TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tên đề tài tiểu luận Triết học:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC DUY VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM
Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI
Học viên thực hiện: Phạm Hoàng Hà
STT: 14 Nhóm: 2
Lớp: Ngày 4 Khóa: 22
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
TP.HCM, tháng 12/ 2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I. ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI 5
1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển 5
2. Những đặc điểm cơ bản 6
II. CÁC TƯ TƯỞNG, TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 7
1. Chủ nghỉa duy vật 7
1.1. Trường phái Mile 7
1.2. Trường phái Heraclit 7
1.3. Trường phái đa nguyên Empedoc – Anaxago 8
1.4. Trường phái nguyên tử luận Loxip – Democrit 8
2. Chủ nghĩa duy tâm 10
2.1. Trường phái Pytago 10
2.2. Trường phái Êle 10
2.3. Trường phái duy tâm khách quan của Xocrat – Platong 10
3. Triết học nhị nguyên của Arixtot 11
III. SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT
CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI 13
1. Sự tương đồng 13
thuận lợi mà Hy Lạp sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền
công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú và đa dạng.
Hy Lạp đã có một chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển cao. Sự phân hoá giai
cấp trong xã hội hết sức rõ rệt thành hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ. Mâu
thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt đã làm cho đấu tranh giai cấp ngày
càng mạnh mẽ. Sự phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ đã mở rộng sự phân
công xã hội, tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay, tạo điều kiện cho tầng
lớp trí thức chủ nô nghiên cứu triết học, khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật.
Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói trên là
những điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học cổ Hy Lạp.
Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ, xuyên suốt là cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu
tranh giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn.
- Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ VI TCN): chế độ chiếm hữu nô lệ mới hình thành.
Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo, thần thoại
dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người, vũ trụ. Triết học với
tư cách là khoa học của khoa học ra đời. Các trường phái triết học nổi bật trong
thời kì này là trường phái Mile, Hecralit, Pytago…
- Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V TCN): chế độ chiếm hữu nô lệ phát
triển đến hình thức cao, là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ đại Hy Lạp. Đối
tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các vấn đề về kết cấu của vật
chất, nhận thức luận và đời sống chính trị. Theo khuynh hướng duy vật có các
nhà triết học như Ămpeđôclơ, Anaxago… và tiêu biểu là Đêmôcrít, học thuyết về
nguyên tử của ông đã đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này. Đối
lập lại chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn, đại biểu
lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Dao động giữa đường lối duy
vật và đường lối duy tâm là Arixtốt, ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách
khoa thời cổ đại Hy Lạp, nhưng là một nhà triết học không triệt để.
- Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy
vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hoá
sơ nhưng đã chứa đựng những yếu tố biện chứng chất phác.
1.2. Trường phái Heraclit
Hêraclit đã đứng trên lập trường duy vật cổ đại để giải quyết vấn đề “cơ sở
đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể. Ông cho rằng lửa chính là bản
nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến của tất cả mọi sự vật, hiện
tượng tự nhiên. Tuy chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm
nhưng phép biện chứng của Hêraclit đã đề cập tới hầu hết những luận điểm cốt
lõi của phép biện chứng dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý.
Theo Hêraclit không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà
tất cả đều ở trong trạng thái biến đổi. Ông đã nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ
biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật hiện tượng và đã có phỏng đoán về sự
phân đôi của một cái thống nhất thành những mặt đối lập, bài trừ nhau nhưng gắn
liền với nhau về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập ấy. Hêraclit
cho rằng sự vận động, phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách
quan (logos) quy định.
Lý luận nhận thức của ông mang tính chất duy vật và biện chứng sơ khai
nhưng về bản chất là đúng đắn. Hêraclit cho rằng nhận thức bắt đầu từ cảm giác,
không có cảm giác thì không có bất cứ nhận thức nào. Ngoài ra ông còn nêu lên
tính chất tương đối của nhận thức, tuỳ điều kiện cụ thể mà thiện - ác, tốt - xấu, lợi
- hại chuyển hoá cho nhau. Ông cho rằng, linh hồn là vật chất, là một trạng thái
quá độ của lửa. Quan niệm này sai lầm nhưng giá trị triết học của nó nằm ở chỗ:
Ông tìm bản chất của tinh thần không phải là ở ngoài vật chất mà là ở chính thế
giới vật chất, giá trị ấy có tính chất định hướng cho sự tìm tòi bản chất đích thực
của đời sống tinh thần.
