TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Viện Đào Tạo Sau Đại Học
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT VÀ
TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI Học viên thực hiện: Trần Quốc Việt
STT: 116
Khóa 22 - Đêm 3 - Nhóm 6
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TP.HCM, tháng 12/2012
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 1
hơn đó là về SỰ KHÁC BIỆT VÀ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA CHỦ NGHĨA DUY
TÂM VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI.
Triết học Hy Lạp cổ đại được xem là thành tựu rực rỡ của văn minh phương Tây,
tạo nên cơ sở xuất phát của triết học châu Âu sau này. Nền triết học Hy Lạp cổ đại là
khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học phương
Tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại làm tiền đề
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 3
cho toàn bộ hệ thống triết học phương Tây sau này. Nền triết học trung cổ là khoảng
lặng của những phách nhạc thời gian trải qua hàng ngàn năm. Rồi mới được thăng
hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời kỳ phục hưng. Đây là giai đoạn quan trọng
bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng trắng quá dài. Từ những âm ba của những nốt
nhạc thăng trầm đó mà ta có cả nền triết học cận và hiện đại như nay. Trong bản
nhạc giao hưởng đầy tính bác học của triết học phương tây, mà khúc dạo đầu lại rực
rỡ âm sắc trang hoàng đó là những trường phái triết học Hy Lạp cổ đại, nó bước ra
khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh để khảy lên bằng chính đôi tay của
người phàm tục. Những đôi tay vàng ấy được phản ánh qua những triết gia dệt nên
những trang bất hủ bởi thời gian, trong những triết gia đó không thể không kể đến
Socrates, Plato, Aristotle, Epicurus
Triết
Gia
Tên Socrates Plato Aristotle Epicurus
Sinh K. 469 / 470
TCN
K. 427–428
TCN
384 TCN 341 TCN
Mất 399 TCN 347 TCN 7 tháng 3 năm 270 TCN
Tư
tưởng
Châm biếm Chủ nghĩa hiện
thực Platon
The Golden
mean, Nguyên
nhân sau cùng
Ảnh
hưởng
bởi ai:
Socrates,
Archytas,
Democritus,
Parmenides
Plato Democritus,
Pyrrho
Ảnh
hưởng
tới ai:
Triết học phương
Tây. Đặc biệt
nhấ
t; Plato,
Aristotle,
Aristippus,
Antisthenes
Hầu hết các triết
gia và các nhà
thần học sau ông
thành tựu rực rỡ của văn minh phương tây, tạo nên cơ sở xuất phát của triết học châu
Âu sau này. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tập trung vào hai chủ đề chính.
- Thứ nhất là mối liên hệ giữa nguyên nhân và hệ quả, hay nói cách khác, tìm
câu trả lời cho câu hỏi phải chăng các sự vật hiện tượng vận động theo một
chuỗi nguyên nhân-hệ quả tất yếu khách quan hay chỉ là sự trùng hợp, tình cờ
ngẫu nhiên.
- Thứ hai là bản chất và khởi thủy của thế giới tồn tại.
Hy Lạp là cái nôi của văn minh phương Tây. Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi,
khí hậu ôn hòa, những đồng bằng trù phú và các thành phố lớn như Athens ra đời
sớm. Thương mại cũng phát triển từ rất sớm với các hải cảng và đảo rải rác trên biển
Egée. Đó là nơi hội tụ những điều kiện hết sức thuận lợi cho nền văn hóa tinh thần,
bao gồm triết học phát triển mạnh mẽ.
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 6 Năng lực sản xuất tiến bộ mạnh mẽ trong thời kỳ thế kỷ VIII-VI trước công
nguyên cùng với những mô hình nhà nước thành bang cũng góp phần tạo nền tảng
cho triết học Hy Lạp ra đời và phát triển nhanh chóng. Triết học Hy Lạp cổ đại ra
đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó
là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ.
Hy Lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm phần đất liền và
vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie, vùng duyên hải Ban căng và Tiểu Á. Sự thuận
lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng phát triển tất cả
các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá. Vì vậy, nơi đây đã
hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp bay bổng, để thoả sức
sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư
tưởng của nhân loại. Xứng đáng là chiếc nôi của nền văn minh Châu Âu và của cả
nhân loại.
động chân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức chủ nô nghiên cứu triết học, khoa
học và sáng tạo văn học nghệ thuật. Hơn nữa, qua cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư,
nền văn hoá Hy Lạp đã kế thừa được nhiều thành tựu văn hoá của phương Đông.
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 8
Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói trên là
những điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học cổ Hy Lạp. Đúng như
Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không
có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La
Mã, mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có
Châu Âu hiện đại được”.
3/ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP THỜI
CỔ ĐẠI
Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quả
tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân
gian, trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự
nhiên). Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại. Thần thoại là nơi để con
người tưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể
hiện đời sống tâm linh, sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đời sống
thường ngày. Thần thoại là nơi đầu tiên để tư duy triết học ra đời và từng bước triết
học tách khỏi thần thoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã hội, về lẽ sống,
về chân lý, về con người…
Những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch pháp…
đã xuất hiện do nhu cầu buôn bán, vượt biển đến các nước phương Đông. Vì vậy,
các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cũng là những người đã nhiều lần đến phương
trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật.
Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở miền
nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại có những
quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế giới là một tồn
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 10
tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên của vũ trụ (trường
phái Pitago).
b/ Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V. TCN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô
lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ đại Hy
Lạp. Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các vấn đề
về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị. Trong đó, kết cấu của
vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học.
Theo khuynh hướng duy vật. Ămpeđôclơ cho rằng, bản nguyên của vũ trụ không
phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4 thực thể: đất,
nước, lửa, không khí. Anaxago lại cho rằng, mọi vật đều được cấu tạo từ hạt cực nhỏ
nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng.
Đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này là học thuyết về nguyên tử
của Đêmôcrít. Theo ông, tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử.
Nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, chúng
vĩnh viễn vận động, không có điểm kết thúc.
Đối lập lại chủ nghĩa duy vật trên đây là chủ nghĩa duy tâm khách quan của
Platôn. Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã
xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự
nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn
là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp, nhưng
là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý niệm của Platôn;
nô thống trị.
Là công cụ lý luận để giai cấp chủ nô thống trị duy trì trật tự xã hội và củng
cố vai trò thống trị của mình.
Có sự xuất hiện của phép biện chứng nhưng chỉ là chất phác. Sử dụng phép
biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, bảo vệ quan điểm triết học của
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 12
mình để tìm ra chân lý. Đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng
nhưng chưa trình bày một hệ thống lý luận chặt chẽ.
Triết học Hy Lạp gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi
hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như
một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật hiện tượng xảy ra trong nó.
Triết học thời kỳ này coi trọng vấn đề về con người khẳng định con người là
tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
Cùng giải quyết vấn đề của triết học đó là vật chất và ý thức.
Triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi mới ra đời đã đề cập đến nhiều vấn đề
khác nhau như: Nguồn gốc của thế giới là gì? Cuộc đời, số phận của con
người như thế nào? Các quan niệm về đạo đức, con người, thần linh…
5/ CHỦ NGHĨA DUY VẬT & CHỦ NGHĨA DUY TÂM - SỰ KHÁC BIỆT
Bình Diện Chủ nghĩa Duy Vật Chủ Nghĩa Duy Tâm
Trường phái
Có 4 trường phái:
Trường phái Milê
Trường phái Hêráclít
Trường phái đa nguyên Êmpêđốc –
Anaxago
Trường phái nguyên tử luận Lơxíp
Là trào lưu tư tưởng triết học cho
rằng: nguồn gốc, bản chất của vạn vật
trong thế giới là tinh thần. Trường phái
này cho rằng ý thức, tinh thần mới là cái
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 13
cái có sau; vật chất sinh ra ý thức và quyết
định ý thức; do đó họ cho rằng con người
có khả năng nhận thức được thế giới.
có trước, sinh ra và quyết định vật chất.
Quan niệm
về bản chất
thế giới
Khẳng định bản quyên thế giới là vật
chất.
Talet cho rằng bản nguyên thế giới
là “nước”, Anaximăngđrơ cho là
“apeiron”, Anaximen cho là “lửa”.
Hêraclit cho rằng bản nguyên của
thế giới là lửa.
Empêđốc cho rằng bản nguyên thế
giới đó là “đất, nước, không khí và
lửa”.
Anaxago đó là các “hạt giống”.
Đêmocrit giải thích về bản chất thế
giới: cho rằng nguyên tử là cơ sở
của vạn vật trong vũ trụ.
Nguyên tử là dạng vật chất nhỏ
giới vận động không ngừng,
không ngừng sinh ra và mất đi.
Quan niệm
về đạo đức
Đêmôcrít cho rằng sự hiểu biết là cơ sở
của hành vi đạo đức. Sống đúng mực, ôn
Platông cho rằng sống hạnh phúc là
sống có đạo đức.Sống đạo đức là làm
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 14
hòa, không gây hại cho mình và cho
người là sống có đạo đức. Hạnh phúc của
con người là trạng thái mà trong đó con
người sống trong sự hưởng lạc vừa phải,
trong sự thanh thản của tâm hồn tự do. Ta
thấy nếu con người thực hành theo những
điều trên, hoàn toàn có thể tìm thấy hạnh
phúc.
điều thiện. Hành vi hướng thiện là hành
vi không dựa trên sự khoái lại, lợi thú
chủa quan mà là hướng đến những ý
tưởng tuyệt đối khách quan thuộc về thế
giới ý niệm ở trên trời. Quan niệm này
rất thần bí. Nó cho rằng con người không
thể tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình ở
trần gian, mà chỉ có thể đạt được hạnh
phúc trong thế giới ý niệm ở trên trời,
sau khi chết.
thành các nguyên tử khi sinh vật chết.
