SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
  
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 11:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS BÙI VĂN MƯA BÙI NGỌC LAN ANH
LỚP: CHKT K20 ĐÊM 1
STT: 04 - NHÓM 1
Tp.Hồ Chí Minh, 2011
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
  
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………

tư tưởng đó. Áp dụng “Đức Trị” và “Pháp Trị” trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Việt Nam 25
Tư tưởng Phật Giáo của Ấn Độ thì cũng đã du nhập vào Việt Nam từ lâu và cho đến
hôm nay đã phát triển mạnh mẽ. Việt Nam cũng là một trong những nước có số
lượng tín đồ Phật Giáo rất đông. Có thể nói Đạo Phật đã góp một phần quan trọng
trong việc giáo dục tư tưởng con người chúng ta, dạy chúng ta biết yêu thương và
giúp đỡ nhau hơn, cùng hướng về một thế giới tốt đẹp mà ở đó giá trị đạo đức được
đưa lên hàng đầu và con người sống không tranh giành quyền lực, không tham, sân,
si 25
3
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Qua việc nghiên cứu tiểu luận này, đã giúp em hiểu sâu sắc hơn về nền Triết học
phương Đông nói chung và Triết học Trung Quốc cố đại cũng như Triết học Ấn Độ
cổ đại nói riêng. Từ đó sẽ vận dụng các tư tưởng, học thuyết đó vào thực tiễn cuộc
sống để suy nghĩ và giải quyết vấn đề logic hơn 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
4
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc
chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa
học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Lịch sử
Triết học đã trãi qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát
triển đến đỉnh cao như giai đoạn triết học của Arixtốt, Đêmôcrít và Platôn
nhưng cũng có lúc biến thành một môn của thần học theo chủ nghĩa kinh
viện trong một xã hội tôn giáo bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV.
Sự phát triển của Triết học là sự phát triển song song giữa hai nền Triết học

Đề tài này giúp cho học viên cao học hiểu rõ hơn về nền Triết học Phương
Đông, chủ yếu là Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Chủ
yếu là học viên đi sâu vào sự tương đồng và khác biệt giữa hai nền Triết học
này để có sự hiểu biết đúng đắn và sâu sắc. Đồng thời, qua đó học viên nâng
cao trình độ tư duy lí luận và vận dụng sáng tạo tư duy biện chứng vào lĩnh vực
công tác chuyên môn của chính mình.
5 Cấu trúc nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Chương 2: Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Chương 3: Sự khác biệt giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
6
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Chương 1: Cơ sở lí luận về triết học Ấn độ cổ đại và
Trung Quốc cổ đại
  
1. Khái quát triết học Phương Đông cổ đại
Lịch sử triết học Phương Đông nổi bật với hai hệ thống triết học lớn là triết
học Ấn Độ và triết học Trung Quốc
Quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại trải qua hai
thời kỳ chính: Thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV đến thể kỷ VIII TCN) và thời
kỳ cổ điển (còn gọi là thời kỳ Bàlamôn – phật giáo, khoảng thế kỷ VI TCN đến
thế kỷ VI).
Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ đại là quan tâm giải
quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng
nội", đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói:
sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết
học Ấn Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết
triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều

