TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỬA TRIẾT
HỌC ĐẠO GIA VÀ TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở
TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI
GVPT: TS.BÙI VĂN MƯA
HVTH: Trịnh Quang Công
STT: 05 Nhóm: 01
Lớp: Ngày 4 Khóa: 22
TPHCM, Tháng 12/2012
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỬA TRIẾT HỌC
ĐẠO GIA VÀ TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở TRUNG
QUỐC THỜI CỔ ĐẠI
Phần I. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI:
1. Đặt vấn đề:
Trung Hoa là một đất nước rộng lớn, và là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại. Theo đó, triết học
cổ đại Trung Hoa cũng phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhằm đưa ra những phương
cách giải quyết khác nhau cho những vấn đề chính trị – đạo đức – xã hội mã thời đại đã đặt ra. Đặc biệt vào
thời Đông Chu (770 – 221 TCN), tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, từ đó nhiều học giả,
nhà tư tưởng lớn đã cho ra đời các tác phẩm, học thuyết có giá trị trên nhiều lĩnh vực của hình thái ý thức
xã hội (còn gọi là thời “Bách gia chư tử”). Tuy nhiên có 6 học phái nổi bật, chiếm vài trò chủ đạo trong nền
triết học Trung Hoa cổ đại, đó là: Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia và Danh gia. Các
học phái này không chỉ xung đột, phê phán nhau mà còn hấp thu những tư tưởng của nhau để bổ sung hoàn
chỉnh lý luận của mình. Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ đi sâu bình luận về sự tương đồng
và khác biệt giửa triết học đạo gia và triết học pháp gia.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Hai học phái triết học cổ đại của Trung Hoa, đó là học phái đạo gia và pháp gia.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
So sánh sự tương đồng và khác biệt giửa triết học đạo gia và pháp gia. Từ đó đánh giá được ưu
nhược điểm của từng học phái, và sự hấp thụ, bổ sung, hoàn chỉnh lẩn nhau giửa các học phái triết học này.
nghĩa duy tâm; nhưng đó là cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề con người; vì vậy, vấn đề quan hệ giửa Con
người với Trời, Đầt (Thiên – Nhân – Địa) là vấn đề mang tính xuất phát và xuyên suốt qua toàn bộ nền triết
học này.
Bốn là, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các trường phái triết học Trung Hoa cổ đại
không chỉ phê phán, xung đột nhau mà còn biết hấp thụ những tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh
lý luận của chính mình và chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng biện chứng trong Kinh Dịch.
2. Tư tưởng triết học đạo gia
2.1.Sự hình thành và phát triển của học phái đạo gia:
Đạo gia ra đời và phát triển rực rỡ từ cuối thời Xuân Thu đến cuối thời Chiến Quốc và sau đó có
tác động ảnh hưởng to lớn đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm
nhạc, y thuật, sinh học, hoá học, vũ thuật, địa lí… ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác.
Lão Tử là người sáng lập ra Đao gia và sau đó Trang Tử là người phát triển học phái này. Có thể
kể đến 2 tác phẩm kinh điển trong Đạo gia, đó là: Đạo đức kinh khoảng 5000 câu do Lão Tử soạn gồm 2
thiên nói về đạo và đức; Nam Hoa Kinh do Trang Tử và một số người theo trường phái này cùng viết.
Triết học của Lão Tử như một kim tự tháp lớn trong triết học Trung Quốc, cùng với nho giáo, nó
như cái bóng bao trùm và dẫn dắt quá trình tư tưởng của Trung Hoa. Với cách diễn đạt vắn tắt, thâm trầm,
gợi mở bằng những châm ngôn, ngạn ngữ có tính ẩn dụ, Lão Tử đã trình bày ba vấn đề triết học căn bản là:
Học thuyết về “đạo”, tư tưởng về phép biện chứng và học thuyết “vô vi”.
