BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: SỰ TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ĐẠO
GIA & PHÁP GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI SVTH : LÊ TRUNG DŨNG
LỚP : CAO HỌC NGÀY 4 – K22
NHÓM : 1
STT : 10
GVHD : T.S BÙI VĂN MƢA
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Từ thời đầu lập quốc, Trung Quốc đã là một trong những quốc gia rộng lớn
hàng đầu thới giới. Nằm ở khu vực Đông Á, Trung Quốc có hai con sông lớn chảy
qua: sông Hoàng Hà ở phía bắc và sông Trƣờng Giang ở phía nam tạo ra hai miềm
với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa chính trị khác nhau. Lịch sử
phát triển của Trung Quốc gắn liền với lịch sử của các triều đại vua chúa phong kiến
đầy biến động và huy hoàng. Điều này đã góp phần tạo nên một nền văn hóa đa dạng
và rực rỡ nhƣ ngày nay. Song song với dòng lịch sử này nhiều hệ thống tƣ tƣởng
triết học kiệt xuất đã ra đời và phát triển mạnh mẽ để đƣa ra những cách thức giải
quyết những vấn đề về chính tri-xã hội – con ngƣời mà thời đại đặt ra.
Có mầm mống từ thần thoại thời Tam đại (Hạ, Thƣơng, Chu) với các biểu
tƣợng nhƣ: đế, thƣợng đế, quỷ thần… Tƣ tƣởng triết học Trung Quốc mang đậm bản
chất tôn giáo huyền bí nổi bật với tƣ tƣởng cửu trù trong kinh thƣ và tƣ tƣởng về âm
dƣơng, bát quái, ngũ hành trong kinh dịch. Tƣ tƣởng triết học Trung Quốc mang tính
hệ thống hóa trong thời Đông Chu và nhanh chóng trở thành nền tảng về thới giới
quan và phƣơng pháp luận sau này, có sáu trƣờng phái lớn với những tƣ tƣởng triết
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
1
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái quát lịch sử Trung Quốc thời cổ đại.
Thời kỳ cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vƣơng triều nhà Hạ và trãi qua hai
vƣơng triều nhà Thƣơng và nhà Chu. Nhà Hạ do Hạ Vũ đặt nền móng (khoảng thế
kỷ XXI-XVI TCN) truyền đƣợc 17 đời đến Hạ Kiệt thì bị duyệt vong. Thời kỳ này
ngƣời Trung Quốc chỉ biết dùng đồng đỏ, chữ viết chƣa xuất hiện, dân cƣ sống phân
tán và chịu sự ảnh hƣởng nặng nề của các thế lực tự nhiên và ma thuật.
Sau khi lật đổ nhà Hạ, Thành Thang đã lập nên nhà Thƣơng hay còn gọi là
Ân (thế kỷ XVI-XII TCN) tồn tại đến thời vua Trụ thì duyệt vong. Thời kỳ này
ngƣời Trung Quốc sống định cƣ, định canh, biết dùng đồng thao, khai khẩn ruộng
Trang Tử phát triển thêm vào thời Chiến quốc.
Tƣ tƣởng triết học của trƣờng phái đạo gia chủ yếu tập trung lại trong bộ Đạo
đức kinh và bộ Nam hoa kinh. “Đạo đức kinh có khoảng 5000 từ do Lão Tử biên
soạn, nó gồm hai thiên nói về Đạo và Đức. Nam hoa Kinh gồm các bài do Trang Tử
và một số ngƣời theo phái Đạo gia viết”
1
. Những tƣ tƣởng triết học cơ bản của
trƣờng phái Đạo gia đƣợc thể hiện chủ yếu trong lý luận về đạo và đức, phép biện
chứng về thới giới và là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô vi nhằm mục đích giải
quyết những bế tắc trong xã hội bấy giờ.
1.2.2 Một số tƣ tƣởng triết học cơ bản của Đạo gia.
1.2.2.1 Tƣ tƣởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử.
a. Lý luận về đạo và đức.
“Đạo” là phạm trù để chỉ bản nguyên vô hỉnh, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu
kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để chỉ con đƣờng, quy luật chung của mọi sự hình
thành, biến hóa xảy ra trong thế giới. “Đức” là phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm
ẩn của đạo, là cái hình thức nhờ đó vạn vật đƣợc hình thành và phân biệt với nhau, là
cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật”
2
.
