MC LC
Trang
13. Kết luận 16
14. Tài liệu tham khảo 17
Trang 1
SỬ DNG SƠ ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 12
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM
Phần I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
I-Lý do chọn đề tài.
Dạy học Lịch sử trong các trường phổ thông hiện nay đã trở thành vấn đề
đáng quan tâm của xã hội, khiến nhiều lo lắng và trăn trở. Đã đến lúc không thể
thờ ơ đối với những người làm công tác giáo dục. Là một giáo viên dạy lịch sử 15
năm nay và thường xuyên được giao trách nhiệm dạy các lớp theo học khối C
( Ban KHXH), tôi cũng băn khoăn và trăn trở về vấn đề này. Tại sao chất lượng bộ
môn lịch sử trong mấy năm trở lại đây lại thấp như vậy. Đó thực sự là những vấn
đề đáng báo động.
Để dạy và học tốt môn Lịch sử không hề đơn giản. Đó là nhận xét của nhiều
học sinh và giáo viên. Kiến thức nhiều, thời lượng ít, nó tác động từ nhiều phía:
Sách giáo khoa, giáo viên, học sinh, gia đình và xã hội. Nhiều học sinh của chúng
ta hiện nay chán ghét học môn lịch sử.
Đã có rất nhiều hội thảo, nhiều diến đàn, nhiều bài viết, nhiều ý kiến đưa ra
về vệc đổi mới phương pháp dạy học nói chung mô lịch sử nói riêng. Chương trình
giáo dục phổ thông bàn hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QQĐ-BGDĐT ngày
5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu: “phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp
với đặc điểm môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học.
Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện, kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
và trách nhiệm học tập cho học sinh" .
thường sa vào phân tích chính trị, nặng về giáo điều lý luận.
IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu một nội dung mới, người giáo viên chỉ đóng vai trò
hướng dẫn và kết luận. Sơ đồ để dạy học cũng có thể xem là những phiếu học tập.
Khi tiến hành dạy bài mới giáo viên phát cho học sinh những sơ đồ “câm”, giáo
viên giảng bài và hướng dẫn học sinh trả lời các thông tin trên sơ đồ. Giáo viên có
thể vẽ sơ đô bài học lên bảng và gọi đại diện các nhóm hoặc các tiểu nhóm lên
trình bày. Sau đó giáo viên nhận xét và kết luận.
V. Điểm khó của đề tài.
Ngoài việc soạn giáo án, giáo viên phải thiết kế sơ đồ để vận dụng. Vì vây, đòi
hỏi giáo viên phải đầu tư một khối lượng thời gian tương đối lớn.
Muốn thiết kế sơ đồ yêu cầu người giáo viên phải cơ bản biết sử dụng máy vi
tính. Phải có sự kiên trì. Phải bỏ ra một số kinh phí nhất định để in và photo sơ đồ
cho các nhóm học sinh.
Trang 3
Phần II
NỘI DUNG
I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1) Cơ sở lý luận của vấn đề:
Lịch sử là một dòng chảy không bao giờ ngưng nghỉ. Học quá khứ để nhận
thức hiện tại và phán đoán tương lai, đó là đặc thù của môn lịch sử. Muốn học tốt
lịch sử phải tường minh ba vấn đề: Thời gian, không gian và con người. Đặc trưng
nối bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì
thuộc về quá khứ. Lịch sử không phải là một bộ môn chính trị, nhưng lịch sử gần
với chính trị.
Hướng dẫn học sinh tự học, tự tiếp cận vấn đề là một trong những đặc trưng
của phương pháp dạy học tích cực. Mỗi một tiết dạy, giáo viên có một phương
pháp riêng, tìm ra những con đường để học sinh tiếp nhận nội dung bài học một
cách thoải mái, tự giác, tích cực. Trong chương trình lịch sử lớp 12 rất nhiều bài
học giáo viên có thể vận dụng sơ đồ để dạy học theo phương pháp nhóm.
sinh có nhu cầu theo học các môn khoa học xã hội tại các trường THPT là rất ít.
Thậm chí có nhiều trường không duy trì được lớp khối C.
Hai là, học sinh theo học các ngành xã hội tại các trường Đại học, Cao đẳng
sau khi ra trường mặc dù có bằng tốt nghiệp khá và giỏi nhưng vẫn không xin được
việc làm, nhất là ngành lịch sử. Thực tế là những ngành khoa học xã hội đa số
thuộc biên chế của nhà nước, cho nên nhu cầu sử dụng lao động rất ít. Nếu có việc
làm thì lương cũng rất thấp. Đúng là “ cơm áo gạo tiền ghì sát đất”.Vì vậy, đa số
phụ huynh và học sinh quay lưng với môn học này.