2.2.Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử
2.2.1 Lý luận về đạo và đức:
Trang 3/12
Trong hệ thống triết học Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một vị trí cực kì quan trọng. Nó là nền
tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh
của người Trung Hoa cổ đại. Thuật ngữ “đạo” có lẽ được sử dụng từ thời trước Lão Tử. Các văn bản cổ
của Trung Hoa như Thượng thư, Kinh thi …thường nói đến “đạo” với nhiều ý nghĩa khác nhau, như “thiên
đạo”, “nhân đạo”, “đại đạo”, v.v Tuy nhiên, đến Lão Tử “đạo” trở thành một khái niệm có nội dung sâu
sắc và hệ thốnh hơn. Nó được coi là một phạm trù triết học cơ bản trong triết học của ông. Xét về mặt bản
thể luận, “đạo” được Lão Tử trình bày theo ba mặt, đó là : thể, tướng và dụng.
Mặt thể của “đạo”, theo quan niệm của Lão Tử không đồng nghĩa với phạm trù “bản thể” trong
triết học phương Tây, như “nước” của Thàles, “lửa” của Héraclite, “không khí” của Anaximène, được coi
có ý chí của con người gán cho giới tự nhiên. Ông kêu gọi “dứt thánh, bỏ tri”, “bão pháp tự nhiên”, kịch
liệt chống lại tính chất “hữu vi”của các trường phái Nho, Mặc. Quan điểm ấy của ông cũng chống lại mục
đích của chủ nghĩa duy tâm. Ông đã cố gắng tìm ra tính quy luật khách quan của vạn vật vận động và biến
hóa, dạy mọi người phải hành động theo quy luật tự nhiên. Nhưng ông lại cho rằng con người chỉ có thể
thích ứng với quy luật tự nhiên một cách bị động, đứng trước tự nhiên, con người không cần làm gì cả.
Thuộc tính thứ hai của “đạo” được Lão Tử nói nhiều trong Đạo đức kinh là tính chất lặng yên và
trống không. Ông viết: “Hết sức trống rỗng cùng cực. Giữ lặng dốc một lòng…Trở về gốc rễ gọi là yên
lặng, ấy thế bảo là trở lại mệnh. Trở lại mệnh gọi là đạo thường” (Đạo đức kinh, Chương 16). Lão Tử
thường dùng từ “cốc thần” để chỉ tính chất trống rỗng của “đạo”. “Cốc thần” thì khỏang trống không giữa
lòng hang sâu, không hình, không ảnh, không ngược, không trái, ở thấp không hèn không động, giữa lặng
yên không suy…” (Đạo đức kinh, Chương 6).
Khi dùng hai chữ “đạo”, “đức” Lão Tử muốn chỉ cả hai mặt thể và dụng của “đạo”, vì “đạo” là thể
của “đức”, “đức” là dụng của “đạo”. Nói riêng bản thể thì gọi là “đạo”, nói riêng công dụng thì gọi là
Trang 4/12
“đức”, nên Lão Tử mới viết: “Đạo sinh, đức chứa, vật cho hình, sức mạnh làm trọn nên, bởi vậy muôn vật
không vật nào là không tôn đạo, quý đức…Cho nên, đạo sinh, đức chứa làm cho lớn lên và nuôi vạn vật
yên định” (Đạo đức kinh, Chương 51). Theo Lão Tử, “đạo” vốn không tên, đến “đức” tên mới bắt đầu có,
vạn vật nhờ đức chứa mà không đồng đều, sinh ra đối chọi lớn nhỏ, nhiều ít, sướng khổ để suy tính phân
biệt nhân, nghĩa, lễ vậy. Do đó mới nói: “Mất đạo rồi mới có đức, mất đức rồi nhân sinh, mất nhân rồi
nghĩa sinh, mất nghĩa rồi lễ sinh ra vậy” (Đạo đức kinh, Chương 38).
