Tiểu luận môn Kinh tế vi mô Lớp : CH K9 VungTau
LỜI MỞ ĐẦU
Sự ra đời của kim loại thép đã góp phần lớn vào quá trình phát triển của loài
người. Kể từ khi công nghệ luyện thép đạt đến tầm cao mới là lúc kết cấu của thép trở
nên vững chắc hơn, thép đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các công trình xây dựng
cầu đường, nhà cửa và dần thay thế các nguyên liệu xây dựng khác như đá và gỗ bởi
đặc tính vững chắc và dễ tạo hình của thép. Hơn nữa, thép cũng là nguyên vật liệu
chính cho các ngành công nghiệp khác như đóng tàu, phương tiện vận chuyển, xây
dựng nhà máy và sản xuất máy móc thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất tạo ra sản
phẩm phục vụ đời sống con người.
Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia đã dành
nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép. Với mục tiêu đưa đất nước trở thành
nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã coi ngành sản xuất thép là ngành
công nghiệp trụ cột của nền kinh tế, phát triển ngành thép để đáp ứng tối đa nhu cầu về
các sản phẩm thép của các ngành công nghiệp khác, của ngành xây dựng và tăng
cường xuất khẩu.
Vai trò của thép ảnh hưởng quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó Nhà nước đã thực hiện các chính sách, biện pháp cần thiết tác động vào cung
cầu để bình ổn giá thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh thép, của người tiêu dùng, góp phần khuyến khích đầu tư,
phát triển kinh - tế xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận kinh tế vi mô, tiểu luận “Đánh giá tác động của
Chính sách bình ổn giá đối với thị trường thép xây dựng tại Việt Nam” sẽ làm rõ
các tác động của chính sách bình ổn giá tới cung, cầu, giá cả và hiệu quả thị trường
qua đó đề xuất các giải pháp thực hiện bình ổn giá thép xây dựng.
Cấu trúc của tiểu luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung tiểu luận gồm 3 chương, 14 tiết.
Mặc dù đã nhiều cố gắng nhưng chắc chắn tiểu luận không tránh khỏi thiếu sót,
tôi rất mong nhận được góp ý bổ sung và hoàn thiện từ các học viên và thầy cô. Trong
quá trình nghiên cứu Kinh tế vi mô, tôi đã nhận được nhiều kiến thức quý báu giảng
dạy từ giảng viên TS Hạ Thị Thiều Giao, tôi xin chân thành cảm ơn Cô và Trường ĐH
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT GIÁ CẢ
1.1. Quan hệ cung – cầu và giá cả hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị
trường. Cung – cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn tác động nhau quyết
định giá cả thị trường.
Khi cung tương ứng với cầu, thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị hàng
hoá. Khi cung lớn hơn cầu, thì giá cả thị trường xuống thấp hơn giá trị hàng hoá. Còn
khi cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả thị trường lên cao hơn giá trị hàng hóa.
Như vậy, cung và cầu thay đổi, dẫn đến làm thay đổi giá cả thị trường của hàng
hoá. Đồng thời, giá cả thị trường cũng có sự tác động ngược trở lại tới cung và cầu.
Nhìn chung, trong cơ chế thị trường khi không có sự nhất trí giữa cung và cầu, thì giá
cả có tác động điều tiết đưa cung cầu trở về xu hướng cân bằng nhau.
Trạng thái cân bằng của hàng hóa
là tình huống mà cung và cầu cân bằng
với nhau, đó là giao điểm của đường
cung và đường cầu.
Tại trạng thái cân bằng, lượng
hàng mua người mua sẵn sàng và có khả
năng mua đúng bằng lượng hàng hóa mà
người bán sẵn sàng và có khả năng bán.
Hoạt động của nhiều người bán và
nhiều người mua tự động đẩy giá thị
trường tới mức cân bằng. Khi thị trường
đạt tới trạng thái cân bằng của mình, tất cả người bán và người mua đều thỏa mãn.
Sự cân bằng cung và cầu chỉ là tạm thời và sự không cân bằng cung và cầu là
thường xuyên. Vì cung và cầu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, mà các nhân tố này
luôn biến đổi, nên cung và cầu thường xuyên không cân bằng. Chính điều này đã hình
thành quá trình tác động lẫn nhau giữa cung, cầu, giá cả hàng hoá.
Khi tình hình thiếu hụt thép xảy ra do tác động của giá trần, thì một số hiện
tượng xảy ra như: xếp hàng chờ đợi; phân phối theo sự thiên vị cá nhân; thị trường
“chợ đen” xuất hiện. Như vậy, mặc dù giá trần được đưa ra nhằm mục đích giúp đỡ
người mua, nhưng không phải tất cả người mua đều được hưởng lợi từ chính sách này.
