sinh học phục
vụ sản xuất các giống cây trồng, vật nuôi; công nghệ sản xuất, thu hoạch; công nghệ
chế biến lâm sản; công nghệ phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên đất, nước,
thủy lợi, tưới tiêu…
Áp dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp đã tạo ra các giống cây trồng, vật
nuôi mới phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Công nghệ sản xuất và thu hoạch
góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và thu hoạch sản phẩm. Đối với
nguồn tài nguyên đất, nước, những yếu tố sống còn với sản xuất nông nghiệp, việc
duy trì và nâng cao chất lượng các nguồn tài nguyên này là hết sức quan trọng.
Công nghệ trong thủy lợi, tưới tiêu cũng là một phần hết sức quan trọng trong
phát triển nông nghiệp. Ở các nước đang phát triển, hệ thống thủy lợi thường chưa
đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu nước phục vụ sản xuất. Một số vùng trồng cây công
nghiệp như cà phê, hồ tiêu, người sản xuất cũng không đủ nước cho sản xuất, trong
khi đây lại là những mặt hàng xuất khẩu mang lại giá trị cao cho các quốc gia.
1.2.4. Thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông sản
Khi xem xét yếu tố thị trường tiêu thụ cho sản phẩm, các dự án FDI đầu tư vào
nông nghiệp không chỉ hướng vào phục vụ nhu cầu trong nước mà có tỷ trọng xuất
khẩu nhất định. Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư với mong muốn tận
dụng tới đa lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư để thu lợi nhuận cao sẽ có xu hướng
đẩy mạnh sản xuất hướng về xuất khẩu. Kết quả là, nguồn vốn FDI vào ngành nông
nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu nông sản ở các nước nhận đầu tư.
Ngoài ra, việc thu hút FDI vào nông nghiệp còn giúp tận dụng được lợi thế về
vốn, công nghệ sản xuất của nhà đầu tư nước ngoài, giúp tăng năng suất, chất lượng
sản phẩm, làm tăng khả năng khả năng cạnh tranh, phát triển thương hiệu nông sản
quốc gia trên thị trường thế giới. Bản thân các doanh nghiệp nội địa khác cũng có
10

tư, nếu năm 2007, đầu tư FDI vào nông nghiệp chiếm 5,37% tổng vốn FDI vào Việt
Nam thì đến năm 2008 còn 3%, các năm 2009, 2010, 2011 chỉ còn 1%, còn 0,6%
năm 2012 và 0,49% năm 2013.
Trong giai đoạn 2007 - 2013, nền kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều biến
động khiến hoạt động sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao…
12
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn đóng góp bình quân trên 17% GDP (dù năm 2010
và 2011 tỷ lệ này có giảm xuống còn 16,43% và 16,13%). Năm 2012, ngành nông
nghiệp trở thành “cứu cánh” của nền kinh tế với mức đóng góp 22% GDP.
Có mức đóng góp như vậy, nhưng tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp chỉ chiếm
6,45% vào năm 2008, 6,15% vào năm 2010 và chỉ ở mức 5,98% trong năm 2012.
Tỷ trọng vốn FDI vào nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013
Đơn vị; %
Nông, lâm, ngư nghiệp Các ngành khác
2007 5,37 94,63
2008 3 97
2009 1 99
2010 1 99
2011 1 99
2012 0,6 99,4
2013 0,49 99,51
Nguồn: Tính toán từ báo cáo FDI hàng năm của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư
Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp cũng chỉ đáp ứng
được 40% nhu cầu của toàn ngành và năm 2013, vốn đầu tư cho nông nghiệp có tăng,
nhưng cũng chỉ đáp ứng 50 - 60% nhu cầu của khu vực nông nghiệp.
Trong khi đó, tình hình thu hút FDI vào khu vực nông nghiệp cũng không mấy
thuận lợi. Trong giai đoạn 2007 - 2013, đầu tư FDI vào nông nghiệp chiếm chỉ chiếm
cao nhất là 5,37% (năm 2007), thấp nhất là 0,49% (năm 2013) . Đây là mức quá thấp
so với một ngành có diện tích đất đai, mặt nước… và lực lượng lao động tập trung

