ô
!"#$%&
'()$'(*
+(,-
./0$ 1%23
/" 45'(
67
8" 7
9 (:
8 77
;$6737<67
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
+4
Sau hơn 2500 năm tồn tại và phát triển, khởi nguồn từ các hệ thống tư duy lý
luận ở các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại vào khoảng thế kỷ VIII-VI
trước CN, triết học ngày càng đóng vai trò to lớn trong đời sống xã hội loài
người. Triết học không chỉ có vai trò to lớn đối với các nhà khoa học mà còn có
vai trò to lớn đối với rèn luyện năng lực tư duy của con người.
Nền triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản
hợp xướng của triết học phương Tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm
tàng của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương
Tây sau này. Chính vì vậy mà Ăngghen đã nhận xét: “Không có cơ sở văn minh
Hy Lạp và đế quốc La Mã thì cũng không có Châu Âu hiện đại được”.
Trong đó, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất nguyên duy vật và nhất
nguyên duy tâm của giai đoạn cực thịnh đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch
sử triết học Hy Lạp cổ đại. Trong cuộc đấu tranh này, chủ nghĩa duy tâm ngày
càng thông minh, càng siêu hình tinh vi hơn, còn chủ nghĩa duy vật ngày càng
trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự nhiên).
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại ra đời từ thế kỷ VI trước CN và kéo dài
đến thế kỷ thứ IV. Sự phát triển của nó đã mở rộng sự phân công xã hội, tách lao
động trí óc khỏi lao động chân tay, điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớp trí
thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học,
khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật. Sự xuất hiện của những trí thức khoa
học và triết học trong thời kỳ này đã tạo nên một bước ngoặt lớn về nhận thức
của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ. Xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những tri thức về khoa học tự nhiên phát triển
mạnh, được trình bày trong hệ thống triết học – tự nhiên của các nhà triết học cổ
đại.
Trong thời đại này, người Hy Lạp đã xây dựng một nền văn minh vô cùng xán
lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Về văn học, người
Hy Lạp đã để lại một kho tàng thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 2
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
tình cảm, những vở kịch hấp dẫn Thần thoại là nơi để con người tưởng tượng,
diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể hiện đời sống tâm
linh, sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đời sống thường ngày. Thần
thoại là nơi đầu tiên để tư duy triết học ra đời và từng bước triết học tách khỏi thần
thoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã hội, về lẽ sống, về chân lý, về con
người…
Về nghệ thuật, người Hy Lạp đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa
có giá trị. Về luật pháp, người Hy Lạp đã sớm xây dựng một nền pháp luật và thực
hiện khá nghiêm tại thành bang Aten. Về khoa học tự nhiên, các thành tựu toán
học, thiên văn, vật lý được các nhà khoa học tên tuổi như Talét, Pytago,
Ácximét, Ơclít sớm phát hiện ra. Đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di
sản triết học đồ sộ và sâu sắc. Chúng là cơ sở hình thành nên nền văn minh
phương Tây hiện đại. Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ
61gQI[hI[ASiIjbkFITUNRAVNJWIXYPIZ[YA
Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức hệ
và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị.
Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa
các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần và gắn liền với sự
đấu tranh chính trị - tư tưởng; trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu
duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Platông
Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác.
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để nâng
cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình.
Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng
hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế
giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong
nó.
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 4
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người, tìm cách mang lại cho con
người cuộc sống hạnh phúc. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều
quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể
xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ.
#7 $l$'()$
'(*
716RAVNJWImCXnoNIJpNPJQI
Chủ nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Milê – trường phái Hêraclít,
trường phái đa nguyên Empêđốc – Anaxago và đạt được đỉnh cao trong trường
phái nguyên tử luận Lơxíp – Đêmôcrít.
71616RqrF\PJQAAGs
Trường phái triết học Milê do ba nhà triết học: Talét, Anaximăngđrơ và
Anaximen xây dựng nên nhằm làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Đặc
của biện chứng pháp: khái niệm vạn vật biến chuyển, mâu thuẫn nội bộ trong
mỗi vật, không phải là mâu thuẫn giữa cái này và cái kia, mà là trong sự đồng
nhất có mâu thuẫn mà chính nó đồng nhất là vì nó mâu thuẫn với nó.