Như vậy “đạo” là quả ngầm chứa lẽ sống mà chưa hiển lộ. Khi cây mọc thì “đức” là rễ, nhân là
thân, nghĩa, lễ là lá, cành, trí là hoa. “Đạo”, “đức”do đó cao hơn và là chủ của nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Nhân,
lễ, nghĩa, trí, tín chỉ là cái vỏ hình thức bề ngoài, là cái ngọn của “đạo” và “đức” mà thôi. Nho giáo theo
vương đạo đều coi nhân. Lễ, nghĩa, trí, tín đều từ đạo trời mà có, còn Lão Tử chủ trương bỏ nhân, nghĩa để
quay về với “đạo” và “đức”, chính là kêu gọi trở về với cái gốc của muôn vật, chứ đừng ôm ngọn để rồi
đánh mất “đạo”. Ông noi: “Thiên hạ có cái khởi thủy, coi như là mẹ của thiên hạ, hễ giữ được mẹ thì được
con, đã biết được con trở về giữ mẹ thì đến chết cũng không nguy” (Đạo đức kinh, Chương 42). Xét về
mặt tư duy, khái niệm “đạo” của Lão Tử rất gần khái niệm “chân không” (sunyata) của Long Thọ bồ tát.
Cả hai đều cố gắng đi tìm cái nguyên thể đầu tiên làm cội nguồn của vũ trụ vạn vật với những tính chất tự
nhiên, tĩng lặng, trống không. Cả hai đều đạt trình độ tư duy trừu tượng cao đến mức biến cả hai khái niệm
được. Tự xem là sáng thì không sáng. Tự xem là phải thì không chói” (Đạo đức kinh, Chương 40).
Cùng với luật quân bình, vũ trụ vạn vật còn tuân theo luật phản phục. Theo luật phản phục,
cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất sẽ trở thành cái đối lập với nó; sự vật khi phát triển đến cực điểm các
tính chất của nó thì những tính chất ấy sẽ đi ngược lại để trở thành tính chất tương phản. Lão Tử viết: “Ít thì
Trang 5/12
được, nhiều thì mất” (Chương 22), “vật hễ thêm nó, thì nó bớt; bớt nó thì nó thêm” (Chương 42) và “trong
thiên hạ cái rất mềm thì làm chủ cái rất cứng” (Chương 43). Phản phục, theo Lão Tử có thể được hiểu theo
hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất tuần hoàn, đều đặn, nhịp nhàng
và tự nhiên của vạn vật. Như hết ngày rồi lại đến đêm, trăng tròn rồi lại khuyết, trăng khuyết rồi lại tròn. Đó
là quy luật bất di bất dịch của tự nhiên. Vạn vật cứ “mập mờ, thấp thóang”, khi đầy khi vơi, lúc sinh lúc tử,
…dưới sự chi phối tác động của lực phản phục. Vòng biến đổi tuần hoàn, tự nhiên bất tận ấy của vạn vật.
Lão Tử gọi là “thiên quân”. Phản phục còn có nghĩa là sự vận động trở về với “đạo” của vạn vật, gọi là sự
“phản giả đạo chi động” (Đạo đức kinh, Chương 40). Trở về với đạpo tự nhiên, vô vi là trở về với gốc rễ,
cội nguồn của mình, bên bỉ, trường tồn. Lão Tử viết: “Đến chỗ cùng cực hư không là giữ vững được trong
cái tĩnh. Vạn vật cùng đều sinh ra, ta lại thấy nó trở về với gốc. Ôi ! Mọi vật đều trùng trùng trở về với cội
rễ của nó. Trở về cội rễ gọi là tĩnh, thế gọi là quay về với mạng” (Đạo đức kinh, Chương 16).
Sự trở về với “đạo” của vạn vật, ở trạng thái nguyên sơ, tĩnh lặng, trống rỗng và tự nhiên
được coi là tất yếu, bởi theo Lão Tử: “Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là chủ của động – Trọng vi khinh căn, tĩnh
vi táo quân” (Đạo đức kinh).