• Điều kiện kinh tế - xã hội: Xã hội Ấn Độ cổ đại ra đời sớm, có điều kiện
và dân cư rất đa dạng. Ấn Độ cổ - Trung đại được chia thành 4 thời kỳ: Thời
kỳ văn minh sông Ấn, thời kỳ văn minh Vêđa, thời kỳ các vương triều độc
lập và thời kỳ các vương triều lệ thuộc. Từ trong nền văn minh sông Ấn của
người bản địa Đraviđa xa xưa, nhà nước Ấn Độ cổ đã xuất hiện, đến thế kỷ
XVII trước công nguyên, thiên tai (lũ lụt trên sông Ấn…) đã làm cho nền
văn minh này sụp đổ. Vào khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên, các bộ lạc
du mục Arya ở Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ. Họ định canh, định cư và tiến
hành quá trình nô dịch, đồng hóa, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa Đraviđa.
Kinh tế tiêu biểu nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp mang tính tự
cung, tự cấp, lấy gia đình, gia tộc của người Arya làm cơ sở, đã tạo nền tảng
vững chắc cho các công xã nông thôn ra đời. Trong mô hình của công xã
nông thôn đã hình thành bốn đẳng cấp với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt
và dai dẳng; ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước của các đế vương;
nhà nước kết hợp với Tôn giáo thống trị nhân dân và bóc lột nông nô công
xã; tôn giáo bao trùm mọi mặt của đời sống xã hội; con người sống nặng về
tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát. Sư phân biệt về đẳng cấp,
chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp v.v… đã tạo ra những xung đột
8
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
ngấm ngầm trong xã hội nhưng bị kìm giữ bởi sức mạnh tinh thần của nhà
nước – tôn giáo. Xã hội phát triển một cách chậm chạp và nặng nề.
• Điều kiện về văn hóa: Văn hóa Ấn Độ được hình thành và phát triển trên
cơ sở điều kiện tự nhiên và hiện thực xã hội. Người Ấn Độ cổ đại đã tích
lũy được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được
hiện tượng nhật thực, nguyệt thực ở đây, toán học xuất hiện sớm: phát
minh ra số thập phân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép
khai căn, giải phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất hiện những danh y
nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc. Chữ viết

ràng buộc của nghi lễ và bàn đến những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự.
-Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ cổ điển (hay Bà la môn và Phật giáo): Thế kỷ thứ
7 TCN đến thế kỷ 6 SCN. Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô lệ Ấn Độ đã
phát triển cao, nhưng vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ chức
công xã nông thôn, cùng sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế
trung ương tập quyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp. Trong lĩnh vực
tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính
thống, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Các trào lưu triết học thời kỳ
này với khuynh hướng đa dạng, đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau,
vừa mang tính chất triết học, vừa mang đậm màu sắc tôn giáo.
Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất là cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo
lên đến đỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Vêđa. Từ đó đã
hình thành cách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trường phái
triết học thành hai phái chính:
+ Hệ thống chính thống bảo vệ cho chế độ đẳng cấp xã hội thừa nhận uy thế
của kinh Vêđa (có 6 trường phái): 1) Samkhya, 2) Nyaya, 3) Vaisêsika, 4)
Mimamsa, 5) Yoga và 6) Védanta.
+ Phái triết học không chính thống (Nastika) bác bỏ uy thế tối cao của kinh
Vêđa, đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: 1) Các trường phái triết học
vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông ấn và
trường phái triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái
lạc Charvaka; 2) Phật giáo và 3) Đạo Jaina.
d) Nội dung cơ bản của Triết học Ấn Độ cổ đại
Tư tưởng Triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy chủ yếu bàn về Thế
giới quan và Nhân sinh quan.
10
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
1/- Thế giới quan: (Thế giới quan: Quan niệm của con người về thế giới:

Lý giải: Khi người ta chết thì chết về thể xác, còn linh hồn bất tử,
còn sống đầu thai sang kiếp khác.
 Nghiệp báo: là cái do hành động của ta gây ra, trong cuộc đời
hiện hữu của mỗi người đều phải gánh chịu hậu quả của những hành vi do
kiếp trước gây ra. Đạo Phật cho rằng một người tu nhân, tích đức ở kiếp này,
đời này thì đời sau thiện báo, còn đời này ác thì đời sau ác báo: Thiện giả 
11
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Thiện báo; Ác giả  Ác báo. Cuộc đời con người trong vòng số kiếp kiếp
này là quả của kiếp trước và lại là nhân của kiếp sau.
Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý.
Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm
nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà
bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể.
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo,
độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã
hội của những con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.
b) Thuyết tứ diệu đế:
Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế là đạo lý căn bản của
Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý
Phật. Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
• Khổ đế : Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy
vì sao mà khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Theo
cách phân tích khác, Phật chia cái khổ ra làm 8 loại: Sinh, lão, bệnh, tử, Ái
biệt ly, Sở cầu bất đắc, Oán tăng hội, Ngũ uẩn
• Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ,
gồm ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) còn gọi là tam độc, là nguồn gốc
của mọi sự khổ. Nhân đế được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên
để thấy được nguồn gốc của sự vật trong thế gian gồm: Vô minh, Hành,