7161gRqrF\PJQA[UF\CXsFuiPs[vIwFUxU\]
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật,
Empêđốc (490 – 430 TCN) và Anaxago (500 – 428 TCN) cố vượt qua quan niệm
đơn nguyên sơ khai của các trường phái như Milê – trường phái Hêraclít, xây
dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng. Theo
Empêđốc, có 4 nhân tố: lửa - khí - nước - đất, chịu sự tác động của hai loại lực là
tình yêu và thù hận. Yêu thì hợp nhau, ghét thì xa nhau do vậy các nhân tố tổng
hợp và giải tán tùy theo yêu và ghét. Dựa trên quan điểm này, Empêđốc cho rằng
vũ trụ vận động phát triển với quy trình gồm bốn giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Tình yêu chiến thắng và ngự ở tâm vũ trụ, đẩy hận thù ra ngoài
biên, vũ trụ như quả cầu duy nhất, đồng nhất, thống nhất, không phân chia.
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 6
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
+ Giai đoạn 2: Hận thù tiến vào tâm vũ trụ, đẩy tình yêu ra khỏi tâm, vũ trụ bắt
đầu phân hóa.
+ Giai đoạn 3: Hận thù chiến thắng và ngự ở tâm vũ trụ, đẩy tình yêu ra ngoài
biên, vũ trụ hoàn toàn bị phân hóa thành bốn yếu tố lửa - khí - nước - đất.
+ Giai đoạn 4: Tình yêu tiến dần vào vũ trụ, đẩy hận thù khỏi tâm và kết hợp với
bốn yếu tố lửa - khí - nước - đất tạo nên hay làm mất đi sự vật.
Cũng theo trường phái đa nguyên nhưng Anaxago cho rằng vạn vật được sinh ra
từ những cái tương tự như chúng mà ông gọi là hạt giống, cực nhỏ và có thể phân
chia đến vô tận. Sự biến hóa về chất của vạn vật là kết quả thay thế phần lớn các
hạt giống trong chúng. Dưới tác động của Nus – trí tuệ thuần túy hay linh hồn
của thế giới mà các hạt giống sinh sôi, nảy nở và thay thế cho nhau. Theo
Anaxago, mầm nào sẽ sinh giống nấy, nhưng mỗi hạt giống sẽ chứa tất cả các hạt
giống khác ở liều lượng nhỏ hơn.
tương ứng với một con số nhất định, con số có trước vạn vật. Pytago coi linh hồn
bất tử tồn tại độc lập với thể xác và chịu sự chi phối bởi luật luân hồi.
71717RqrF\PJQA/Gs
Trường phái Êlê do Xênôphan thành lập theo tinh thần duy vật, nhưng sau đó
được Pácmênic phát triển theo tinh thần duy lý ngả về khuynh hướng duy tâm
khi dựa trên khái niệm nền tảng – tồn tại. Điều này đã mở ra một giai đoạn mới
trong sự phát triển tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại coi cái khởi nguyên của thế
giới không phải là một sự vật cụ thể mà là tồn tại.
Xênôphan (570 – 478 TCN) là bạn của Talét nên chịu ảnh hưởng của nhà triết
học này. Ông cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng cũng trở về với
đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn loài.
Ông cho rằng, nhận thức cảm tính nếu không sai lầm thì cũng không đầy đủ.
Bằng cảm tính, chúng ta không thể nhận thức được bản chất sự vật. Muốn nhận
thức được bản chất sự vật phải dựa vào tư duy, lý tính.
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 8
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Pácmênic (500 – 449 TCN) xuất thân trong một gia đình trí thức giàu có ở Êlê.
Ông cho rằng, tồn tại là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn vật trong
thế giới, bản chất của sự tồn tại là bất biến, vĩnh hằng, đơn nhất và tồn tại – bản
chất của vạn vật chỉ có thể được nhận thức bởi tư duy lý tính. Theo Pácmênic, có
hai cách nhận thức thế giới là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Tồn tại là
một phạm trù triết học mang tính khái quát cao, và nhận thức bởi tư duy lý tính.
Quan niệm tồn tại đã đánh dấu một giai đoạn mới trong phát triển triết học Hy
Lạp cổ đại.
Dênông (490 – 430 TCN) là người bảo vệ nhiệt thành trường phái Êlê. Ông đưa
ra những apôri nghĩa là tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý. Thông qua
chúng, ông chứng minh rằng, “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến”, còn
tính phức tạp, đa dạng và vận động của thế giới là không thực, không thể dùng
trực quan cảm tính để nhận thức sự vật, mà phải dùng tư duy trừu tượng mới thấy
Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại luôn có sự đấu tranh không ngừng giữa hai
trường phái triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm, tuy nhiên, giữa hai
trường phái này vẫn tồn tại nhiều điểm tương đồng khi chúng ra đời, hình thành
và phát triển trong cùng một điều kiện lịch sử, tại một quốc gia nhờ có điều kiện
tự nhiên thuận lợi đã sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có nền công –
thương nghiệp phát triển, có nền văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng, sớm hội
tụ đủ các điều kiện cho khoa học và triết học hình thành và phát triển rực rỡ.