Ba là, môn Lịch sử trong các trường THPT, THCS vẫn được xem là môn phụ,
thường bị lãnh đạo coi nhẹ, đồng nghiệp và kể cả xã hội nhìn nhận bằng ánh mắt
thiếu thiện cảm (vì những giáo viên dạy Toán, Lí có giá hơn!). Còn học sinh và
phụ huynh thì có suy nghĩ đơn giản rằng học Lịch sử chẳng sẽ có ích gì, vì nó
không phục vụ cho việc thi cử và kiếm tiền sau này. Chỉ khi nào Bộ GD&ĐT công
bố các môn thi tốt nghiệp ngoài các môn bắt buộc thì học sinh mới có ý thức học
tập, nhưng cũng chỉ đối phó. Trong các kỳ thi tốt nghiệp mấy năm lại đây, môn
Lịch sử ít được lựa chọn là một trong sáu môn thi. Ngược lại, môn Địa lý trở thành
môn thi liên tục. Ví dụ như năm học này ( 2012-2013), dư luận cho rằng môn Lịch
sử sẽ là một trong những môn thi tốt nghiệp, nhưng thực tế lại không như vậy.
Trao đổi với PV Dân trí, thầy Trần Trung Hiếu - giáo viên Lịch Sử, Trường THPT
chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An), người có kinh nghiệm 20 năm dạy Sử và cũng
ngần ấy thời gian trực tiếp bồi dưỡng học sinh thi tốt nghiệp, thi đại học môn Lịch
Sử - cho biết thầy thật sự rất buồn trước thực trạng dạy học, thi cử môn Lịch Sử
trong những năm gần đây. Thầy Hiếu cho rằng ngành giáo dục phải chịu trách
nhiệm chính về cái kiểu thi gì, học nấy, không học không thi dẫn đến tình
trạng đáng buồn là học trò xé đề cương môn không phải thi tốt nghiệp THPT.
"Tôi xin khẳng định lại một lần nữa: Môn Sử vẫn là môn học bị xem thường nhất
trong hệ thống giáo dục phổ thông hiện nay", thầy Hiếu chia sẻ.
Bốn là, còn nhiều vấn đề về chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên
Cuối cùng, gọi đại diện các nhóm trả lời và nhận xét. Có thể, giáo viên vẽ sơ đồ
lên bảng, rồi gọi hai hoặc ba học sinh lên điền các thông tin. Giáo viên bổ sung và
nhận xét.
2. Sử dụng sơ đồ (trang 9) để dạy Mục II: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
(Bài 13, trang 86, 87,88).
Giáo viên cũng thực hiện theo tuần tự như ở phần 1.1. Nhấn mạnh: Dưới tác động
của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, phong trào dân tộc dân chủ ngày càng
phát triển mạnh mẽ. Thực tế này đòi hỏi, VNCMTN phải “lột xác”, tức là phải
thành lập một đảng vô sản để lãnh đạo quần chúng. Nhưng, chỉ có một số hội viên
của VNCMTN nhận thức được yêu cầu này. Từ đó làm cho VCMTN bị phân liệt.
Ảnh hưởng ngày càng lớn của VNCMTN làm cho đảng Tân Việt bị phân hóa.
Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ để thể hiện nội dung của mục 1 và 2.
Từ đó học sinh sẽ dễ nắm kiến thức về quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt
Trang 6
Nam, cúng như nội dung và ý nghĩa của Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.
3. Sử dụng sơ đồ ( trang 10) để dạy Mục: Hội nghị BCHTW Đảng CS
Đông Dương tháng 11 năm 1939. ( Bài 16, mục II, trang 104)
Giáo viên hướng dẫn học sinh thể hiện những kiến thức cơ bản trên khung sơ đồ.
Giáo viên đặt câu hỏi: Điểm khác cơ bản của Hội nghị này với Hội nghị BCHTW
Đảng tháng 7 năm 1936?.
GV giải thích: Hội nghị tháng 7/1936, đề ra mục tiêu đấu tranh trước mắt là đòi tự
do, dân chủ, cơm áo và hòa bình ( tạm gác độc lập dân tộc). Con đến Hội nghị này,
mục tiêu đấu tranh là đòi độc lập dân tộc ( tạm gác nhiệm vụ dân chủ)
4. Sử dụng sơ đồ ( trang 11) để dạy Mục 3: Hội nghị BCHTW Đảng CS
Đông Dương tháng 5 năm 1941. ( Bài 16, mục II, trang 108, 109)
Qua Hội nghị này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được tầm quan trọng của
Hội nghị: Đây là Hội nghị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì, những tư tưởng
của Người đã bắt đầu được thể hiện. Đó là: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc và vấn đề
dân tộc. Hội nghị khẳng đinh: “ Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề
chủ
Địa chủ
vừa và nhỏ
(1)
(2)
.
(3)
(4)
Mại bản
Dân tộc
(5)
(6)
.
(7)
.
SỰ XUẤT HIỆN 3 TỔ CHỨC CỘNG SẢN NĂM 1929 VÀ ĐẢNG CS VIỆT NAM RA ĐỜI
Một bộ phận gia nhập
Phân liệt
3/2/1930
3/2/1930 24/2/1930
Ý nghĩa của Cương lĩnh:
Trang 9
Hội VNCMTN
(6/ 1925)
TÂN VIỆT CM ĐẢNG
(1925)
An Nam CS đảng
(8/1929)
Đông Dương CS liên
đấu tranh
Hình thức mặt
trận
.