Thời Xuân thu: 3 thế kỷ với 483 cuộc chiến tranh.
Mạnh Tử: “Đánh nhau tranh thành thì thây chất đầy thành, đánh nhau giành
đất thì thây chất đầy đồng”.
b) Các đặc điểm Triết học Trung Quốc cổ đại
1. Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức
Thường những nhà triết học là những nhà chính trị, những ông quan tham
mưu cho các vương triều đình – có đạo đức tiêu biểu cho xã hội đương thời –
như Khổng Tử.
2. Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu,
Chiến quốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất có nhiều học thuyết gọi thời kỳ
này là “Bách gia chu tử, trăm nhà trăm thấy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà
đua tiếng”
3. Vấn đề cơ bản của triết học
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nói chung, trong triết học Trung Hoa nói
riêng là mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân.
13
Bùi Ngọc Lan Anh
5
Hán nho
3 TCN
Chiến
quốc
8 TCN
Chiếm hữu nô lệ
21 TCN
Chiếm hữu nô lệ suy tàn
Chế độ phong kiến hình thành phát triển
Khổng Tử: Mạnh Tử, Tuân Tử
Xuân
thu

của Huyền học do Đạo làm chủ. Rồi tiếp theo là sự vươn lên của Phật học do
Phật giáo làm chủ. Sự phát triển mạnh tư tưởng triết học thời kỳ này là cơ sở
để dân tộc Trung Hoa sáng tạo nên một nền văn hóa huy hoàng trong thời kỳ
cực thịnh của xã hội phong kiến Trung Quốc. Đến thời Tống, Nho học lại
được đề cao và phát triển đến đỉnh cao. Hình thức biểu hiện của nó là Lý học
14
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
– dung hợp đạo Phật vào Nho. Các nhà tư tưởng đời Thanh như Hoàng Tông
Hy, Cố Viêm Võ, Vương Phu Chi đề xướng Thực học, tiến hành tổng kết
một cách duy vật các cuộc tranh cãi hơn nghìn năm về hữu và vô (động và
tỉnh), tâm và vật (tri và hành)… Như vậy, sự phát triển của triết học Trung
Hoa cổ - trung đại là một quá trình đan xen, thâm nhập lẫn nhau của các
trường phái.
d) Nội dung cơ bản triết học Trung Quốc cổ đại
Học thuyết nho giáo
Khổng tử là người sáng lập ra nho giáo vào cuối thời kỳ Xuân thu là thời kỳ
mà người ta rất quan tâm đến đạo đức, chính trị, xã hội. Ông coi hoạt động
đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự xã hội và hoàn
thiện nhân cách cá nhân cho con người. Đến thời chiến quốc, do bất đồng
về bản tính con người mà nho giáo bị chia thành 8 phái, trong đó có phái
của Tôn tử và phái của Mạnh tử là mạnh nhất. Mạnh tử có nhiều đóng góp
đáng kể cho sự phát triển của nho giáo nguyên thủy, ông đã khép lại một
giai đoạn quan trọng – giai đoạn hình thành nho giáo, nho giáo Khổng –
Mạnh còn được gọi là nho giáo nguyên thủy hay nho giáo tiên Tần.
Nội dung cơ bản của Nho giáo: Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là phải đào
tạo cho được những người cai trị kiểu mẫu – người Quân tử (Quân = cai trị;
Quân tử = người cai trị). Để trở thành người quân tử, trước hết là phải tu
thân. Có ba tiêu chuẩn chính:
1. Đạt “đạo”: Đạo là con đường, là những mối quan hệ mà con người phải