Trong những nền văn minh cổ đại rực rỡ mà ngày nay người ta biết được thì nền
văn minh Hy Lạp xuất hiện muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đặc biệt là
về triết học. Điều đó có thể giải thích bằng tính chất điển hình của chế độ chiếm
hữu nô lệ ở đây. Hy Lạp đã có một chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển tới hình
thức cao. Sự phát triển của nó đã mở rộng sự phân công xã hội, tách lao động trí
óc khỏi lao động chân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức chủ nô nghiên cứu
triết học, khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật. Vì vậy, cả hai trường phái
triết học duy vật và duy tâm ở Hy Lap cổ đại đều gắn liền với lịch sử ra đời của
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 10
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
nền chính trị Hy Lạp cổ đại và phản ánh lịch sử của đất nước này, chúng đều trải
qua ba giai đoạn: giai đoạn hình thành, giai đoạn cực thịnh và giai đoạn suy tàn.
Do triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại được nghiên cứu bởi tầng lớp trí thức chủ nô
nên trường phái triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm đều giống nhau ở
chỗ nó thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức hệ và phương pháp luận
của giai cấp chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự
xã hội, là công cụ nô dịch, đàn áp các giai cấp khác về mặt tư tưởng, củng cố vai
trò thống trị của mình. Điều đó thể hiện rõ nét trong tư tưởng của hai nhà triết
học Đêmôcrít – tiêu biểu cho trường phái duy vật chất phác và Platông – tiêu
biểu cho trường phái duy tâm đối với vấn đề chính trị - xã hội, họ đều đứng trong
lập trường của giai cấp chủ nô thống trị, đề cao vai trò của giai cấp chủ nô và của
Nhà nước, đồng thời xem thường vai trò của tầng lớp nô lệ, đặc biệt là Platông,
sự khác biệt cơ bản giữa hai trường phái triết học Hy Lạp cổ đại: duy vật chất
phác và duy tâm; nếu như các nhà triết học duy vật cho rằng bản chất của thế giới
là vật chất, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất có trước và
quyết định ý thức thì các nhà triết học duy tâm lại quan điểm: bản chất của thế
giới là tinh thần, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, ý thức có trước
và quyết định vật chất.
BnpF[BDJ•AF\CXsFITUNJV\A€A
Như đã trình bày ở trên, theo quan điểm của trường phái triết học duy vật chất
phác thì bản chất của thế giới là vật chất, thế giới khởi nguồn từ vật chất, với
Talét thì đó là nước, với Hêraclít là lửa, theo Empêđốc là 4 nhân tố: lửa - khí -
nước - đất. Còn Đêmôcrít quan niệm rằng nguyên tử và khoảng trống là cơ sở
đầu tiên cấu tạo nên mọi vật. Ông quan niệm sinh vật biết đổi là do sự sắp xếp
của các nguyên tử.
Đối với các nhà triết học theo trường phái duy tâm thì thế giới khởi nguồn từ ý
thức, tinh thần là bản chất của thế giới. Do ảnh hưởng của toán học, Pytago cho
rằng “con số” là bản nguyên của thế giới, là bàn chất của bạn vật; còn đối với
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 12
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Pácmênic thì đó là “tồn tại”. Đến thời đại của Platông, ông cho rằng ý niệm là
nguồn gốc sinh ra thế giới. Ý niệm tồn tại ngoài con người, ngoài cảm giác của
con người. Platông thừa nhận có hai thế giới tồn tại: thế giới ý niệm, là thế giới
tồn tại vĩnh viễn, bất biến, bất động, tuyệt đối chân thực; và thế giới sự vật cảm
tính là thế giới tồn tại không chân thực, luôn luôn biến đổi, là cái bóng của ý
niệm, do ý niệm sản sinh ra, phụ thuộc vào ý niệm.