Triết lý của Lão Tử xoáy sâu vào chữ “đạo”. Đạo của Lão Tử bao gồm hai
mặt: mặt thể và mặt dụng (bản chất và công dụng). Ở mặt thể, ông quan niệm “đạo
là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng, mộc mạc, hỗn độn, mập mờ, thấp thoáng, không
có đặc tính, không có hình thể, là cái mà mắt không thấy, tai không nghe, tay không
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
3
nắm bắt, ngôn ngữ không thể diễn đạt, tƣ duy không nhận thức đƣợc, là cái năng
động, tự sinh sôi nảy nở, biến hóa”
tƣơng đối và chỉ là giai đoạn của dòng chuyển hóa vô tận, bất cứ sự vật hiện tƣợng
nào cũng là chỉnh thể thống nhất của hai mặt đối lập, chúng ràng buộc, bao hàm lẫn
nhau. Tuy nhiên, sự đấu tranh, chuyển hóa của các mặt đối lập này không xuất hiện
cái mới mà là theo vòng tuần hoàn khép kính.
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
4
Theo Lão Tử Toàn bộ sự vận động của vũ trụ đƣợc chi phối bởi 02 quy luật cơ
bản:
Qui luật bình quân giữ cho sự vật cân bằng theo một trật tự điều hòa
tự nhiên, không có gì thái quá, bất cập.“Cái gì khuyết sẽ đƣợc tròn đầy,
cái gì cong sẽ đƣợc thẳng, cái gì ít sẽ đƣợc, nhiều sẽ mất, cái gì cũ thì
lại mới”.
Quy luật phản phục nói rằng khi sự vật hiện tƣợng phát triển đến cực
điểm thì chuyển quay trở lại phƣơng hƣớng cũ. Vạn vật biến hoá trao
đổi cho nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn, kế tiếp, nhịp nhàng bất
tận nhƣ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thay đổi, qua lại. Đây là luật bất di,
bất dịch của tự nhiên. Nghĩa là vạn vật không đi ra ngoài mà trở về gốc.
c. Quan niệm nhân sinh và chính trị - xã hội.
Quan niệm nhân sinh của Lão Tử thể hiện cụ thể trong thuyết “vô vi”. “Vô vi
là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phát không giả tạo, không gò ép trái
với bản tính của mình và ngƣợc với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam vị
kỷ để không làm mất đức”
6
, nó đƣa ra cho con ngƣời một triết lý sống mới với ba ý
nghĩa nhƣ sau:
Thứ nhất: Vạn vật đều có bản tính tự nhiên chúng vận động tiến hóa
theo lẽ tự nhiên, sống với bản tính mộc mạc, thuần phát vốn có của
mình. Con ngƣời không đƣợc trái với quy luật tự nhiên, không đƣợc can
trọng ngƣời hiền thì dân không tranh nhau, nếu không tôn trọng của cải quý báu thì
dân không trộm cấp.”
8
Về đường lối trị nước an dân “Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng
can thiệp đến việc đời, nhƣng nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm
một cách kính đáo khéo léo”
9
. Ông chủ trƣơng bỏ hết tất cả những gì trái với đạo tự
nhiên vô vi, ông kêu gọi mọi ngƣời trong xã hội sống với trạng thái tự nhiên nguyên
thủy, xã hội không có thể chế, pháp luật, không có kỹ thuật, xóa bỏ mọi ràng buộc
về đạo đức để trả lại con ngƣời cái bản tính tự nhiên vốn có của nó. Theo ông thì bậc
thánh nhân thì phải coi toàn dân nhƣ “trẻ sơ sinh” - tức là tự nhiên chất phát – giản
dị. ông phản đối tình trạng bất bình đẳng của xã hội, chủ trƣơng bất bạo động, coi
chiến tranh là tai họa cho cuộc sống của con ngƣời, về phép trị nƣớc quan điểm
nƣớc nhỏ dân ít, để cô lập cá nhân với xã hội hòa tan con ngƣời vào tự nhiên. “Xã
hội lý tƣởng đối với ông là những nƣớc nhỏ, dân ít, có thuyền nhƣng không đi, có
gƣơm giáo nhƣng không dùng, bỏ văn thƣ, từ tƣ lợi, không học hành…Dân hai nƣớc
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
6
ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu hay một con mƣơng cạn, cùng nghe tiếng
cho sủa tối, tiếng gà gáy sáng…nhƣng đến già đến chết họ không bao giờ qua lại
thăm nhau”
10
.
1.2.2.2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia.
