z
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài nhóm 02:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC DUY VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT
HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI
HVTH : Mai Hoàng Hạnh
STT : 17 – Nhóm: 2
Lớp : Cao học TCDN-K22-Ngày 4
MSHV : 7701220334
GVHD : TS.Bùi Văn Mưa
TP.HCM, Ngày 15 tháng 12 năm 2012
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 1 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
LỜI MỞ ĐẦU
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, đã trải qua
những thời kỳ phát triển rực rỡ của xã hội loài người. Nơi đây hội tụ những điều kiện
hết sức thuận lợi cho nền văn hóa tinh thần, trong đó triết học là một lĩnh vực phát
triển mạnh mẽ, trở thành đỉnh cao của nền văn minh Hy Lạp.
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật
thời kỳ cổ đại. Đó là sự nhận thức mang tính trực quan và tiến bộ, không dựa trên
những yếu tố thần thánh, lực lượng siêu nhiên để giải thích sự vật, hiện tượng, mà lấy
bản thân giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, đồng nhất vật chất với những dạng
tồn tại cụ thể của vật chất.
Còn chủ nghĩa duy tâm Hy Lạp cổ đại ra đời như một đơn đặt hàng của lịch sử
nhân loại. Chủ nghĩa duy tâm Hy Lạp cổ đại cho rằng ý thức, tinh thần nói chung như
“ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thế giới” là cái có trước, tồn tại khách quan
F.Enghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy-lạp, không có
nghệ thuật và khoa học Hy-lạp; không có chế độ nô lệ thì không có chế Rô-ma. Mà
không có cái cơ sở của nền văn minh Hy-lạp và đế chế Rô-ma thì không có Châu Âu
hiện đại”[6].
Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết
quả tất yếu từ việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân
gian, trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự nhiên).
Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu -
đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại. C.Mác viết: “Các nhà triết
học không phải những cây nấm mọc trên đất. Họ là sản phẩm của thời đại mình, dân
tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được
suy tư trong các khái niệm triết học”[7].
1.2.Đặc điểm cơ bản
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 2 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Đỉnh cao của nền văn minh cổ đại đó chính là triết học Hy Lạp cổ đại, và cũng
là điểm xuất phác của lịch sử thế giới. Từ những nét đặc thù về kinh tế, chính trị xã
hội, triết học Hy Lạp đã ra đời và mang những đặc điểm cơ bản sao đây:
− Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ
nô thống trị [1, trang 92].
− Có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái, duy
vật – duy tâm, biện chứng – siêu hình, vô thần – hữu thần [1,trang 92]
− Các trường phái triết học nói chung đều có xu hướng đi sâu giải quyết
các vấn đề về bản thổ và nhận thức luận triết học là những vấn đề của mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức.
− Triết học Hy Lạp cổ đại nói chung (cũng như triết học cổ đại của nhiều
nước khác) còn ở trình độ trực quan chất phác đặc biệt là đối với các hệ thống triết
học duy vật và biện chứng, nhưng đã gắn bó với khoa học. Tuy có những ý kiến khác
nhau, nhưng đã đề cập tới vấn đề con người, coi con người là tinh hoa của tạo hoá và
con người cần chinh phục thiên nhiên để phục vụ mình.
Hêraclit vào kho tàng tư tưởng của nhân loại [1,trang 94].
2.1.3.Trường phái đa nguyên Empedoc – Anaxago
Để lý giải tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật,
Empedoc và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sơ khai của trường phái
Milê và trường phái Hêraclit, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới
vật chất đa dạng [1,trang 95].
2.1.4.Trường phái nguyên tử luận của Loxip - Đemocrit
Trường phái này có đại diện là Lơxip và Đemocrit đạt đỉnh cao của triết học Hy
Lạp cổ đại trong giai đoạn cực thịnh. Lơxip là người đầu tiên nêu lên các quan niệm
về nguyên tử, Đemocrit phát triển các quan niệm này thành một hệ thống chặt chẽ và
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 4 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
có sức thuyết phục. Trường phái nguyên tử luận với quan điểm duy vật, vô thần đã
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học chống lại cái vô thần, thoát khỏi sự ảnh hưởng
của tôn giáo. Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế nhưng với những thành tựu đạt được,
Đemocrit đã nâng chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại lên đỉnh cao, làm cho nó có đủ sức
đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh hành lúc bấy giờ, mà trước hết là
trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platon [1,trang 97].
2.2.Các trường phái của triết học duy tâm
2.2.1.Trường phái Pytago
Xuất phát từ quan điểm cho rằng đạo đức phải phục tùng tôn giáo để cùng thống
trị thiên hạ và quan đó lý giải tính thống nhất của thế giới mà Pytago đã đặt nền móng
cho chủ nghĩa duy tâm thời cổ Hy Lạp [1,trang 101].