Học thuyết đạo gia
Đạo gia được Lão tử sáng lập ra và sau đó được Trang tử phát triển thêm vào
thời Chiến quốc. Kinh điển của Đạo gia chủ yếu tập trung lại trong bộ Đạo
đức kinh do Lão Tử soạn và Nam hoa kinh do Trang tử và một số người
theo Đạo gia viết. Trong đó Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên
vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để
chỉ con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong
thế giới. Đức là phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của
đạo, là cái hình thức nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với
nhau đó là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật. Đạo gia xem xét đạo không
chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang, và sẽ tồn
tại trong thế giới. Điều này cho phép hiểu đạo như nguyên lý thống nhất –
vận hành của vạn vật – đạo lý – nguyên lý đạo pháp tự nhiên. Đạo vừa mang
tính khách quan,vừa mang tính phổ biến; vì vậy trong thế giới, không đâu
16
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
không có đạo, không ai không theo đạo. Quan niệm về đạo, đức của trường
phái Đạo gia thể hiện một trình độ khái quát cao của tư duy biện chứng khi
giải quyết vấn đề bản nguyên của thế giới.
Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động biến đổi theo hai quy luật: quy luật bình
quân và quy luật phản phục. Luật bình quân là luôn cho sự vật được cân
bằng theo một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập.
Luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì quay trở lại phương hướng
cũ. Đây là quản điểm biện chứng mang tính máy móc đơn giản. Vạn vật chỉ
vận động tuần hoàn,lặp đi lập lại.
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng
thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý
tưởng đối với ông là những nước nhỏ, dân ít. Dân hai nước ở cạnh nhau, dù
cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn,cùng nghe tiếng chó

học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy, chủ yếu nói về Nhân sinh quan của phật
Thích ca. Nó thể hiện cô đọng trong câu nói của Phật Thích Ca: Hỡi
chúngsinh, ta chỉ dạy cho các người chỉ có một điều, đó là điều khổ và diệt
khổ; Nếu nước biển có một vị là vị mặn thì học thuyết của ta cũng có một vị là
vị giải thoát. Nhân sinh quan của Phật giáo được trình bày trong thuyết Tứ
diệu đế với bốn bộ phận là: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
+ Khổ đế là lý luận về những nỗi khổ rõ ràng ở thế gian. Theo Phật có 8 nỗi
khổ (bát khổ) trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: sinh khổ,
lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ (yêu thương mà phải chia ly), sở cầu
bất đắc khổ (muốn mà không được), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống
với nhau), ngũ uẩn khổ (sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng,
hành, thức).
+ Nhân đế là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ nơi cuộc sống con
người. Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không
thoát ra khỏi dòng sông luân hồi. Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra. Sở dĩ có
nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu
sang…), do sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do Tam độc (tham, sân, si)
gây ra. Ngoài ra, nhân đế được diễn giải một cách lôgích và cụ thể trong thuyết
Thập nhị nhân duyên (12 nguyên nhân dẫn đến bể khổ): vô minh, hành, thức,
danh – sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử. Trong 12 nguyên
nhân ấy thì vô minh là nguyên nhân thâu tóm tất cả, vì vậy, diệt trừ vô minh là
diệt trừ tận gốc sự đau khổ nhân sinh.
18
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
+ Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian
để đạt tới niết bàn. Khi vô minh được khắc phục thì tam độc sẽ biến mất, luân
hồi sẽ chấm dứt…, tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất
hiện… Diệt đế bộc lộ tinh thần lạc quan của Phật giáo ở chỗ nó vạch ra cho
mọi người thấy cái hiện tại đen tối, xấu xa của mình, để cải đổi, kiến tạo lại nó