Cùng với luật quân bình, vũ trụ vạn vật còn tuân theo luật phản phục. Theo luật phản phục. Theo
quy luật phản phục, cái gì phát triển đến đột đỉnh sẽ trở thành các đối lập với nó; sự vật khi phát triển đến
cực điểm các tính chất của nó thì những tính chất ấy sẽ đi ngược lại để trở thành tính chất tương phản. Lão
Tử viết: “Ít thì được, nhiều thì mất” (Chương 22) , “vật hễ thêm nó, thì nó bớt; bớt nó thì nó thêm”
(Chương 42) và “trong thiên hạ cái rất mềm thì làm chủ cái rất cứng” (Chương 43). Phản phục, theo Lão
Tử có thể được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất tuần
hoàn, đều đặn, nhịp nhàng và tự nhiên của vạn vật. Như hết ngày lại đến đêm, trăng tròn rồi lại khuyết,
trăng khuyết rồi lại tròn. Đó là quy luật bất di bất dịch của tự nhiên. Vạn vật cứ “mập mờ, thấp thoáng”, khi
đầy khi vơi, lúc sinh lúc tử dưới sự chi phối tác động của luật phản phục. Vòng biến đổi tuần hoàn, tự
nhiên bất tận ấy của vạn vật, Lão Tử gọi là “thiên quân”. Phản phục còn có nghĩa là sự vận động trở về với
cưỡng ép vạn vật tức là đem cái nhân vi, giả tạo thay thế cho cái tự nhiên, là trái với “đạo vô vi”, tất nhiên
sẽ thất bại. Cho nên, Lão Tử thường nói: “Lấy thiên hạ thường ở sự vô, nếu mà hữu sự không đủ lấy thiên
hạ” (Đạo đức kinh, Chương 48).
“Vô vi” còn có nghĩa là không làm mất cái đức tự nhiên, thuần phách vốn có của vạn vật, không ý
chí, dục vọng, không ham muốn những gì trái với bản tính tự nhiên của mình và của vật. Nếu để mất đức
tự nhiên, ham muốn những gì trái với bản tính tự nhiên của mình, cố tình thỏa mãn những dục vọng đó,
dẫn tới sự can thiệp vào guồng máy tự nhiên sẽ mang lại những tai họa: “Ngũ sắc làm cho mắt mờ, ngũ âm
làm cho tai điếc, ngũ vị làm cho miệng chán, cưỡi ngựa săn bắn làm cho lòng phát cuồng, vật khó khiến
làm cho lòng tà vậy” (Đạo đức kinh, Chương 12)
“Vô vi”, không chỉ là sống tự nhiên thuần phác, không ham muốn dục vọng mà còn không cần đến
cả tri thức, văn hóa, kỹ thuật và cả sự tiến bộ xã hội. Ông nói: “Trí tuệ sinh thì có đại nguy” (Đạo đức kinh,
Chương 18). Bởi theo ông, hiểu biết càng nhiều thì trí xảo, trí xảo càng nhiều càng ham muốn, tranh đoạt,
chiếm đoạt, xâm phạm lẫn nhau, trái với đạo tự nhiên. Cho nên: “Theo học thì càng thêm phiền phức, mà
theo đạo thì ngày càng bớt, bớt rồi thì lại bớt, bớt đến mức vô vi” (Đạo đức kinh, Chương 48). Tốt nhất
người ta hãy: “bỏ hẳn cái học đi thì không lo lắng gì cả, hiện ra cái nõn nà, âm lấy cái chất phác, ít lòng tư,
bớt lòng dục” (Đạo đức kinh, Chương 20).
Trong tư tưởng “vô vi”, Lão Tử còn chống lại những chuẩn mực đạo đức và thể chế pháp luật.