Trang Tử tên thật là Trang Chu, ông cũng sống vào thời Chiến Quốc, thời kỳ
đỉnh cao của các tƣ tƣởng triết học Trung Hoa cổ đại. Kế thừa tƣ tƣởng triết học đạo
theo lẽ lớn của tạo hóa và đạo”
12
Vô vi: Cốt lõi tƣ tƣởng về nhân sinh ở Trang Tử là học thuyết vô vi
thể hiện quan niệm về đề sống, chết, tự do bình đẳng, hạnh phúc tuyệt
đối đây đƣợc xem là những mẫu mực sống của các bậc thánh nhân. Với
ba nội dung chính sau:
+ “Vô vi hành động theo lẽ tự nhiên nhi nhiên, vô tƣ, hồn nhiên nhƣ trẻ
thơ "giữ tâm điềm đạm, khí điềm tĩnh, thuận theo tự nhiên mà không
theo ý riêng của mình"
13
.
+ Để mọi thú thuận theo lẽ tự nhiên mà làm, hành động nhƣ thế là
"Làm mà không phải mình làm", vì làm đó không còn bị ràng buộc bởi
ý chí, mục đích của con ngƣời nữa, cũng giống nhƣ nóng và sáng là tính
tự nhiên của lửa nó vốn nhƣ thế, ta không thể cƣỡng ép nó không đƣợc
nóng và sáng.
+ Làm cho mọi vật đều đƣợc tự do, bình đẳng, sống và hành động theo
bản tính tự nhiên của chúng.
1.2.3 Nhận xét về triết học đạo gia.
Lão Tử là nhà triết gia hàng đầu của Trung Quốc với những tƣ tƣởng sâu sắc
và độc đáo về đạo, đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của vạn
vật. Đạo là nguyên lý thống nhất – vận hành của vạn vật – nguyên lý Đạo pháp tự
nhiên (Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên). Đạo vừa
mang tính khách quan (vô vi) vừa mang tính phổ biến; vì vậy, trong thế giới, không
đâu không có đạo, không ai không có đạo. Đức là nguồn sinh khí, là sức mạnh nuôi
dƣỡng vạn vật cùng với tƣ tƣờng nhân sinh trong thuyết vô vi và phép biện chứng,
đƣợc xem là mạch suối nguồn làm phát sinh nhiều tƣ tƣởng đặc sắc của nền triết học
Phƣơng Đông.
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
1.3.2.2 Quan niệm về lịch sử - xã hội.
Hàn Phi cho rằng xã hội loài ngƣời luôn biến đổi, không có chế độ xã hội nào
bất di bất dich, không có bất kỳ luật pháp nào luôn luôn đúng, do đó không có khuôn
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
9
mẫu chung cho mọi xã hội. Ông chia xã hội loài ngƣời ba thời kỳ, mỗi thời kỳ có
những đặc điểm riêng của nó: cổ đại – trung đại – hiện đại, cổ đại, mỗi thời kỳ có
những đặc điểm khác nhau, phát sinh những vấn đề khác nhau, vì vậy ngƣời cai trị
phải căn cứ vào xu thế chung của thời đại để lập ra chế độ, đặt ra chính sách, vạch ra
cách trị nƣớc sao cho thích hợp.
Hàn Phi phản đối các học thuyết tôn giáo thần bí lúc bấy giờ, và cho rằng
nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi lịch sử loài ngƣời đó là do lợi ích vật chất, cơ sở
các quan hệ hành vi con ngƣời là nguyên nhân vân động căn bản, dân số ít hay nhiều
là nguyên nhân lực căn bản của mọi biến đổi lịch sử.
1.3.2.3 Quan niệm về con ngƣời.
Về con ngƣời Hàn Phi cho rằng bản tính con ngƣời là ác, con ngƣời sinh ra vốn
có mầm ác dục, tƣ lợi đó là bản chất của con ngƣời. Tất cả các quan hệ xã hội từ
quan hệ tình cảm đạo đức, cha con – anh em, bạn bè đều trên cơ sở tính toán cá
nhân, do đó trong xã hội ngƣời tốt cũng có nhƣng ít, còn kẻ xấu thì rất nhiều. Vì vậy,
ngƣời cai trị phải căn cứ vào tâm lý cầu lợi, cá nhân, vị kỷ của con ngƣời, phải
xuất phát từ số đông không cho họ làm điều ác (thực hiện pháp trị) nhằm duy trì xã
hội ổn định.