giống nhau mà người này khác xa người kia. Vậy, tập là nguyên nhân làm biến
tính ở mỗi con người, làm cho con người không giữ được tính do trời phú cho,
làm cho con người trở nên vô đạo; rồi cả nước, cả thiên hạ vô đạo. Vì vậy,
muốn giữ được tính cho con người phải lập đạo; nghĩa là phải làm (giáo dục)
cho cả nước, cả thiên hạ hữu đạo. Đạo phải có giáo mới sâu sắc, vững chắc và
rộng khắp. Còn mục đích của giáo là làm cho mọi người, mọi nhà, cả thiên hạ
hữu đạo. Hữu đạo là thể hiện được mối quan hệ giữa người và người, giữa
người và trời đất - vạn vật một cách đúng đắn, nghĩa là phù hợp với thiên
mệnh21. Khổng Tử cho rằng, nếu lập đạo của trời, nói về âm và dương; lập đạo
của đất, nói về cương và nhu; thì lập đạo của người, phải nói về nhân và nghĩa.
Quan niệm về nhân và nghĩa là quan niệm trung tâm của đạo đức Nho gia
nguyên thủy. Chúng hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù
đạo đức của phái này: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng…
- Quan niệm về nhân: Nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản qui định bản
tính con người, chi phối mọi quan hệ giữa người với người trong xã hội, và nó
được hiểu rất rộng. Khổng Tử cho rằng, nhân là lòng thương người (ái nhân);
còn Mạnh Tử thì cho rằng, nhân là lòng trắc ẩn. Nói chung, nhân là cách đối
xử của con người với con người, để tạo ra người. Muốn thực hiện đạo làm
người, tức muốn thực hiện đức nhân cần phải: Điều gì mà mình không muốn
thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác; Mình muốn lập thân thì cũng giúp
người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt;
Khống chế mình theo đúng lễ… Người có đức nhân thì bên ngoài xã hội luôn
cung, khoan, tín, mẫn, huệ (cung kính, khoan hòa, tín nhiệm, nhạy bén, rộng
rãi)…, bên trong gia đình luôn hiếu, đễ (hiếu thảo, nhường nhịn)…Quan niệm
về nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng, ông cho rằng chỉ có người
quân tử, tức kẻ cai trị, mới có được đức nhân, còn người tiểu nhân, tức nhân
dân lao động, không thể có được đức nhân. Nghĩa là, đạo nhân chỉ là đạo của
người quân tử, của giai cấp thống trị.
- Quan niệm về nghĩa: Theo Nho gia, nếu nhân là lòng thương người, đức nhân
dùng để đối xử với người và tạo ra người, thì nghĩa là dạ thủy chung, đức

vậy, ông khuyên chớ xem điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ
và chớ làm điều trái lễ.
Ngoài quan niệm về nhân, nghĩa, lễ, Nho gia còn bàn đến: trí – tức là sự sáng
suốt nhận thức thấu đáo mọi vấn đề, hiểu đạo trời, đạo người, hiểu cả thiên hạ,
biết sống hợp với nhân; tín – tức là lòng ngay dạ thẳng, lời nói và việc làm nhất
trí với nhau, dũng – tức là sức mạnh tinh thần, lòng can đảm, biết xấu hổ vì cái
sai cái xấu để vứt bỏ chúng mà làm theo nhân nghĩa… Chúng là các nguyên tắc
21
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
cơ bản của đạo đức Nho giáo. Khổng Tử còn cho rằng, người quân tử có đủ trí,
nhân, dũng. Do có trí nên người quân tử không nhầm lẫn, do có nhân nên
người quân tử không
buồn phiền, do có dũng nên người quân tử không có gì phải kinh sợ. Nếu
Khổng Tử chỉ chú trọng đến Tam đức (nhân, trí, dũng) thì sang thời Chiến
quốc, Mạnh Tử bỏ dũng thay vào đó lễ và nghĩa thành Tứ đức (nhân, lễ,
nghĩa,trí).
+ Cũng dựa trên thuyết Thiên mệnh, nhưng Mạnh Tử cho rằng nhân chi sơ
tính bản thiện; bởi vì, khi sinh ra mỗi con người đều có đủ nhân, lễ, nghĩa, trí.
Do có nhân nên ai cũng có lòng trắc ẩn, do có nghĩa nên ai cũng có lòng u tố,
do có lễ nên ai cũng có lòng cung kính, do có trí nên ai cũng biết lẽ thị phi.
Chúng toát ra từ tâm. Là người ai cũng có cái tâm. Tâm là cội nguộn của tính
thiện trong con người. Vì vậy, con người cần phải trường kỳ tâm dưỡng kỳ tính,
– tức gìn giữ cái tâm thiện ấy. Dù bản tính con người là thiện, nhưng trong cuộc
sống của con người vẫn có cái ác. Cái ác ấy xuất hiện là do kỷ cương xã hội rối
loạn, luân thường đạo lý bị đảo điên. Để vãn hồi tính thiện ở con người thì phải
lập lại trật tự kỷ cương cho xã hội trên cơ sở thực hành đường lối nhân nghĩa.
Như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhất trí coi chuẩn mực đạo đức là tiêu
chuẩn của người quân tử, và muốn trở thành người quân tử cần phải tu thân.
Để tu thân cần phải đạt đạo - con đường phải theo, quan hệ mà con người phải

