TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Môn học
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG
BTKN
Chủ đề : NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN
Nhóm: 04
Sinh viên Mã số sinh viên
1 Võ Bình Thuận 91202221
2 Trần Thanh Lam 91202104
3 Nguyễn Huỳnh Thanh Sơn 91202187
4 Nguyễn Huỳnh Thảo Uyên 91202262
5 Nguyễn Tú Trinh 91202244
6 Bùi Tấn Phong 91202173
Nộp bài: 23g30 ngày 27/8/2014
Tp. Hồ Chí Minh
I Lời mở đầu .
1 / Năng lượng hạt nhân
Năng lượng hạt nhân là một loại công nghệ hạt nhân được thiết kế để tách
năng lượng hữu ích từ hạt nhân nguyên tử thông qua các lò phản ứng hạt nhân có
kiểm soát. Phương pháp duy nhất được sử dụng hiện nay là phân hạch hạt nhân,
mặc dù các phương pháp khác có thể bao gồm tổng hợp hạt nhân và phân rã phóng
xạ. Tất cả các lò phản ứng với nhiều kích thước và mục đích sử dụng khác nhau
đều dùng nước được nung nóng để tạo ra hơi nước và sau đó được chuyển thành
cơ năng để phát điện hoặc tạo lực đẩy. Năm 2007, 14% lượng điện trên thế giới
được sản xuất từ năng lượng hạt nhân. Có hơn 150 tàu chạy bằng năng lượng hạt
nhân và một vài tên lửa đồng vị phóng xạ đã được sản xuất.
2/ Làm sao để tạo ra năng lượng hạt nhân?
Ngoài thiên nhiên nguyên tử uranium có tất cả ba đồng vị : 99,3 phần trăm
đồng vị
Thứ nhất: Không phổ biến
Chiếu theo hiệp ước, có năm quốc gia được phép sở hữu vũ khí hạt
nhân: Pháp (ký năm 1992), Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1992), Liên
Xô (1968; nghĩa vụ và quyền lợi nay được chuyển cho Liên bang
Nga), Anh (1968) và Hoa Kỳ (1968). Đây là các nước đang sở hữu vũ khí hạt nhân
vào thời điểm hiệp ước được ký kết, cũng là các quốc gia thành viên thường trực
của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Năm nước này thoả thuận không chuyển
giao kỹ thuật hạt nhân cho các nước khác, và các quốc gia không có vũ khí hạt
nhân cũng đồng ý không mưu cầu có vũ khí hạt nhân.
Năm quốc gia có vũ khí hạt nhân (VKHN) cam kết không sử dụng chúng để chống
lại các nước không có VKHN trừ khi phải đánh trả một cuộc tấn công hạt nhân
hoặc một cuộc tấn công qui ước có liên minh với quốc gia có VKHN. Tuy vậy,
những cam kết này không được chính thức đưa vào hiệp ước, trong khi các chi tiết
chính xác lại thường thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn như Hoa Kỳ từng ra chỉ
dấu rằng nước này có thể sử dụng VKHN để đáp trả một cuộc tấn công phi qui
ước bởi các "nước lưu manh" (rogue state). CựuBộ trưởng Quốc phòng
Anh, Geoff Hoon, công khai nói đến khả năng sử dụng VKHN nhằm đáp trả các
cuộc tấn công không qui ước bởi các "nước lưu manh". Tháng 1 năm 2006, Tổng
thống Pháp, Jacques Chirac, ngụ ý rằng các cuộc tấn công khủng bố được những
quốc gia khác bảo trợ, nếu xảy ra trên đất Pháp, có thể dẫn đến những cuộc tấn
công trả đũa bằng VKHN cỡ nhỏ nhắm vào những trung tâm của các "nước lưu
manh".