1.3.2.4 Tƣ tƣởng pháp trị của Hàn Phi.
Hàn Phi quan niệm pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để đem lại hòa bình, ổn
định và công bằng, là công cụ hữu hiệu để cai trị đất nƣớc: “Bậc thánh nhân hiểu rõ
cái thực tế của việc phải và trái, xét rõ thực chất của việc trị và loạn, cho nên trị
nƣớc thì nêu rõ pháp luật đúng đắn, bày ra hình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn
của dân chúng, trừ bỏ cái họa trong thiên hạ. Khiến cho kẻ mạnh không lấn át ngƣời
trung.
“Thuật” đƣợc hiểu là phƣơng pháp, thủ thuật, cách thức, mƣu lƣợc để điều
khiển công việc và dùng ngƣời. Thuật bao gồm ba mặt là bổ nhiệm, khảo hạch và
thƣởng phạt. Hàn phi đòi hỏi vua phải dùng pháp nhƣ trời, dùng thuật nhƣ quỷ. Ông
đã đƣa ra một loạt những thuật cho vua trị nƣớc lúc bấy giờ nhƣ “vua trị lại bất trị
dân” (quản lý quan lại không quản lý dân chúng) hay dấu những điều mình biết rồi
hỏi để biết những điều mình chƣa biết, ngầm hại những bề tôi không cảm hóa đƣợc,
phải bắt bề tôi nói , tổ chức bộ máy quan lại theo từng lĩnh vực từng địa phƣơng và
phải có cách thức thủ thuật để điều khiển bộ máy đó, trị dân theo pháp lệnh và ý
muốn của nhà vua, xem xét lời nói của họ có phù hợp với hành động không Cuối
cùng, ông đƣa ra mô hình quốc gia lý tƣởng đó là:
+ Đất nƣớc phải theo chế độ quân chủ chuyên chế, nhà vua nắm tất cả
mọi quyền hành, đích thân chế ngự quần thần không nhƣờng một chút
quyền nào cho ai cả.
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
11
+ Ai cũng phải tuân theo pháp luật kể cả vua, phải chí công vô tƣ mà
không dùng nhân nghĩa tình cảm.
+ Phải thống nhất tƣ tƣởng, không đƣợc dung nạp các học thuyết trái
với chủ trƣơng của chính quyền.
+ Trọng nông, ƣớc thƣơng.
+ Coi trọng vũ lực.
1.3.3 Nhận xét về triết học Pháp Gia.
Tƣ tƣởng triết học pháp gia với chủ trƣơng lấy pháp luật làm căn bản trong
việc cai trị đất nƣớc, chủ trƣơng dùng pháp luật để điều chỉnh hành vi con ngƣời,
dùng luật pháp để chống lại những lực lƣợng bảo thủ nhằm củng cố chế độ phong
kiến.
Trong thời đại bấy giờ, chủ trƣơng của phái pháp gia rất đúng đã đƣợc nhà Tần
giới là một chỉnh thể thống nhất vận hành của đạo thông qua đức mà đạo nằm trong
vạn vật luôn biến đổi. Hàn Phi cho rằng lý là những quy luật hay những lực lƣợng
khách quan trong xã hội, lý chí phối mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội. Chúng
ta thấy rằng thới giới quan của Đạo Gia và Pháp Gia đều thừa nhận có sự tồn tại của
các quy luật khách quan nằm ngoài ý muốn của con ngƣời.
Quan niệm biện chứng về thới giới vạn vật cả hai đều thừa nhận sự biến đổi
của thế giới. Lão tử thì cho rằng thế giới vạn vật luôn luôn biến hóa theo hai quy
luật bình quân và quy luật phản phục. Hàn Phi thừa nhận sự biến đổi của đời sống
xã hội và không cho một chế độ xã hội nào bất di bất dịch. Tuy cả hai trƣờng phái
có cách diễn đạt khác nhau về quan niệm biện chứng về thới giới, nhƣng cả hai đều
cùng cho rằng mọi thứ luôn luôn biến đổi, đây chính là một tƣ tƣởng biện chứng
tiến bộ.