Ông coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào bản tính tự nhiên của con người. Những cái đó cũng là
nguyên nhân của sự dả dối và điều ác: “Nước nào chính sự lờ mờ thì dân thuần phục, nước nào chính sự
rành rọt thì dân lao đao” và “pháp luật càng tăng, trộm cướp càng nhiều” (Đạo đức kinh, Chương 57). Còn
tất cả những cái gọi là nhân, lễ, nghĩa, trí, theo Lão Tử, chỉ là giả tạo, trái với tự nhiên, xa rời mất đạo mà
thôi. Ông phê phán những quan điểm và chủ trương “hữu vi” của Nho giáo và cho rằng: “mất đạo rồi mới
có đức, mất đức rồi mới có nhân, mất nhân rồi mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có lễ. Lễ chỉ là cái vỏ
mỏng của lòng trung tín, mà cũng là đầu mối của sự loạn ” (Đạo đức kinh, Chương 38). Ông còn nói:
“Đạo lớn mất mới có nhân, nghĩa. Trí tuệ sinh mới có dối trá. Lục thân chẳng hòa mới có hiếu từ. Quốc gia
hỗn loạn mới có bề tôi trung” (Đạo đức kinh, Chương 18). Thậm chí, sống theo đạo “vô vi”, theo Lão Tử,
ngay đến chính bản thân mình cũng không quý nó và lo lắng cho nó. Có thân màcoi như chẳng có, cứ tự
nhiên thanh thản thì chẳng có gì phải lo cả. Lão Tử viết: “ Người ta lo lắng chỉ vì có cái thân, vì trọng cái
thân mình quá nên không còn cái thân thì lo gì nữa ?” (Đạo đức kinh, Chương 30).
“Vô vi” còn có nghĩa là bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của mình, của vật. Cho nên Lão Tử nói:
dập tắt được sự phản kháng của nhân dân. Bởi vì, dân không sợ chết thì làm sao lấy cái chết đe dọa làm
cho họ sợ? Từ đó, ông đòi hỏi giai cấp thống trị phải tuân theo quy luật tự nhiên, không được can thiệp vào
đời sống tự nhiên của con người, đưa xã hội và con người trở về trạng thái tự nhiên, nguyên sơ, chất phác,
không ham muốn, không dục vọng, không thể chế pháp luật, không bị ràng buộc bởi các nguyên tắc luân
lý đạo đức, không cần tri thức, trí xảo, mà tuân theo bản tính, khả năng, sở thích tự nhiên của mỗi người và
để mỗi người tự làm những việc cần phải làm một cách tự nhiên. Lão Tử viết: “Không chuộng hiền khiến
dân không tranh, không trọng vật nên dân không trộm cướp, không thấy vật đáng ham khiến lòng dân khỏi
loạn. Cho nên lối trị dân của bậc thánh nhân là làm cho dân lòng trống, bụng no, ý chí yếu, xương cốt
manh, thường khiến dân không biết, không muốn”.
Theo đạo “vô vi”, Lão Tử mơ ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã nguyên thủy,
không thể chế, không có chế độ tư hữu và trao đổi hàng hóa, sống tự cấp tự túc. Đó là cảnh mộc mạc, “vô
danh phi phác”, như đạo vô danh của ông: “Nước nhỏ, dân ít. Dù có khí cụ gấp trăm gấp chục sức người
cũng không dùng đến. Ai nấy đều coi sự chết là hệ trọng nên không đi đâu xa. Có xe thuyền mà không ai
ngồi. Có gươm giáo mà không bao giờ dùng. Bỏ văn tự, bắt người ta trở lại dùng lối thắt dây ghi dấu thời
thượng cổ. Ai nấy đều chăm chú vào việc ăn no, mặc ấm, ở yên, vui với phong tục của mình. Ở nước này
có thể nghe tiếng gà gáy chó sủa của nước kia, nhân dân trong những nước ấy đến già chết mà vẫn không
qua lại lẫn nhau”.
Trong quan điểm về chính trị - xã hội, với tư tưởng “vô vi”, Lão Tử kịch liệt lên án chiến tranh, bạo
ngược và chủ trương “bất tranh” và “khiêm hạ”. Ông coi chiến tranh là trái với đạo tự nhiên, là tàn bạo và
đại họa cho xã hội. Chiến tranh, theo Lão Tử không chỉ gây ra sự chết chóc, tàn phá, đau thương là hậu quả
của nó còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội
2.3.Tư tưởng triết học đạo gia của Trang Tử
Trang Tử sống vào thời kỳ đảo lộn dữ dội trong lịch sử Trung Quốc cổ đại – thời Chiến quốc. Đây
là một thời loạn ly, chiến tranh khốc liệt nhằm tranh giành quyền lực giữa các nước chư hầu.