Thứ hai: Giải trừ quân bị
Điều VI và lời nói đầu chỉ ra rằng các nước có VKHN theo đuổi mục tiêu cắt giảm
và loại bỏ kho vũ khí của họ; điều khoản này của hiệp ước cũng kêu gọi tiến đến
" một hiệp ước giải giới toàn diện được đặt dưới sự kiểm soát quốc tế nghiêm
ngặt và hiệu quả". Trong Điều I, các nước có VKHN tuyên bố không "xúi giục các
nước không có VKNH tìm cách sở hữu loại vũ khí này". Chủ thuyết tấn công để
ngăn chặn và các động thái đe doạ khác có thể được hiểu bởi các nước không có
VKHN là hành động xúi giục. Điều X công bố rằng bất kỳ quốc gia nào cũng có
chỉ đối với sự phát triển kinh tế bền vững toàn cầu, mà còn tiềm ẩn
nguy cơ gây xung đột khu vực như vùng Vịnh, Biển Ðông
• Năng lượng hạt nhân là một giải pháp kinh tế, an toàn và là nguồn
năng lượng sạch đảm bảo sự phát triển bền vững trong việc thỏa mãn
nhu cầu điện năng đang tăng mạnh trên toàn cầu.
• Lò phản ứng hạt nhân thực sự không phát thải, sử dụng chúng để
phát điện có thể giúp kiềm chế được mối nguy hiểm nóng lên toàn
cầu và thay đổi khí hậu. Bất kỳ một chiến lược nào thực sự muốn
ngăn chặn mối đe dọa chưa từng có này đều cần đến năng lượng hạt
nhân.
• Chất thải phóng xạ không phải là điểm yếu mà là đặc thù của năng
lượng hạt nhân.So với lượng thải khổng lồ của năng lượng hóa thạch
vào khí quyển, lượng chất thải hạt nhân nhỏ, được quản lý tốt và có
thể cất giữ mà không gây nguy hại cho con người mà môi trường.
• Điện hạt nhân có thành tích an toàn xuất sắc hơn hẳn so với các công
nghiệp năng lượng khác trong quãng kinh nghiệm vận hành trên
110.000 lò.
• Vận chuyển vật liệu hạt nhân, đặc biệt là nhiên liệu mới, nhiên liệu
đã qua sử dụng và chất thải, trong suốt bốn thập kỷ qua hiếm khi gây
rò thoát phóng xạ, thậm chí cả khi có tai nạn.
• Phát điện bằng năng lượng hạt nhân không làm tăng nguy cơ phổ
biến vũ khí hạt nhân. Chế độ thanh sát quốc tế mà Liên hiệp quốc
được uỷ quyền thi hành và được hỗ trợ bởi hoạt động thanh tra đột
xuất có thể phát hiện được mọi ý đồ muốn chuyển thiết bị và nhiên
liệu hạt nhân dân sự sang mục đích quân sự
• Điện hạt nhân có thể cạnh tranh bằng kinh tế và sẽ cạnh tranh hơn khi
tính đến chi phí môi trường liên quan đến những tổn hại do phát thải
Carbon.
• Công nghệ năng lượng hạt nhân tiên tiến và đa dạng tạo điều kiện
phát triển tương lai bền vững cả ở nước công nghiệp và nước đang
Nhưng nếu được sử dụng một cách chính xác, thì những tia phóng xạ này trở nên
là một công cụ rất hữu ích để chữa bệnh cho con người…
Bác sĩ Trần Quang Sáng:
“Tất cả những cái áp dụng trong y học thì cũng sử dụng từ những cái hiểu
biết trong thiên nhiên. Tức là cũng là cái chất, có mang chất đồng vị phóng xạ, thí
dụ như chất radioactive iodine, nó cũng là một chất iodine nhưng có mang chất
phóng xạ”.
Thì cũng chính trong y học sử dụng chất này để chữa những bệnh về tuyến giáp
trạng. Vì khi đưa chất này vào trong tuyến giáp trạng thì tia phóng xạ sẽ làm tiêu
hủy tuyến giáp trạng, trong trường hợp cần phải huỷ diệt tuyến giáp trạng do
những bệnh bướu, v.v thì người ta sử dụng.