diệt. Brahman tồn tại vĩnh viễn và có
khi còn được coi là một vị thần sáng
tạo. Con người là một bộ phận của
Brahman, muốn trở về với cái vĩnh
hằng của con người phải tu luyện.
Phải thoát tục để Atman trở về với
Brahman.
Duy vật: thế giới này (kể cả con
người) được tạo thành từ những yếu tố
vật chất, tùy theo quan niệm khác
nhau của các phái mà yếu tố đó là:
nước, đất, không khí, hoặc trừu
tượng hơn là nguyên tử. Đồng thời với
quan niệm này người ta cũng cho rằng
“linh hồn cũng được sinh ra từ những
nguyên tố vật chất, nó mất đi khi thể
xác bị hủy diệt”
Duy tâm: khi giải quyết các vấn đề cơ
bản của Triết học thông qua việc luận
giải các phạm trù Tâm – Vật, Lý –
Khí, Thân – Hình, cho rằng Tâm, Lý,
Thân là cái có trước, là cái chủ động;
Vật, Khí, Hình là cái có sau, cái bị
động.
Duy vật: Vạn vật do ngũ hành (kim,
mộc, thủy, hỏa, thổ) tương sinh, tương
khắc tạo thành. Trời, đất, vạn vật, con
người là do âm dương giao hòa mà tạo
nên.
“Cái tư tưởng luôn gắn liền với cái

một điều gì đó là chân thực hay giả
dối phải qua 5 bước sau: luận đề,
nguyên nhân, ví dụ, suy đoán và kết
luận
Khi bàn đến khả năng nhận thức của
con người, Khổng Tử cho rằng thánh
nhân không học cũng biết, quân tử học
thì biết, còn tiểu nhân có học cũng
không biết.
24
Bùi Ngọc Lan Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
KẾT LUẬN
Triết học Ấn độ cổ đại và triết học trung hoa cổ đại là có thể được xem là một
trong những chiếc nôi của nền Triết học phương Đông. Mặc Dù về sau có
những trường phái triết học mới ra đời và phát triển nhưng các trường
phái này vẫn dựa trên hai nền tảng này.
Ở Việt Nam ta chịu ảnh hưởng nhiều nhất là từ tưởng triết học Trung Quốc cổ
đại, các quan niệm về con người, về cách đối nhân xử thế của các vị
Khổng, Mạnh và Nho Gia, Pháp Gia, đã tạo nên tính cách con người
và tư tưởng Triết học Việt Nam trong một thời gian dài. Cho đến tận bây
giờ thì nhà nước ta vẫn áp dụng các tư tưởng đó. Áp dụng “Đức Trị” và
“Pháp Trị” trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Tư tưởng Phật Giáo của Ấn Độ thì cũng đã du nhập vào Việt Nam từ lâu và
cho đến hôm nay đã phát triển mạnh mẽ. Việt Nam cũng là một trong
những nước có số lượng tín đồ Phật Giáo rất đông. Có thể nói Đạo Phật
đã góp một phần quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng con người
chúng ta, dạy chúng ta biết yêu thương và giúp đỡ nhau hơn, cùng hướng
về một thế giới tốt đẹp mà ở đó giá trị đạo đức được đưa lên hàng đầu và
con người sống không tranh giành quyền lực, không tham, sân, si.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status