2.2.2.Trường phái Êlê
Do Xênôphan thành lập theo tinh thần duy vật, nhưng sau đó nó được Pacmênic
phát triển theo tinh thần duy lý ngả về khuynh hướng duy tâm khi dựa trên khái niệm
nền tảng – tồn tại. Điều này đã mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển tư tưởng
triết học Hy Lạp cổ đại coi cái khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ
thể (như các nhà triết học duy vật, duy cảm trước đó quan niệm) mà là tồn tại – một
phạm trù triết học mang tính khái quát cao, và chỉ được nhận thức bởi tư duy – lý tính.
− Triết học cổ Hy Lạp còn nằm trên tư duy trừu tượng là chủ yếu.
− Các vấn đề triết học còn chưa rõ rang, còn rời rạc chưa hệ thống
hóa.
− Tuy có đặt vai trò của con người, nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi
yếu tố thần linh.
Chương 3: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA TRIẾT
HỌC DUY VẬT VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 6 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Đemocrit và Platon là hai nhà triết học được coi là bậc nhất đại diện cho
trào lưu triết học Hy Lạp cổ đại. Vì vậy trong giới hạn của đề tài chỉ tìm hiểu và phân
tích điểm tương đồng và khác biệt của quan điểm triết học của Đemorit và Platon.
3.1.Tương đồng
Mặc dù đại diện cho hai trường phái triết học khác nhau, song triết học của hai ông
vẫn có những điểm tương tự nhau, thể hiện:
3.1.1.Triết học của hai ông đều đi sâu vào những vấn đề bản thể luận, nhận thức
luận. Đặc trưng đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại, mà hai ông là một trong những
người đại diện, đó là triết học gắn chặt với yêu cầu phát triển của khoa học tự nhiên,
đi sâu vào vào những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận để phát triển khoa học tự
nhiên.
3.1.2.Triết học của hai ông đều quan điểm bảo vệ nhà nước thống trị và coi
thường người lao động nô lệ, là công cụ lý luận bảo vệ sự thống trị của giai cấp chủ
nô. Triết học là thế giới quan của của 1 giai cấp nhất định. Cả hai ông đều là đại diện
cho tầng lớp chủ nô vì vậy triết học của hai ông đều bảo vệ nhà nước, bảo vệ sự thống
trị và coi thường người lao động, nô lệ. Đây thực sự là những hạn chế trong nhận
thức của cả hai ông về vai trò của nhà nước và quần chúng trong lịch sử phát triển của
xã hội loài người. Điều này cũng thể hiện triết học cổ Hy Lạp mang tính giai cấp sâu
sắc.
3.1.3.Triết học của cả hai ông còn mang tính trực quan, tự phát, ngây thơ. Tuy
hai ông đều là những nhà triết học lớn, vĩ đại nhất thời cổ đại, nhưng do trình độ khoa
phất sinh phát triển và tiêu diệt. Còn Platon thì ngược lại ông cho rằng vũ trụ này
không tồn tại thực, tất cả chỉ là sự phức hợp của ý niệm do ý niệm quy định do thượng
đế quyết định và không tồn tại.
3.2.3.Về vấn đề linh hồn:
− Theo Đemocrit, ông đã bác bỏ quan niệm về sự sản sinh ra sự sống và
con người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả biến đổi dần dần từ thấp đến
cao của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và dưới tác động của
nhiệt độ. Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống
trên cạn. Cuối cùng là con người ra đời trên quả đất. Ông đã phân biệt rõ ràng sự vật
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 8 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
và sinh vật chúng khác nhau ở chỗ sự vật không có linh hồn,còn sinh vật có linh hồn:
linh hồn được cấu tạo bởi các nguyên tử hình cầu, giống như nguyên tử của lửa vận
động với vận tốc cao. Nguyên tử linh hồn sinh ra nhiệt, nhiệt làm cho cơ thể hưng
phấn và vận động. Ông coi cái chết là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo nên thể
xác và các nguyên tử cấu tạo nên linh hồn chứ không phải là linh hồn ra khỏi thể xác.
Tuy quan niệm của Đemocrit về linh hồn còn mang tính mộc mạc, song nó giữ vai trò
rất quan trọng trong việc chống lại quan điểm duy tâm, tôn giáo về tính bất tử của linh
hồn.
− Platon cho rằng con người bao gồm linh hồn và thể xác tồn tại độc lập
với nhau . “Linh hồn của con người là một bộ phận của linh hồn vũ trụ do thượng đế
sáng tạo ra do đó nó bất tử và tồn tại vĩnh hằng”[9]. Khi con người chết linh hồn sẽ
thoát ra thể xác con người và bay lên trú ngụ ở một vì sao. Khi thể xác mới ra đời, linh
hồn bay xuống nhập vào thể xác đó và tạo ra con người hoàn chỉnh bao gồm cả linh
hồn và thể xác. Trong khi bay xuống nhập vào thể xác con người linh hồn đã lãng
quên những điều quan sát được ở thế giới những ý niệm. Vì thế, nhận thức của con
người thực chất là sự hồi tưởng, sự nhớ lại của linh hồn về những điều mà nó đã lãng
quên.