Đó là một ví dụ, những ví dụ khác thì người ta có thể sử dụng những tia phóng xạ,
phát xuất từ chất gọi là Coban. Coban phóng ra những tia và người ta có thể sử
dụng những tia đó để nhắm vào tiêu diệt những bướu ung thư, v.v ”
Giáo sư Kim Kearfott, chuyên gia nghiên cứu về năng lượng nguyên tử hàng đầu
của Hoa kỳ hiện đang làm việc tại Khoa Vật lý Hạt nhân thuộc Đại học Michigan,
Hoa kỳ, phân tích những ứng dụng của hạt nhân trong y khoa.
Trước tiên là ở khâu chẩn đoán xét nghiệm y khoa. Theo ứng dụng này, một lượng
nhỏ nguyên tử được đưa vào cơ thể để theo dõi sự hoạt động của các bộ phận bên
trong cơ thể, dưới các hình thức phổ biến như: chụp X-quang, hay làm CT Scan.
Giáo Kearfott nói:
“Một lần chụp X-quang phổi, trung bình sử dụng khoảng một lượng phóng xạ từ
100 đến 600 microsievert. Nhưng đối với các xét nghiệm như chụp cắp lớp CT
Scan thì lượng phóng xạ cao hơn vào khoảng 10,000 microsievert. Nói chung là số
lượng phóng xạ sử dụng trong các kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán tùy thuộc vào
từng loại xét nghiệm khác nhau.”
Ứng dụng kế tiếp của phóng xạ trong y khoa là dùng để khử trùng diệt khuẩn đối
với các thiết bị giải phẫu. Ngoài ra nó còn được sử dụng tại các phòng Lab để thực
hiện các xét nghiệm và trong một số nghiên cứu y khoa.
Nhưng quan trọng nhất là việc sử dụng một số loại tia phóng xạ để điều trị các
hạt nhân được coi là sự lựa chọn tối ưu và là động lực chính của quá trình CNH –
HĐH của Việt Nam trong tương lai.
Mặc dù hiện nay trên thế giới còn khá nhiều ý kiến phản đối việc mở rộng
và phát triển các nhà máy điện hạt nhân, nhưng những đóng góp to lớn của lĩnh
vực này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia là không thể phủ
nhận. Quyết định 01/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phê
duyệt Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình, trong đó
khẳng định: Đến năm 2020 nước ta sẽ hoàn thành xây dựng và đưa nhà máy điện
hạt nhân đầu tiên đi vào hoạt động, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
Tuy lĩnh vực này đòi hỏi có trình độ khoa học kỹ thuật cao, nếu không kiểm soát
nghiêm ngặt dễ xảy ra sự cố nghiêm trọng. Nhưng, hầu như dư luận đều cho rằng
đây là nguồn năng lượng có tương lai rộng lớn của thế giới. Hiện nay thị trường
điện hạt nhân thế giới tới 500 tỉ USD và các nước công nghiệp tiên tiến đều sử
dụng nguồn năng lượng này.
Số liệu thống kê của Cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới cho biết tính tới năm
2011 toàn thế giới có tới 442 lò phản ứng điện hạt nhân, chiếm 16% tổng lượng
cấp điện toàn cầu. Đứng đầu là Mỹ có tới 104 lò phản ứng hạt nhân và cung cấp
20% điện hạt nhân cho ngành điện lực trong nước. Tiếp đó là Pháp 58 lò điện hạt
nhân, Nhật Bản 54, Nga 32, Hàn Quốc 21, Ấn Độ 20, Trung Quốc 17. Các nước
thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển – OECD có lượng điện hạt nhân
chiếm trên 20%, điện hạt nhân của Pháp chiếm trên 75%.