Trang Tử được coi là nhà tư tưởng lớn về đạo học trong triết học cổ Trung Quốc, người có công
mài dũa viên ngọc “đạo” của Lão Tử làm hiện lên đầy đủ vẻ lấp lánh huyền hoặc của nó. Vì thế, người đời
xưa thường gọi trường phái triết học này là Lão – Trang.
Trung tâm của toàn bộ học thuyết triết học Trang Tử là quan niệm về “đạo”, “đức” và mối quan hệ
đồng nhất của chúng. Trang Tử thường gọi ngắn gọn là “đạo sống”, “nguồn sống” hoặc “sống chung”.
Quan niệm về “đạo” ở Trang Tử thực chất là những vấn đề bản thể luận và vũ trụ quan, nó là nền
khăng khít với nhau, luôn chuyển hóa cho nhau: “Vạn vật không đồng nhau, thế thì cái gì khiến
nó liên lạc được với nhau?”. Người cùng với tạo hóa hợp làm một rồi,mọi vật đều vận động theo
một quy luật tất yếu, bất di bất dịch như một vòng tròn lưu chuyển vô cùng tận, dưới sự tác động
của “đạo” mà Trang Tử gọi là “Thiên quân” hay “đạo trời”. Thiên quân là trật tự trong sự quân
bình với những vòng tròn bất tận không đầu không cuối, không to không nhỏ.
Tóm lại, phép biện chứng của Trang Tử mang tính chất tự phát, nó không phải là một hệ
thống mà chỉ là những yếu tố tản mạn, rời rạc. Nó chỉ dừng lại ở mặt hình thức, còn về nội dung
thì lại là thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung. Những đặc điểm này đã dẫn đến tính thần bí và
huyền hoặc trong tư tưởng của ông.
Theo Trang Tử, để trị thiên hạ thì không cần phải làm gì cả, tự nhiên mà hóa. Mẫu mực xã
hội ở ông là một xã hội không thể chế, không pháp luật, không luân lý, không đạo đức
2.4.Nhận xét:
Với tư tưởng hết sức đặc sắc về “đạo” về phép biện chứng chất phác cũng như về quan điểm “vô
vi”, triết học của Lão Tử thực sự trở thành viên ngọc quý của nền triết học phương Đông. Trong cái “mập
mờ”, “thấp thoáng”, mơ hồ nhưng luôn chói sáng tính chất gợi mở, vạch đường, tư tưởng của ông làm
người đời sau phải kinh ngạc và thán phục trước sức mạnh tư duy độc đáo của ông. Tuy triết học Lão Tử
vẫn còn những thiếu sót, hạn chế, nhưng về phương diện lịch sử, chúng ta cũng phải nghiêng mình trước
những di sản tài hoa và sắc sảo của ông.
Những quan điểm chính trị xã hội của Trang Tử đã phản ánh đúng đắn tư tưởng và địa vị
giai cấp của ông ở thời kỳ xã hội loạn lạc. Ông đại diện cho tầng lớp quý tộc sa sút, mất địa vị xã
hội, nên hoài nghi ở hiện thực, lo sợ trước tương lai, quay lưng với thực trạng xã hội đương thời
để trốn tránh vào tự nhiên, hoài cổ. Mong muốn cứu đời nhưng ông lại phủ nhận mọi hoạt động
thực tiễn của con người để cuối cùng tìm đến quyền lực, sức mạnh của tự nhiên – “đạo”, và chính
ông đã tuyệt đối hóa nó để biến thành sức mạnh siêu nhiên thần bí.
Tuy nhiên, cách sống dửng dưng, thoát thoát tục, vị ngã của trường phái Đạo gia là một phản ứng
tiêu cực trước sự bế tắc của thời cuộc bấy giờ nhưng nó lại phù hợp với quan điểm nhân sinh của nhiều
người lúc bấy giờ. Vì vậy, trường phái Đạo gia được nhiều người ngưỡng mộ và tin theo.