1.3. Trường phái đa nguyên Empedoc – Anaxago
Empedoc thừa nhận sự tồn tại của bốn khởi nguyên độc lập, bất biến là: đất,
nước, không khí, lửa, chúng chịu tác dộng của hai loại lực là tình yêu và hận thù.
Dưới sự tác dụng lực tình yêu bốn khởi nguyên kết hợp lại tạo nên vạn vật nhưng
dưới tác dụng của hận thù chúng bị chia tách ra làm vạn vật mất đi.
Anaxago cho rằng vạn vật được sinh ra từ những cái tương tự như chúng gọi
như âm thanh, mùi vị, mầu sắc chỉ là những quy ước chủ quan của con người. Từ
chỗ coi trọng vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã có một công lao to lớn
nữa đối với triết học, đó là lôgíc học, ông đã nêu ra nhiều vấn đề về lôgíc học
như định nghĩa khái niệm, phương pháp so sánh, quy nạp, giả thiết.v.v, trong đó
phương pháp quy nạp có vị trí nổi bật
- Quan niệm về đạo đức: theo Democrit, đạo đức học giúp làm rõ số phận,
cuộc sống, hướng dẫn hành vi, thái độ của từng con người. Sự hiểu biết là cơ sở
của hành vi đạo đức.
- Quan điểm chính trị - xã hội: Đêmôcrit đứng trên lập trường của chủ nô
dân chủ, bảo vệ nền dân chủ Aten chống lại chế độ chuyên chính. Nhưng do xuất
thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cập đến dân chủ của chủ nô và công dân
tự do; còn nô lệ phải biết tuân theo người chủ. Ông coi nhà nước là trụ cột của xã
hội, cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực
đạo đức.
Triết học Đêmôcrít là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ cao các quan
điểm duy vật (của trường phái Milê) và tư tưởng biện chứng (của Hêraclít) trước
đó, đưa triết học của ông trở thành đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại.
2. Chủ nghĩa duy tâm
2.1. Trường phái Pytago
Pytago cho rằng con số là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật,
mỗi sự vật tương ứng với một con số nhất định, trật tự của các con số quy dịnh
bởi trật tự của vạn vật.
Pytago coi linh hồn bất tử tồn tại dộc lập với thể xác và chịu sự chi phối bở
luật luân hồi. Giải thoát linh hồn ra khỏi sự rang buôc của thể xác là mục đích
của cuộc sống.
2.2. Trường phái Êle
Trường phái này do Xenophan thành lập theo tinh thần duy vật nhưng sau đó
được Pacmenic phát triển theo tinh thần duy lý, ngả về khuynh hướng duy tâm.
Xenophan cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra và cuối cùng cũng trở về với đất.
Pacmenit cho rằng, tồn tại là tính chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn vật
chủ đạo, thích hợp với việc lãnh đạo nhà nước; thứ hai, là những người lính, võ sĩ
mà linh hồn của họ tràn đầy gan dạ, biết phục tùng lý trí và nghĩa vụ, thích hợp
với việc bảo vệ an ninh của nhà nước cộng hoà; thứ ba, là đại chúng, gồm những
người nông dân, thợ thủ công và thương nhân, linh hồn của họ không đi xa hơn
những khát vọng cảm tính thích nghi với lao động chân tay, làm ra của cải vật
chất phục vụ cuộc sống của nước cộng hoà. Công lý là ở chỗ mọi người phải
sống đúng vị trí của mình.
3. Triết học nhị nguyên của Arixtot
Arixtốt là học trò xuất sắc của Platôn, nhưng chính ông lại nhận ra sai lầm
của thầy học mình về học thuyết ý niệm. Sai lầm của Platôn là ở chỗ, ông đã tách
rời bản chất khỏi cái có bản chất đó, và biến ngay cái chung (khái niệm) thành
cái riêng bên cạnh thế giới cảm tính, quyết định thế giới cảm tính. Cống hiến nổi
bật của Arixtốt là ông đã phê phán một cách cặn kẽ học thuyết về ý niệm của
Platôn, đã đặt nền móng cho khoa học lôgíc thời cổ đại. Nhưng vì dao động giữa
hai đường lối duy vật và duy tâm, nên triết học của ông mang tính chất chiết
trung, không triệt để.