Bn•NR‚
Về vũ trụ thì các nhà triết học duy vật chất phác cho rằng vũ trụ là vô tận, vĩnh
cửu; có vô số thế giới phát sinh, phát triển và tiêu diệt. Trường phái triết học duy
tâm thì ngược lại, họ cho rằng vũ trụ này không tồn tại thực, tất cả chỉ là sự phức
hợp của ý niệm, của tinh thần; do ý niệm quy định, do thượng đế quyết định và
toát ra những hơi thở tinh tế tạo thành hình ảnh của chúng, những hơi thở tinh tế
đó tác động vào cơ quan cảm giác của con người làm cho mọi người cảm nhận
được sự vật.
Còn đối với trường phái duy tâm, họ cho rằng chỉ có nhận thức lý tính mới có thể
khám phá ra bản chất đích thức của thế giới, phát hiện ra chân lý; nhận thức cảm
tính không bao giờ có thể đạt tới tri thức chân thực của thế giới mà chỉ mang lại
sai lầm, ảo giả. Nếu như các nhà triết học duy vật đề cao vai trò của nhận thức
cảm tính thì các nhà triết học duy tâm hoàn toàn ngược lại; họ đề cao vai trò của
nhận thức lý tính và hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính, họ cho rằng nhận
thức chẳng qua chỉ là sự hồi tưởng, nhớ lại những ý niệm.
B{CUF[ASiIJtFJNRHƒx„J…A
Cuối cùng, về quan điểm chính trị - xã hội thì trường phái duy vật chất phác
đứng về lập trường của phái chủ nô dân chủ, kịch liệt chống lại phái chủ nô quý
tộc. Tiêu biểu là Đêmôcrít, ông ra sức bảo vệ và tuyên truyền cho chế độ dân chủ
của chủ nô. Ông ca ngợi, cổ vũ tinh thần thân ái, tính ôn hoà, lợi ích chung và
quyền lợi chung của công dân tự do. Ông đề cao Nhà nước, chính Nhà nước
đóng vai trò duy trì trật tự và điều hành xă hội.
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 14
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Còn trường phái triết học duy tâm, mà tiêu biểu là Platông, lại đề cao vai trò của
chế độ quý tộc, đứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ
dân chủ tiến bộ của xã hội. Platông chủ trương duy trì các hạng người trong xã
hội, cũng có nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra đời là
để đáp ứng những nhu cầu đó. Theo Platông, hình thức cộng hoà là “Nhà nước lý
tưởng”, trong đó quyền thống trị tuyệt đối thuộc về tầng lớp chủ nô quý tộc. Nhà
nước, đó là hiện thân của cả ba đức tính: thông thái, can đảm và thận trọng.
Trong “Nhà nước lý tưởng”, Platông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc
trưng đạo đức. Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, các nhà thông thái, giữ vai
trò lănh đạo xã hội; đẳng cấp thứ hai là quân nhân có trách nhiệm bảo vệ “Nhà
nền tảng, cơ sở hiểu biết để nghiên cứu, khám phá những vấn đề mang tính lý
luận trong thực tiễn, trong cuộc sống chúng ta.
00
!"#$%
&'()*)+
, /,01234567581595:15;5<99=,>14?@9=,A95B4C2D;4EFD,+
+<4G,@,FHD14?@9=,A95B4CD;4EFD,I
I<4FJ4F,>K4LMN14?@9=,A95B4CD;4EFD,O
+PQ "&'R( ST &'R(UV
+=,A95B4W.CXY945Z9;5<4V
+=[\1G;5<,,2]V
+I=[\1G;5<,F@1G.C]1^K;]F_4`%1@a@GHb
+O=[\1G;5<,1G.C]1972.Y1Lac;`]Kd4=c9e
++=,A95B4W.C9fKg
++=[\1G;5<,C9@GHg
+++=[\1G;5<,h2]g
++I=[\1G;5<,W.C9fK/5<45i.@14?@jd4=<9`2@9d1Gk
HVTH: Trần Đình Duy
Page | 16
Tiểu luận triết học GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
Ilm P#no%&R( SU &
'R(U()*)p
Iq9[L1GFr1Gp
I+q/5<4M,09+
P&SV
=,A95B4CD;4EFD,F[s4atK2:95:159q.=q4=u4?@Xv1K,15;5[L1GfC2:15w1GX,]1
GD45Fx.y]1afC1]19H:1Mz1Gd,15:Xv1K,154?@5f.U.1G:C1@Cqa.Z95,014?@
15w1G9=,95{4/5H@5B4X:9=,A95B49=H1G95\,/|1:CF}9DH1]1Kz9M[~41GHJ92~1X-15Y1
95{44?@4H11G[\,;5<Xu•95{45095x195HD,X:9d1G,<H1G.C]195.€9=,A95B4CD;4E