3. Tư tưởng triết học của Pháp gia
3.1.Sự hình thành và phát triển của Pháp gia
Trang 9/12
hiệu, đòi hỏi kẻ hành pháp phải công bằng vô tư. Hàn Phi đã viết trong thiên "Ngũ xuẩn" rằng: "Phù thùy
khấp bất dục hình giả, nhân giã; nhiên nhi bất khả bất hình giả, pháp giã. Tiên vương thắng kỳ pháp, bất
thính kỳ khấp". (Phàm là người rơi lệ, không đành lòng gia hình cho kẻ khác, là Nhân; nhưng buộc không
thể không gia hình cho kẻ khác là Pháp. Tiên vương sở dĩ đã thắng lợi thành công, là nhờ vào Pháp, chẳng
màng đến tiếng khóc than). Theo quan niệm của Hàn Phi như vậy, thì Pháp chẳng những có ý nghĩa pháp
lệnh quốc gia về mặt chính trị, đồng thời còn là tiêu chuẩn tối cao về giá trị xã hội nữa. Do đó, Hàn Phi đã
đả kích hầu hết các học thuyết khác, kể cả Khổng - Mạnh, Lão – Trang và Mặc Tử nữa.
Theo Hàn Phi, nội dung chính yếu của Pháp là thưởng và phạt. Sở dĩ phải nhấn mạnh vấn đề
thưởng phạt, là vì có ba nguyên nhân sau đây:
1/ Người ta có tâm lý ham thưởng sợ phạt, nên áp dụng luật thưởng phạt, là phương pháp cai trị
hữu hiệu nhất.
2/ Nếu vua chúa để mắt nhìn, để tai nghe và dùng đầu óc suy tư thì rất dễ bị thần thuộc a dua lừa
bịp. Một khi đã áp dụng luật lệ thưởng phạt, thì sẽ tránh được tệ hại đó bởi điều thưởng phạt là phán xét
theo sự kiện khách quan, việc gì đáng thưởng, điều nào đáng phạt, đều được định sẵn bằng luật lệ minh
bạch, khỏi bị ảnh hưởng bởi tình cảm chủ quan.
3/ Thưởng phạt là lợi khí sắc bén, để vua chúa kiểm soát thần thuộc.
Bá Di, Thúc Tề vì tưởng niệm cố quốc, bất mãn chính trị mà chịu chết đói trên núi hoang, được
Khổng Tử tôn là hiền sĩ, nhưng với Hàn Phi thì cho rằng, những người chẳng ham thưởng, không sợ phạt
như vậy, là "hạng thần dân vô ích", theo tiêu chuẩn giá trị chữ "Pháp".
3.2.2 - Thuật:
Trang 10/12
Là một quan niệm rất quan trọng, trong tư tưởng của Hàn Phi, luôn luôn gắn liền với "Pháp", chỉ
có khác ở chỗ, Pháp để trị dân, còn Thuật thì để nhà vua kiểm soát thần thuộc. Vậy Thuật của vua là thuật
gì? Một là, "Cách tắc nhi bất thông, chu mật nhi bất hiện". (Ngăn cách đừng thông nhau, kín đáo đừng lộ
liễu); hai là, giấu kỹ tình cảm ghét thương. Về điểm một là bảo, kẻ làm vua nên sống cách biệt với quần
thần, đừng để họ thấy cử chỉ của mình, mà đoán biết ý định chân chính của mình; điểm hai là bảo, người
làm vua phải tập làm sao cho tình cảm ai lạc hỷ nộ của mình, chẳng bao giờ biểu lộ ra ngoài, có vậy thì
đám thần thuộc sẽ không cách nào khai thác, lợi dụng cảm tình của mình. Xem đó thì ai muốn có "Thuật"
làm vua, cũng chẳng dễ gì, cần phải học hỏi thêm công phu tu thân, dưỡng tính vừa Hư và Tĩnh của cả nhà
Nho lẫn nhà Đạo, mới mong thành công được. Để giữ gìn quyền lực tuyệt đối của nhà vua, Hàn Phi
sinh nhiều tư tưởng đặc sắc của nên triết học Trung Hoa nói riêng và triết học phương Đông nói chung.