Trên cơ sở phê phán học thuyết ý niệm của Platôn, Arixtốt đã xây dựng hệ
thống triết học riêng của mình với những nội dung chính như sau :
- Thuyết nguyên nhân – cơ sở của siêu hình học: Khi giải thích về bản chất
của tồn tại, của sự vật, ông thường đặt các câu hỏi (vì sao, vì cái gì) để giải thích
nguyên nhân tồn tại của chúng. Từ đó ông đưa ra bốn nguyên nhân của tồn tại
nói chung: vật chất, hình dạng, vận động, mục đích, nguyên nhân thứ nhất và thứ
hai là cơ bản, nguyên nhân hình dạng là quyết định, là bản chất của sự vật. Hình
thức của mọi hình thức là tư duy, là lý tính, sự suy nghĩ, là thượng đế. Quan niệm
trên đây của Arixtốt cho thấy ông đã dao động, do dự giữa chủ nghĩa duy vật và
duy tâm, hoà nhập vào thần học, trở lại gần gũi với Platôn, thầy học của ông.
- Thuyết vận động – cơ sở của vật lý học: giới tự nhiên là toàn bộ các sự
vật, quá trình luôn vận động có lien hệ với nhau và được cấu thành từ một bản
thể vật chất. Vận động không thể bị tiêu diệt và cũng không thể tách rời khỏi sự
vật, quá trình tự nhiên. Nguồn gốc của mọi vận động là cái hích đầu tiên của
cao. Arixtot cho rằng trật tự xã hội bấy giờ là một trật tự xấu nhưng là một trật tự
xấu cần thiết vì vậy cần phải bảo vệ nó.
Triết học của Arixtôt tuy còn những hạn chế, dao động giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông vẫn xứng đáng là bộ óc vĩ đại nhất trong
các bộ óc vĩ đại của nền triết học Hy Lạp cổ đại.
III. SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY
VẬT CHẤT PHÁC VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ
ĐẠI
Sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học duy tâm và duy vật là
nét nổi bật trong quá trình hình thành và phát triển của triết học ở Hy Lạp thời cổ
đại. Trong đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học đường lối
duy vật của Đemôcrít và đường lối duy tâm của Platon.
1. Sự tương đồng
Các trường phái triết học nói chung đều có xu hướng đi sâu giải quyết các vấn
đề về bản thể nhận thức luận triết học là những vấn đề của mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức.
Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào lúc xã hội này đã phát triển lên chế độ
chiếm hữu nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ nên nó là hệ tư tưởng,
là thế giới quan của giai cấp chủ nô thống trị, đồng thời nó còn là công cụ bảo vệ,
duy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp chủ nô, là công cụ nô dịch, đàn áp các giai
cấp khác về mặt tư tưởng. Bên cạnh tính giai cấp rõ rệt đó, triết học Hy Lạp cổ
đại coi trọng, đề cao vai trò của con người, coi con người là tinh hoa của tạo hoá.
Do là một trong những nền triết học mở đường trong lịch sử triết học nhân loại
hơn nữa các quan niệm triết học được rút ra trên cơ sở suy luận, suy đoán từ sự
quan sát trực tiếp các sự kiện xảy ra trong tự nhiên, trong xã hội nên triết học Hy
Lạp cổ đại mang nặng tính sơ khai, chất phác, ngây thơ. Tuy nhiên, từ trong sự
khởi đầu đó, các nhà triết học sau này đã nhìn thấy ở triết học Hy Lạp cổ đại
mầm mống của tất cả các kiểu thế giới quan sau này và xem nó là một đỉnh cao
của triết học nhân loại.
2. Sự khác biệt
Ông coi cái chết là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo nên thể xác và các
nguyên tử cấu tạo nên linh hồn chứ không phải là linh hồn lìa khỏi thể xác.