3.2.4.Về vấn đề nhận thức:
− “Đemocrit là người có công lao to lớn trong lịch sử triết học về vấn đề
thể xác và có được nhờ sự hồi tưởng lại. 2) tri thức mờ nhạt là tri thức lẫn lộn đúng
sai; có được nhờ nhận thức cảm tính nên không phải là chân lý.
3.2.5.Về quan điểm chính trị- xã hội :
− Đemocrit đứng trong lập trường của phái chủ nô dân chủ, kịch liệt
chống lại phái chủ nô quý tộc [8]. Ông ra sức bảo vệ và tuyên truyền cho chế độ dân
chủ của chủ nô trong đó thể hiện quyền lợi của mình gắn liền với sự phát triển ngày
càng một mạnh mẽ của thương mại và công nghiệp. Ông đề cao, ca ngợi cổ vũ cho
tình thần ái, tính ôn hoà lợi ích chung và quyền lợi chung của công dân tự do. Theo
ông “ Cần phải ưa thích cái nghèo trong một Nhà nước dân chủ hơn so với cái gọi là
cuộc sống hạnh phúc trong chế độ chuyên chế tựa như là tự do tốt hơn nô lệ” [8].
Đương nhiên là do xuất thân từ tầng lớp chủ nô dân chủ Đemorit chỉ đề cập đến nền
dân chủ của chủ nô, còn bản thân nô lệ thì cũng như các nhà tư tưởng khác, ông cho
rằng phải biết tuân theo người chủ nô. Ông đề cao Nhà nước, chính Nhà nước đóng
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 10 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
vai trò duy trì trật tự và điều hành xã hội. Theo Đemocrit cần phải trừng trị nghiêm
khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay chuẩn mực đạo đức nào đó. Phương châm tư
tưởng của Đemocrit là thà sống nghèo khổ còn hơn là giàu có nhưng mất tự do dân
chủ. Mục tiêu của con người là sống hạnh phúc nhưng hạnh phúc không đơn thuần chỉ
là giàu có. Ông khẳng định hạnh phúc là sự thanh thản trong tâm hồn và được tự do.
Chỉ có người biết bằng lòng với sự hưởng lạc vừa phải thì mới được hạnh phúc.
− Còn Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lập trường
của phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chỉ tiến bộ của xã hội. Ông cho rằng linh
hồn gồm các bộ phận linh tính, ý chí và cảm tính trong xã hội có các hạng người
tương ứng với các bộ phận của linh hồn. Linh tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ
có được ở những nhà triết học, các nhà thông thái; ý chí là cơ sở của đức tính can
đảm. Nó thể hiện ở trong những người lính, những chiến binh. Cảm tính là cơ sở của
các đức tính thận trọng. Đức tính này thường có ở những người dân tự do, những
người thợ thủ công. Platon đặc biệt miệt thị nô lệ. Theo ông nô lệ không phải là người
mà chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức. Platon chủ trương duy trì các hạng
và không ít vấn đề còn đang được khoa học ngày nay nghiên cứu.
Bản thân người viết chuyên đề này cho rằng việc nắm bắt được tư tưởng cơ bản
của triết học duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm là tiền đề để có thể hiểu được lý
luận cơ bản của Triết học Mác-Lê Nin- nền tảng cho hệ tư tưởng chính trị xã hội ở
nước ta. Đây là khởi đầu quá trình rèn luyện hình thế giới quan và phương pháp luận
khoa học giúp cho quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của người viết có nhiều
thuận lợi.
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH 12 LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA
TRIẾT HỌC HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI 2
1.1.Hoàn cảnh lịch sử 2
1.2.Đặc trưng cơ bản 3
Chương 2: CÁC HỌC THUYẾT HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI 4
2.1.Các trường phái của triết học duy vật chất phác 4
2.2.Các trường phái của triết học duy tâm 5
2.3.Vài ưu điểm và hạn chể của triết học Hy Lạp thời cổ đại 6
2.3.1.Ưu điểm 6
2.3.2.Hạn chế 6
CHƯƠNG 3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY
VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM 7
3.1.Tương đồng 7
3.2.Khác biệt 8
KẾT LUẬN 12
HVTH: MAI HOÀNG HẠNH LỚP CAO HỌC NGÀY 4 – K22
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
TÀI LIỆU THAM KHẢO – CHÚ THÍCH
[1]. Bùi Văn Mưa: Đại cương về lịch sử triết học (Tài liệu dùng cho học viên cao học