2.2. Sự Khác Nhau.
2.2.1 Quan niệm về chính trị xã hội và con ngƣời.
Đƣờng lối chính trị xã hội của phái Đạo gia chủ truơng trị dân theo quan niệm
thuyết vô vi của Lão Tử. Vô vi là sống hoạt động theo lẽ tự nhiên thuần phác,
không làm trái với tự nhiên không can thiệp vào trật tự tự nhiên. “ Vô vi” để cho
dân theo lối sống chất phác thời nguyên thủy, không dùng thuyền xe, binh khí,
nƣớc nhỏ dân ít, dân các nƣớc sống bên cạnh nhau nhƣng không qua lại với nhau,
không đi ra khỏi nƣớc. Ông chủ trƣơng dứt thánh bỏ trí, dứt bỏ nhân nghĩa, xảo lợi,
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
13
không có trộm, giặc. Không trọng ngƣời hiền để dân không tranh. Về quan hệ giữa
nƣớc lớn và nƣớc nhỏ ông chủ trƣơng khiêm hạ, nƣớc lớn mà khiêm hạ với nƣớc
nhỏ thì đƣợc nuớc nhỏ xƣng thần, nƣớc nhỏ mà khiêm hạ với nƣớc lớn thì đƣợc
nƣớc lớn che chở. Khác với đƣờng lối vô vi của phái Đạo Gia, phái Pháp gia chủ
trƣơng trị dân theo đuờng lối pháp trị. Hàn Phi là đại diện tiêu biểu cho phái Pháp
gia với thuyết Pháp trị. Ông cho rằng để cai trị xã hội cần phải có ba yếu tố là Pháp,
có nghĩa là ngƣời ở cƣơng vị nào thì phải xứng đáng với cƣơng vị đó, phải làm
đúng danh phận, chức trách của mình.
2.2.2 Quan niệm về ngƣời cầm quyền.
Học thuyết “vô vi” chủ trƣơng không can thiệp vào việc đời, trƣờng phái đạo
gia cho rằng ngƣời cầm quyền mà dùng mƣu trị nƣớc là cái hoạ cho nƣớc. Ông yêu
cầu bậc thánh nhân trị vì thiên hạ phải làm theo lẽ tự nhiên của đạo vô vi.
Pháp gia thì yêu cầu vua dùng pháp nhƣ trời, dùng thuật nhƣ quỷ. Vua thƣờng
xuyên kiểm tra bề tôi và luôn giữ kín sở thích và tâm ý của mình.
2.2.3 Quan niệm về đƣờng lối trị nƣớc.
Trƣờng phái Đạo Gia cho rằng hành động hay nhất là đừng can thiệp đến việc
đời, nhƣng nếu đã làm thì phải làm một cách khéo léo, kính đáo. Theo Lão Tử dân
chỉ cần “no bụng”, do đó ông chủ trƣơng không dùng luật pháp, không dùng vũ lực,
ông yêu cầu chính phủ phải yên tĩnh “vô vi” và đây chính là cách thức cai trị đất
nƣớc của trƣờng phái Đạo Gia. Ông chủ trƣơng từ bỏ nghệ thuật, hạn chế quyền lực
nhà nƣớc và nhân dân tối đa, không cần giáo dục Nhân, nghĩa, lễ, trí để cho dân
sống theo lối chất phát thời nguyên thuỷ. Ông đề ra khuông mẫu cho xã hội là nƣớc
nhỏ, dân ít, không qua lại lẫn nhau.
Trƣờng phái Pháp gia với đại diện tiêu biểu là Hàn Phi thừa nhận quan điểm:
bản chất con ngƣời là ác, muốn quản lý xã hội phải khởi xƣớng ra lễ nghĩa và chế
định ra pháp luật để uốn nắn tính xấu của con ngƣời, theo ông quản lý xã hội là vị
Pháp chứ không vị Đức. Ông đƣa ra cách thức cai trị đất nƣớc bằng pháp trị với ba
yếu tố: Pháp, Thuật và Thế. Chính sách cai trị phải dựa vào ý dân, dân muốn thì gì
thì cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cho cái đó. Quan điểm này đối lập
hoàn toàn với thuyết “vô vi” của trƣờng phái đạo gia. Đối với Hàn Phi, pháp luật là
thứ “phép công” điều khiển hành vi của mọi ngƣời. Trong các phạm trù cơ bản của
pháp học thi pháp là quan trọng nhất, sau mới đến Thế và Thuật. Hàn Phi đã kế
thừa tƣ tƣởng “vô vi” của Đạo Gia, biến nó thành thuật cai trị của vua chúa. Trong
cai trị trƣớc hết là làm cho dân giàu sau đó thì giáo dục họ. Trong giáo dục thì “tiên
học lễ - hậu học văn”. Pháp gia đã đƣa ra một học thuyết và phƣơng pháp cai trị
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Đề tài 4: Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
16
PHẦN KẾT LUẬN
Hai trƣờng phái triết học Đạo Gia và Pháp Gia cùng ra đời trong cùng một
hoàn cảnh lịch sử đất nƣớc Trung Hoa trong giai đoạn hỗn độn, loạn lạc, chiến
tranh khóc liệt. Tuy nhiên, cả hai đều có những tƣ tƣởng, những ƣu điểm riêng có
những đóp góp to lớn vào kho tàng tƣ tƣởng của nhân loại.