9 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 1,082 3,489.75 1,760.81
10 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 501 3,354.23 1,735.13
11 Khai khoáng 81 3,261.85 2,606.43
12 HĐ chuyên môn, KHCN 1,504 1,510.55 892.47
13 Tài chính,n.hàng,bảo hiểm 78 1,322.65 1,172.71
14 Y tế và trợ giúp XH 89 1,311.70 327.28
15 Cấp nước;xử lý chất thải 31 1,285.33 315.71
16 Dịch vụ khác 126 746.70 158.95
17 Giáo dục và đào tạo 171 731.70 169.05
18 Hành chính và dvụ hỗ trợ 117 193.90 101.01
14
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
Tổng số 15,696 230,157.16 78,503.14
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013
Từ những số liệu của năm 2013, ta có thể nhận thấy rằng, các dự án FDI chủ
yếu tập trung vào các ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng, hoạt động nghiên cứu
khoa học kĩ thuật,…là những ngành có tính sinh lợi cao. Trong khi đó, chỉ có 3,18%
số dự án trên đầu tư vào nông nghiệp với 1,45% tổng vốn đầu tư đăng kí, không có
dự án nào có quy mô lớn.
Đánh giá về những con số này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang
Vinh cho rằng, kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng cũng như những đóng
góp của ngành nông nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, theo Bộ trưởng, không chỉ có FDI
vào nông nghiệp giảm, mà doanh nghiệp trong nước cũng chưa "mặn mà" khi đầu tư
vào nông nghiệp.
2.1.2. Vốn đầu tư FDI phân bố không đồng đều giữa các ngành trong nông
nghiệp
Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức ăn
chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư vào trồng
rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả nước có
453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với tổng số

Các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào các tỉnh như: Bình Dương, Đồng
Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Lâm Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số
tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Trong đó, Bình Dương là tỉnh đứng đầu, tiếp
theo là Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Lâm Đồng. Trong khi đó,
những địa phương và khu vực khác lại thu hút FDI rất khó khăn.
2.1.4. Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư và nguồn gốc đầu tư
Những nước có nền nông nghiệp tiên tiến như Mỹ, Australia, Canada đều không
đầu tư vào nông nghiệp Việt Nam. Các nhà đầu tư phần lớn đến từ châu Á (70%),
trong đó 1/3 vốn đăng ký của nhà đầu tư Đài Loan và Hồng Kông. Hiện nay có hơn
50 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI còn hiệu lực trong lĩnh vực nông nghiệp ở
Việt Nam, trong đó các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái
Lan chiếm hơn 60% tổng vốn đăng ký, riêng Đài Loan là 25%. Vốn FDI trong lĩnh
vực nông nghiệp được thực hiện chủ yếu dưới 2 hình thức là:
16
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
− Hình thành doanh nghiệp liên doanh chiếm 22,1%
− Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 77,4%
(Theo Cục Đầu tư nươc ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013)
Các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Pháp, Thái Lan, Hàn Quốc, Xin-ga-po, Mỹ
thường thực hiện đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trong
khi đó, các nhà đầu tư đến từ Pháp, Hồng Kông, Ma-lay-xi-a chủ yếu lựa chọn hình
thức doanh nghiệp liên doanh.
2.2 Hạn chế trong việc thu hút đầu tư FDI vào nông nghiệp
2.2.1. Đầu tư FDI vào nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro
Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện thời tiết, khí
hậu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng đồng
thời cũng đem lại những bất lợi với sự biến đổi bất thường hàng năm kèm theo các
hiện tượng thời tiết như thiên tai, bão lụt, hạn hán gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất.
Thứ hai, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi cũng thường
xuyên chịu ảnh hưởng của dịch bệnh. Các loại sâu bệnh như rầy nây, sâu cuốn lá,…

nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI.
Nông nghiệp Việt Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ với số lượng nông dân rất
đông đảo cùng sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, manh mún và chưa quen với
phương thức sản xuất hàng hóa, đa số nghèo và tâm lý phức tạp. Trong điều kiện sản
xuất nhỏ, phân tán và thiếu gắn kết giữa các hộ nông dân thì ảnh hưởng không thuận
lại càng tăng lên. Phương thức sản xuất không hấp dẫn các nhà đầu tư FDI trong làm
ăn với nông dân ta: Các vùng sản xuất chưa được chuyên môn hóa với kết cấu hạ
18
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
tầng đồng bộ; cơ cấu sản xuất chưa ổn định, thiếu tầm nhìn dài hạn, các chủ thể sản
xuất nông nghiệp chủ yếu là các hộ gia đình với phương thức sản xuất truyền thống,
kỹ thuật giản đơn, chưa được đào tạo về chuyên môn quản lý, kỹ thuật. Họ tự quyết
định đầu tư mua sắm vật tư sản xuất như giống cây, con, phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật, thuốc thú y, trả công lao động, cải tạo đồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn
nuôi…trong điều kiện thiếu các dịch vụ cung ứng chuyên nghiệp đã tạo ra chất lượng
các đầu vào thấp, làm cho sản xuất của nông dân không thể nâng cao năng suất và
chất lượng sản phẩm. Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp vốn là khách quan,
ảnh hưởng không thuận đến động lực đầu tư.
Ngoài ra, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng chưa phát triển đủ mạnh
và toàn tâm phục vụ nông nghiệp, chưa tạo đủ vốn tín dụng cho người sản xuất nông
nghiệp đã làm tăng gánh nặng về vốn tiền mặt ngắn hạn lên các doanh nghiệp nói
chung và nhà đầu tư FDI nói riêng trong việc thu mua sản phẩm của nông dân, dẫn
đến làm suy giảm động lực của họ trong đầu tư vào nông nghiệp. Sản xuất nông
nghiệp chưa hình thành được các chuỗi giá trị bền vững từ cung ứng đầu vào, canh
tác trên đồng ruộng, thu hoạch, đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ, tình trạng chia cắt,
tranh chấp đã tạo ra thị trường nông sản nguyên liệu không lành mạnh, mang tính
phổ biến làm nản lòng các doanh nghiệp và nhà đầu tư FDI.
2.2.3. Nhà nước chưa có chiến lược, định hướng rõ ràng, phù hợp để thu hút FDI
vào nông nghiệp.
Mặc dù nhà nước đã có nhiều chính sách về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trực tiếp

2.2.4. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đối với các nhà đầu tư FDI
trong nông nghiệp thiếu rõ ràng và minh bạch.
20
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
Các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục đầu tư và tổ chức hoạt động
của các dự án FDI trong nông nghiệp chưa tính hết những đặc thù như: chứa đựng
nhiều rủi ro trong kinh doanh; khả năng tiên lượng về thị trường khó khăn; các mối
quan hệ giữa các tác nhân trong triển khai dự án phức tạp hơn so với dự án FDI trong
công nghiệp, xây dựng và thương mại…Các quy định của luật pháp về đầu tư FDI
hiện nay ít phù hợp với ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản. Cơ
chế phối hợp giữa các cơ quan địa phương trong thẩm định, cấp phép dự án chưa
nghiêm túc và rõ ràng, làm nhà đầu tư mất nhiều thời gian, chi phí giao dịch, nhất là
các dự án nhạy cảm về môi trường sinh thái… Các quy định về chính sách ưu đãi và
hỗ trợ đầu tư FDI trong nông nghiệp còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu chỉ
rõ các điều kiện và tiêu chí áp dụng, vì vậy chỉ nằm trên giấy, không vận hành vào
thực tiễn. Hầu hết các dự án FDI trong lĩnh vực này cần vùng nguyên liệu tập trung,
đều gặp phải sự trắc trở, thậm chí là bế tắc trong tiếp cận đất đai. Nhiều dự án trồng
rừng, trồng mía công nghiệp gặp khó khăn do chỉ được giao một phần nhỏ diện tích
đất trồng rừng so với quy định tại giấy phép đầu tư. Các dự án trồng và chế biến rau
quả gặp cản trở trong thuê đất và quan hệ với nông dân về đất đai. Các dự án thủy
sản gặp khó khăn trong giao mặt nước cho nuôi trồng thủy sản ở các vùng biển do trở
ngại về môi trường sinh thái trong điều kiện năng lực quản lý của Việt Nam còn hạn
chế. Chính sách tín dụng chưa hỗ trợ cho các dự án FDI; các hoạt động tín dụng tại
chỗ chưa hậu thuẫn cho triển khai các dự án FDI, cho rằng chủ đầu tư không cần
nguồn tín dụng này…
2.2.5. Tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam còn
nhiều vấn đề mâu thuẫn, phức tạp khó xử lý.
Tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu về nguyên liệu cho chế biến nông sản
diễn ra phổ biến, liên tục và ngày càng nan giải. Tình trạng nông dân không gắn hoạt
động sản xuất nông sản nguyên liệu của họ với hoạt động thu mua, chế biến của các