Sau sự cố của Nhà máy điện Fukushima –Daiichi ở Nhật Bản năm 2011, thì dân
chúng nhiều nước phản đối việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân vì lo sợ về sự an
toàn của các Nhà máy điện này. Tại Mỹ, Tổng thống Obama nói: “Từ bài học của
Nhật Bản, tôi đã lệnh cho cơ quan an toàn năng lượng hạt nhân lập tức nâng cấp
an toàn các nhà máy điện để có khả năng chống được cấp độ động đất nhất định”.
Tiếp đó, Trưởng ban năng lượng EU Guenther Oettinger ngày 15/3/2011 cho biết:
các nước EU có cuộc họp khẩn cấp và đều nhất trí tiến hành kiểm tra an toàn của
150 lò phản ứng hạt nhân của EU. Chính phủ Thụy Sĩ ngày 15/3/2011 cho biết
ngừng kế hoạch thay thế nhà máy điện đã hoạt động lâu năm để kiểm tra an toàn.
hình động cơ hạt nhân nhỏ, được thiết kế để cung cấp năng lượng cho các tàu vũ
trụ trong tương lai.
Nhóm nghiên cứu thuộc NASA và Bộ Năng lượng Mỹ tin tưởng động cơ hạt nhân
được thiết kế dựa trên công nghệ cũ có thể được sử dụng cho tàu vũ trụ để thực
hiện những sứ mệnh thám hiểm xa hơn trong không gian.
Động cơ hạt nhân sẽ sử dụng pin uranium hạt nhân nặng khoảng 22,5kg để tạo ra
sức nóng và sau đó được truyền tới 8 động cơ Stirling để tạo ra khoảng 500W
năng lượng điện. Trong cuộc thử nghiểm mới đây, động cơ đã tạo ra được 24W,
trong khi, các tàu vũ trụ thông thường cần khoảng từ 600W đến 700W.
Với việc thử nghiệm thành công động cơ hạt nhân, NASA hy vọng có thể khám
phá được toàn bộ Hệ mặt trời trong tương lai. Trong vài thập kỳ vừa qua, NASA
đã dử dụng plutonium-238 để cung cấp năng lượng cho các tàu thăm dò sâu trong
vũ trụ, bao gồm Voyager và Cassini – hiện đang quay quanh sao Thổ.
Vệ tinh sử dụng phản ứng hạt nhân làm nguòn năng lượng phát điện, trên
biển có vệ tinh giám sát hải dương theo kiểu rađa của Liên Xô (cũ), vệ tinh khí
tượng, vệ tinh dẫn đường và nghiên cứu vũ trụ của Mỹ… Theo một ý nghĩa nhất
định, mỗi vệ tinh sử dụng năng lượng hạt nhân giống như một nhà máy điện hạt
nhân cỡ nhỏ bay quanh Quả đất. Ở trên mặt đất, vấn đề an toàn của Nhà máy điện
nguyên tử hạt nhân thường được người ta đặc biệt chú trọng. Vậy nếu vệ tinh chạy
bằng năng lượng hạt nhân bị rơi thì tình hình gì sẽ xảy ra?.
Vấn đề mọi người nghi ngại trên đây đã được các công trình sư thiết kế vệ
tinh lo liệu từ lâu. Ví dụ như vệ tinh giám sát hải dương của Liên Xô (cũ) chẳng
hạn. Để cung cấp điện cho ra đa có đường kính lớn, các chuyên gia đã lắp đặt thiết
bị phản ứng cỡ nhỏ, bên trong có 19kg Urani là 90%, nhiệt độ làm việc của thiết bị
phản ứng lên tới 177
o
C, chuyển hoá nhiệt năng thành điện năng, bảo đảm cho vệ
tinh làm việc bình thường. Tuổi thọ làm việc theo thiết kế của loại vệ tinh này từ
20-70 ngày không giống nhau, Trong thời gian đó, căn cứ theo trình độ phát triển
của kỹ thuật hạt nhân hiện nay, lượng nhiên liệu trong thiết bị phản ứng chỉ cháy
• />ke-huy-diet-nhan-loai-2011100412563854.chn
• />cuu/178-nang-luong-hat-nhan.html