Từ sự quan sát thời cuộc lúc bấy giờ, thông qua trực quan sinh động Lão Tử và
Hàn Phi hai đại diện chính cho hai trƣờng phái triết học Đạo gia và Pháp gia, đã
đƣa ra những tƣ tƣởng triết học khá độc đáo. Lão tử nhìn vạn vật, hiện tƣợng trong
vũ trụ thông qua “đạo” nó mang một chút hoài cổ về quá khứ và một chút thần bí
huyền ảo và từ đây ông đƣa ra thuyết “vô vi” đƣợc xem là phƣơng trâm sống của
bậc thánh nhân thoát tục và cũng là đƣờng lối trị nƣớc của đấng cai trị, Phái đạo gia
nhấn mạnh đến tính tƣơng đối của tri thức con ngƣời cũng nhƣ của chế độ. Trái lại,
Hàn Phi là đại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến mới, chạy theo cái lợi và dựa
vào cái lợi, yêu cầu trƣớc mắt làm phƣơng hƣớng cho việc giải quyết các vấn đề
chính sự mà vạch ra chính sách (pháp luật) để cai trị xã hội. Những tƣ tƣởng pháp
trị của phái Pháp gia còn có nhiều ý nghĩa cho tới ngày nay nhƣ: luật pháp phải
công bằng, nghiêm minh, phổ biến, dựa vào số đông trong xã hội…
Tuy đã đƣợc xây dựng cách đây hơn hai ngàn năm, và tất nhiên có không ít hạn
chế, nên chúng ta cần phải biết chắc lọc, tiếp thu và phát triển những tƣ tƣởng của
hai trƣờng phái triết học này để giải quyết những vấn đề về trong thời kỳ mới, thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế để xây dựng đất nƣớc ngày
càng giàu mạnh
CHƢƠNG II. SO SÁNH TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA 11
2.1. Sự Giống Nhau. 11
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời và mục đích nghiên cứu. 11
2.1.2 Đối tƣợng nghiên cứu. 12
2.1.3 Một số quan điểm triết học giống nhau của Đạo Gia và Pháp Gia. 12
2.2. Sự Khác Nhau. 12
2.2.1 Quan niệm về chính trị xã hội và con ngƣời. 12
2.2.2 Quan niệm về ngƣời cầm quyền. 14
2.2.3 Quan niệm về đƣờng lối trị nƣớc. 14
2.2.4 Quan điểm phƣơng trâm xử thế. 15
PHẦN KẾT LUẬN 1
CHÚ GIẢI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chú giải:
(1) Trang 64, Đại cƣơng về lịch sử triết học phần I, chủ biên TS. Bùi Văn Mƣa.
(2) Trang 64, Đại cƣơng về lịch sử triết học phần I, chủ biên TS. Bùi Văn Mƣa.
(3) Trang 64, Đại cƣơng về lịch sử triết học phần I, chủ biên TS. Bùi Văn Mƣa.
(4) Trang 65, Đại cƣơng về lịch sử triết học phần I, chủ biên TS. Bùi Văn Mƣa.
1. Bùi Văn Mƣa (chủ biên). (2010). “Triết học”, Phần I, Đại cƣơng về lịch sử triết
học, 2010, NXB TPHCM.
2. Doãn Chính (chủ biên).(1997). “Đại cương triết học Trung Quốc”, NXB Chính
trị quốc gia Hà Nội.
3. Nguyễn Đăng Thục. (1991). “Lịch sử triết học phương Đông”, Tập I, NXB
TPHCM.
4. Nguyễn Đăng Thục. (1991). “Lịch sử triết học phương Đông”, Tập II, NXB
TPHCM.
5. Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới thiệu). (1995). “Luận ngữ”, NXB Văn học.
6. Phùng Hữu Lan. (2006). “Lịch sử Triết học Trung Quốc”, Tập I, Thời Đại Tử
Học, NXB Khoa Học Xã Hội.
7. Vũ Tình. (1998). “Đạo đức học trong phương đông cổ đại”, NXB Chính Trị
Quốc Gia.
8. Một số website:
o
o
o
o
o
o />_c_a_aobu_ta_m_hiar_u
o