Còn Platon cho rằng con người bao gồm linh hồn và thể xác tồn tại độc lập
với nhau. Khi con người chết linh hồn sẽ thoát ra khỏi con người và bay lên trú
ngụ ở một vì sao. Khi thể xác mới ra đời, linh hồn bay xuống nhập vào thể xác
đó và tạo ra con người hoàn chỉnh bao gồm cả linh hồn và thể xác. Trong khi bay
xuống nhập vào thể xác con người linh hồn đã lãng quên những điều quan sát
được ở thế giới những ý niệm. Vì thế, nhận thức của con người thực chất là sự
hồi tưởng, sự nhớ lại của linh hồn về những điều mà nó đã lãng quên.
2.4. Về vấn đề nhận thức
Theo Đemocrít sở dĩ con người có những cảm giác khác nhau về màu sắc mùi
vị, âm thanh nóng lạnh là do những nguyên tử phối hợp tạo nên chủ thể nhận
thức. Điều đó có nghĩa là đối tượng của nhận thức là vật chất thế giới xung quanh
con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con
người mới nhận thức được. Ông chia ra nhận thức thành nhận thức mờ tối và
nhận thức chân lý. Nhận thức mờ tối là nhận thức do các giác quan đem lại, nhận
thức chân lý là nhận thức do sự phân tích sâu sắc sự vật để nắm chắc bẳn chất
bên trong của nó, hai dạng nhận thức đó có liên quan với nhau chặt chẽ, trong đó
cảm giác là bước đầu của nhận thức. Ông quan niệm bề ngoài của sự vật toát ra
những hơi thở tinh tế tạo thành hình ảnh của chúng, những hơi thở tinh tế đó tác
động vào cơ quan cảm giác của con người làm cho người cảm nhận được sự vật.
Song cảm giác là nhận thức “mờ tối” vì nó chưa cho con người hiểu được bản
chất nằm sâu trong sự vật. Do đó con người phải dựa vào nhận thức sâu sắc hơn.
Còn Platon cho rằng chỉ có nhận thức lý tính đưa vào khái niệm mới có thể
đạt tới tri thứcchân thực, nhân thức cảm tính không bao giờ đạt tới tri thức chân
thực mà chỉ đưa lại dư luận. Platon đã đề cao vai trò của nhận thức lý tính và hạ
thấp vai trò của nhận thức cảm tính. Ông cho rằng nhận thức chẳng qua là sự hồi
tưởng, nhớ lại những ý niệm.
2.5. Về quan điểm chính trị- xã hội
Đemocrít đứng trong lập trường của phái chủ nô dân chủ, kịch liệt chống lại
trước ý thức và quyết định ý thức, còn ý thức có sau là sự phản ánh những mặt,
những yếu tố của vật chất; và Chủ Nghĩa Duy Vật khẳng định con người có khả
năng nhận thức thế giới. Ngược lại Chủ Nghĩa Duy Tâm khẳng định tính thứ
nhất có trước của ý thức và tính thứ hai có sau của vật chất, họ cho rằng ý thức
có trước vật chất và ý thức quyết định vật chất họ phủ nhận khả năng nhận thức
thế giới của con người, họ cho rằng sự nhận thức chỉ có được ở thế giới thần linh
thượng đế do thượng đế quyết định.
Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học duy vật và duy tâm tồn tại ngay
từ những buổi sơ khai ban đầu của triết học, ta có thể thầy rõ điều đó khi nghiên
cứu triết học ở Hy Lạp thời kì cổ đại. Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là
đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học mà theo đó các học thuyết triết
học khác sau này sẽ từng bước giải quyết theo nội dung của thời đại mình, nó
bao chứa mầm mống của tất cả thế giới quan về sau này. Chúng ta thấy ngay từ
khi ra đời, triết học Hy Lạp cổ đại, tuy nhận thức của con người còn nhiều hạn
chế, đă xảy ra cuộc đấu tranh gay gắt không thể điều hoà được về mọi mặt trong
xã hội giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm giữa phép biện chứng và
phép siêu hình được thể hiện rất rõ mà đại diện tiêu biểu nhất là Đemocrít của
chủ nghĩa duy vật và Platon của chủ nghĩa duy tâm.
(1), (2) Triết học phần I: Đại cương về lịch sử triết học, TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên)
4
1 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mac-Lenin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội,
2. TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên) (2010), Triết học phần I: Đại cương về lịch sử
triết học, LHNB Trường ĐH Kinh Tế, TP.HCM
3. />hy-lap.html
4. />song-xa-hoi.619836.html
4