Platông theo quan niệm duy tâm, coi
linh hồn là bất tử. Thể xác con người
được cấu tạo từ nước, đất, lửa, không khí
thì không bất diệt, nhưng còn linh hồn thì
bất diệt bởi vì linh hồn được sinh ra từ
lâu và thượng đế đưa vào thế xác con
người. Khi con người chết đi, linh hồn
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 15
Vạn vật không phải do thần thánh sinh ra.
bay ngược trở về các vì sao và chờ nhập
vào thể xác mới. Khi nhập vào thể xác,
linh hồn quên hết quá khứ của nó.
Quan niệm
về nhận
thức và thần
linh
Hêraclít cho rằng nhận thức thế giới là
phát hiện ra cái lôgốt, tức cái quy luật, trật
tự của vũ trụ. Cũng trên quan điểm cho
rằng con người có thể nhận thức được vũ
trụ, Đêmôcrít đã phát triển các phương
pháp nhận thức logic như quy nạp, so
sánh, giả thuyết, định nghĩa để giúp con
người nâng cao khả năng nhận thức lí
tính. Chỉ nhận thức cảm tính không thôi
mang tính không tưởng, nhà nước mà ở
đó có nhiều tính chất mang tính quân
phiệt. Chẳng hạn như: ông đòi xóa bỏ sở
hữu gia đình; trẻ em khi sinh ra phải đưa
vào các trường công để từ đó lựa chọn ra
các nhà triết học, thông thái, các vệ binh,
những con người phục thuộc vào nhà
nước, phải phục vụ nhà nước. Trong nhà
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 16
nước không tưởng này theo ông có ba
lớp người: Các nhà triết học, nhà thông
thái làm nhiệm vụ quản lý, điều hành xã
hội; Các chiến binh làm công tác bảo vệ
xã hội; Những người lao động chân tay
để đảm bảo đời sống vật chất cho xã hội.
Nô lệ không được coi là người nên
không thuộc lớp người nào.
Quan niệm
về Vũ trụ
Đêmôcrít cho rằng vũ trụ là vô tận,
vĩnh cửu, có vô số thế giới phát sinh, phát
triển và tiêu diệt.
Platon thì ngược lại ông cho rằng vũ
trụ này không tồn tại thực, tất cả chỉ là sự
phức hợp của ý niệm, do ý niệm quy
định, do thượng đế quyết định và không
tồn tại.
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 17
đáng tin cậy, nhưng nó lại là một quá trình
khó khăn, đòi hỏi phải có một năng lực tư
duy tìm tòi khám phá của con người khao
khát hiểu biết. Theo ông, nhận thức cảm
tính là tiền đề của nhận thức lý tính, muốn
nắm bắt bản chất thế giới không thể
không sử dụng nhận thức lý tính.
vao thể xác con người.
Quan niệm
về linh hồn
Đêmôcrít bác bỏ quan niệm về sự sản
sinh ra sự sống và con người của thần
thánh. Theo ông, sự sống là kết quả biến
đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên.
Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường
nước và dưới tác động của nhiệt độ. Sinh
vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần
xuất hiện sinh vật có vú sống trên cạn.
Cuối cùng là con người ra đời trên quả
đất. Ông đã phân biệt rõ ràng sự vật và
sinh vật chúng khác nhau ở chỗ sự vật
không có linh hồn, còn sinh vật có linh
hồn: linh hồn được cấu tạo bởi các nguyên
tử hình cầu, giống như nguyên tử của lửa
vận động với vận tốc cao. Nguyên tử linh
hồn sinh ra nhiệt, nhiệt làm cho cơ thể
hưng phấn và vận động. Ông coi cái chết
là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo
- Là nền tảng cho các trường phái triết học sau này.
- Khoa học Duy nghiệm và Duy lý manh nha hình thành.
- Trả lời phần nào câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không?
Hạn chế:
- Triết học cổ Hy Lạp còn nằm trên tư duy trừu tượng là chủ yếu.
- Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng, còn rời rạc chưa hệ thống hóa.
- Tuy có đặt vai trò của con người, nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi yếu tố thần
linh. Triết học Hy Lạp cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc, nối
những bến bờ triết học sau này. Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại
mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó. Triết lý Hy Lạp cổ đại là
những viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ ngôi nhà văn minh của Châu Âu
ngày nay. Ta có thể thấy cả bề mặt và bề trái của Châu Âu ngày nay qua nền
triết học Hy Lạp cổ đại. Điều đó làm cho nó sáng rực rỡ trên vũ đài triết học
nhân loại và trở nên bất hủ. Marx nói: “Dại dột cho ai không thấy giá trị Hy
Lạp cổ đại”.
linh hồn chứ không phải là linh hồn lìa
khỏi thể xác. Tuy quan niệm của
Đêmôcrít về linh hồn còn mang tính mộc
mạc, song nó giữ vai trò rất quan trọng
trong việc chống lại quan điểm duy tâm,
tôn giáo về tính bất tử của linh hồn.
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GVHD: TS. Bù i Vă n Mưa
Học Viên: Trần Quốc Việt Trang 19
7/ TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa (2010), Giáo trình Triết học tập 1, 2, 3 Trường Đại học kinh
tế TP.HCM.
2. TS. Nguyễn Ngọc Thu (2003), Đại cương lịch sử triết học, NXB tổng hợp
TP.HCM