- Tiếp tục duy trì và mở rộng các ưu đãi, hỗ trợ hiện hành đối với các dự án
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cần loại bỏ các tiêu chí về khuyến khích xuất
khẩu và ưu tiên sử dụng nguyên liệu trong nước;
- Tăng cường các biện pháp hỗ trợ thuộc hộp xanh lá cây. Bao gồm: các biện
pháp cho nông dân vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu nông sản
phục vụ công nghiệp chế biến; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển
giao công nghệ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản; áp dụng hạn ngạch thuế
quan thay thế cho biện pháp cấm và áp dụng hạn ngạch về khối lượng nhập khẩu đối
với một số mặt hàng như đường, sữa đồng thời đánh thuế nhập khẩu theo mùa; áp
dụng thuế suất thuế nhập khẩu cao đối nhập khẩu nguyên thô phục vụ chế biến như
đường thô, sữa bột…
- Tiếp tục áp dụng biện pháp ưu đãi thuế thu nhập đối với các dự án đầu tư
ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất các loại giống mới, dự án phát triển kết
cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp.
23
Thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam Nhóm 6
- Có chính sách trợ cấp cho nông dân và các doanh nghiệp nông nghiệp khi bị
tổn thất vì thiên tai, bị rủi ro về biến động giá thị trường nông sản. Trong điều kiện
hạn chế về tài chính, cần tiếp tục nghiên cứu giải pháp hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng nông nghiệp nhằm tăng năng lực phòng chống thiên tai, hạn chế rủi ro dịch
bệnh, biến động giá nông sản… Chú trọng biện pháp lập và sử dụng quỹ bảo hiểm
nông nghiệp cho các trường hợp này.
3.2. Chính sách vốn tín dụng cho dự án FDI
Hiện nay nguồn vốn tín dụng cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu từ các nguồn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân,
ngân hàng người nghèo, các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia và nguồn của một
số ngân hàng cổ phần hoạt động ở nông thôn, điển hình là ngân hàng Liênvietbank…
nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nông dân và doanh nghiệp. Do vậy, cần phát
triển mở rộng phần cung của thị trường vốn tín dụng tại các vùng nông nghiệp nói
chung và vùng có các dự án FDI nói riêng theo những hướng sau:

- Từng địa phương tiến hành quy hoạch lại việc sử dụng các loại đất của các
dự án FDI trong nông nghiệp và xác định kế hoạch sử dụng đất lâu dài cho từng dự
án FDI trong nông nghiệp trên địa bàn và chính thức hóa vào hồ sơ rà soát quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
3.4. Chính sách hỗ trợ nhà đầu tư FDI phát triển vùng nguyên liệu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status