Cả học phái Đạo gia và Pháp gia đều hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội thái bình thịnh trị, và
phú cường. Cả hai học phái đều coi trọng sự thống nhất đất nước, lên án chiến tranh. Đây là điều khiến cho
Đạo gia lẫn Pháp gia được ủng hộ và tin theo.
Cả hai học phái đều tồn tại nhiều hạn chế, trước tiên đó là tính bảo thủ. Đạo gia không thừa nhận
sử biến đổi của xã hội, không thúc đẩy sự phát triển của xã hội (cho rằng sự đấu tranh giửa các mặt đối lập
không làm xuất hiện cái mới, vạn vật mất đi và quay về với đạo tức theo một chu trình khép kín. Còn Pháp
gia quá đề cao pháp trị, áp dụng dụng thưởng, phạt máy móc và thái quá mà không thừa nhận tình cảm đạo
đức, không có tính đàn hồi trong việc sử dụng pháp luật.
Trang 11/12
Cả Đạo gia và Pháp gia đều yêu cầu mọi việc phải luôn biến đổi. Đạo gia nhấn mạnh đến tính
tương đối của tri thức con người cũng như của chế độ, còn Pháp gia đi đến kết luận rằng, cần phải lấy yêu
cầu trước mắt làm phương hướng cho việc giải quyết các vấn đề chính sự. Nó đòi hỏi người đứng đầu bộ
máy quyền lực phải luôn theo sát tình hình thực tế: “Bậc thánh nhân không cốt trau dồi chuyện xưa, không
noi theo những nguyên tắc bất biến, khi bàn việc làm ở đời thì dựa theo tình hình của thời mình mà đặt ra
những biện pháp”
4.2.Sự khác biệt giửa Đạo gia và Pháp Gia
Về đường lối: Đạo gia sử dụng học thuyết “vô vi”, có nghĩa là sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên,
thần phái, không làm trái với tự nhiên, không can thiệp vào trật tự của tự nhiên, chỉ làm cho dân no bụng,
xương cốt mạnh mà lòng hư tĩnh, khiến cho dân không biết, không muốn. Còn Pháp gia, theo Hàn Phi thì
chủ trương đường lối “pháp trị”. Để cai trị xã hội cần phải có 3 yếu tố là Pháp, Thuật và Thế.
Về chính sách: Đạo gia không dùng chính sách pháp luật, không cần giáo dục nhân dân mà hướng
họ đến trạng thái “vô vi”, ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã nguyên thủy, không thể chế,
không có chế độ tư hữu và trao đổi hàng hóa, sống tự cấp tự túc. Còng Pháp gia dùng chính sách Pháp luật,
công bố cho mọi người biết đề tuân theo và phải thay đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể vì không có một
thứ pháp luật luôn luôn đúng với mọi thời đại. Pháp gia nhấn mạnh việc thưởng, phạt trong khi đạo gia
xem cuộc sống là “vô vi”, là vô thưởng vô phạt.
Về tổ chức: Đạo gia hạn chế quyền lực của Nhà nước, mong muốn đưa xã hội trở về thời công xã
nguyên thủy, không có vua quan, không có sự cai trị, bị trị. Trong khi đó, Pháp gia đề cao vai trò của vai
trò của Nhà nước, vị thế quyền lực của lãnh đạo. Pháp gia cho rằng người lãnh đạo có đủ quyền lực và
1. TS. Bùi Văn Mưa – Giáo trình Triết học phần 1: Đại cương về lịch sử triết học (2012)
2. Doãn Chính – Đại Cương về Triết học Trung Quốc (1997)
3. Lê Anh Minh – Tư Tưởng Đạo gia
MỤC LỤC
Trang 13/12