.
.
Ý nghĩa của Hội nghị:
Trang 11
Chủ trì: Nguyễn Ái
Quốc
HỘI NGHỊ BCHTW ĐẢNG CS
ĐÔNG DƯƠNG LẦN VIII (5/1941)
Địa điểm: Pác Bó – Cao
Bằng
Nội dung
Nhiệm vụ Khẩu hiệu đấu
tranh
Hình thức mặt
trận
Hình thái của cuộc
khởi nghĩa
.
NƯỚC VIỆT NAM DCCH
Nhà nước VNDCCH non trẻ bị đặt trong tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc”.
Trang 12
Thuận lợi
Khó khăn
Quân sự
HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6.3.1946
Hoàn cảnh lịch sử
dẫn đến việc ký Hiệp
định sơ bộ
Hiệp ước Hoa – Pháp
(28/2/1946)
Việt Nam đứng trước 2 sự lựa chọn
(GV phân tích tình huống)
Đánh
Hòa
Nội dung
(1)
.
(2)
(3)
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Mục đích của đề tài là phát huy tinh thần tự chủ của học sinh khi học lịch sử.
Đề tài nhằm khắc phục tình trạng “ thầy giảng, trò nghe”, “thầy đọc, trò chép”. Kiến
thức đã có trong sách giáo khoa. Điều quan trọng đề tài khai thác một khía cạnh
mới, một con đường để đưa các em tiếp cận một cách có hiệu quả, khắc phục tình
trạng chán học, ngại học lịch sử như hiện nay.
Từ cách làm trên tôi thấy rằng mình đã thành công bước đầu, phần nào đã khắc
phục được sự uể oải, nhàm chán trong giờ học Lịch sử đối với học sinh và ngay cả
bản thân giáo viên.
1. Đối với bản thân:
Khi vận dụng sơ đồ trong một số giờ dạy, bản thân cảm thấy giờ dạy trôi đi rất
thoải mái, rất nhẹ nhàng và thực hiện giờ dạy bảo đảm sư tương tác.
2. Đối với học sinh
Về mặt giáo dưỡng
Phát huy được tính tự chủ trong cách tiệp nhận và khai thác bài học. Tạo sự lôi
giúp giáo viên chủ động trong giờ dạy và giúp học sinh chủ động trọng giờ học.
Đề tài này có ý nghĩa góp phần tìm cách đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Để phát triển tư duy độc lập sáng
tạo cho học sinh.
Thông qua các sơ đồ kết hợp các câu hỏi tình huống có vấn đề, bản thân đã
phát hiện được nhiều học sinh có năng lực tư duy thực sự về môn Lịch sử.
Truyền thụ kiến thức một chiều sẽ làm cho bài học thụ động và khô khan. Đề
tài này đã góp phần khắc phục được hiện tượng trên. Nó thực sự đưa lại làm cho học
sinh trí tò mò và ý thức tự chủ khám phá kiến thức trong sách giáo khoa. Trong quá
trình vận dụng đề tài vào giảng dạy, bản thân đã thu được những kết quả khả quan
và được đông đảo học sinh tín nhiệm.
2. Khả năng ứng dụng của đề tài :
Việc áp dụng đề tài vào thực tiễn rất dễ dàng. Bản thân tôi đã áp dụng rất thành
công ở trường THPT Đặng Thúc Hứa. Khả năng ứng dụng , phổ biến, nhân rộng đề
tài giữa các giáo viên giảng dạy lịch sử rất nhanh chóng.
Đề tài có thể áp dụng vào tất cả các bài học lịch sử ở trường phổ thông, kể cả
các bài khai thác lược đồ. ngoài ra có thể thực hiện ở các tiết ôn tập, dạy và học
thêm. Đề tài không chỉ vận dụng trong chương trình lớp 12 mà còn cả lịch sử lớp
11, lớp 10.
3. Bài học kinh nghiệm
Sau khi áp dụng đề tài vào thực tiễn tôi nhận thấy yếu tố đưa lại thành công là
giáo viên phải thực sự tâm huyết với bộ môn. Sự nhiệt huyết của giáo viên sẽ làm
chuyển biến nhận thực của học sinh về bộ môn lịch sử. Nhất là trong thực trạng hiện
nay đối với môn lịch sử ở các trường THPT.
Giáo viên phải biết sử dụng và khai thác công nghệ thông tin phục vụ cho bài
giảng. Bởi vì đề tài cũng có thể vận dụng khi dạy các chiến dịch quân sự có lược đồ.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm dạy học lịch sử tại
trường THPT Đặng Thúc Hứa. Đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế
thiếu sót, tôi mong đợi được Hội đồng khoa học , các đồng nghiệp đánh giá và góp ý
để đề tài này có tác dụng thiết thực, góp phần lấy lại vị thế của môn Lịch sử trong