1.3. Tác động của giá sàn tới kết cục thị trường.
Giá sàn là mức giá tối thiểu được cơ quan quản lý nhà nước quy định nhằm bảo
vệ lợi ích của người sản xuất.
Giả sử, mức giá thị trường là 30
triệu đồng/tấn thép. Để bảo vệ lợi ích
của người sản xuất, Chính phủ đặt ra
giá sàn là 40 triệu đồng/tấn thép. Tại
mức giá này lượng cung về thép là 120
triệu tấn vượt quá lượng cầu là 80 triệu
tấn. Do xảy ra tình trạng dư thừa nên
một số người muốn bán thép với giá
hiện hành không bán được.
1.4. Chi phí sản xuất và giá cả.
Chi phí sản xuất thường là xuất
phát điểm để các nhà sản xuất dự kiến
mức giá bán sản phẩm và nó là mức tối thiểu của giá bán có thể chấp nhận được (bán
hoà vốn).
Giá bán dự kiến = Giá thành (chi phí sản xuất) + Lãi dự kiến
Tuy nhiên, khi xuất hiện độc quyền thì các tổ chức độc quyền có sức mạnh thị
trường thường đặt ra mức giá độc quyền cao, tức là giá bán hàng hóa cao hơn rất nhiều
so với chi phí sản xuất. Nhà nước cần có những chính sánh, biện pháp để hạn chế độc
quyền, kiểm soát chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa.
1.5. Tác động của thuế đến kết cục thị trường.
Giả sử, Nhà nước quy
định mức thuế đánh vào sản
phẩm thép là 5 triệu
Giá
không
thuế
Giá người
mua trả
Thuế làm đường cầu
dịch chuyển xuống
dưới một lượng đúng
bằng mức thuế
Thuế
D
1
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô Lớp : CH K9 VungTau
đồng. Giá người mua phải trả (bao gồm cả thuế) tăng từ 30 triệu đồng lên 33 triệu
đồng.
Như vậy, khi Chính phủ đánh thuế vào sản phẩm thì cả người mua và người bán
cùng chia sẽ gánh nặng thuế. Khi cung co giãn và cầu ít co giãn thì ảnh hưởng của
thuế là đánh vào người mua nhiều hơn. Khi cung ít co giãn và cầu co giãn thì ảnh
hưởng của thuế là đánh vào người bán nhiều hơn. Như vậy, gánh nặng của thuế có xu
hướng nghiêng về phía không co giãn của thị trường.
Chương 2
THỰC TRẠNG NGÀNH THÉP
VÀ CHÍNH SÁCH BÌNH ỔN GIÁ THÉP Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng ngành thép.
Quy mô sản xuất và tiêu thụ: Việt Nam là thị trường thép khá lớn trong khu vực
Asean với quy mô tiêu thụ 13 triệu tấn/năm trong năm 2010. Ngành thép có tốc độ
tăng trưởng nhanh, bình quân 10 năm qua trên 15%/năm và kỳ vọng duy trì tốc độ
10%/năm trong dài hạn. Doanh thu toàn ngành đạt khoảng 170.000 tỷ đồng, xấp xỉ
10% GDP của nền kinh tế. Nguồn cung sản xuất ước khoảng 7 triệu tấn trong đó 6
triệu tấn thép xây dựng, do đó một lượng cung đáng kể được nhập từ bên ngoài.
Vnsteel có khoảng 11 công ty con, 10 đơn vị trực thuộc và 29 công ty liên kết với
khoảng 10 liên doanh sản xuất thép. Tuy nhiên, sự bùng nổ của hoạt động tư nhân làm
giảm đáng kể thị phần Vnsteel và vai trò chi phối cũng giảm dần. Nếu tính cả các công
ty con, công ty liên kết và liên doanh thì thị phần của VNsteel xấp xỉ 50% cả nước.
2.2. Cầu về thép xây dựng.
2.2.1. Tổng cầu về thép trong ngắn hạn và dài hạn.
Trung bình tiêu thụ thép (tính bình quân đầu người) các nước chậm phát triển từ
0 – 50 kg/người/năm, các nước đang phát triển từ 50 – 250 kg/người/năm, các nước đã
phát triển trên 250 kg/người/năm. Tại mức 250 kg/người/năm, nhu cầu thép của Việt
Nam là 21,5 triệu tấn/năm.
Cơ cấu sản phẩm cũng sẽ có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ lệ thép dẹt
(dùng trong công nghiệp) và giảm tỷ trọng thép dài (dùng trong xây dựng). Trung bình
tỷ lệ thép dài chiếm 80 – 85% ở các nước chậm phát triển, từ 60 – 65% ở các nước
đang phát triển và 30 – 35% ở các nước đã phát triển. Như vậy mức độ phát triển của
nền kinh tế sẽ giảm dần tỷ lệ tiêu thụ thép xây dựng của Việt Nam (hiện tại là 55%).
Theo giá trị tuyệt đối, sản lượng thép xây dựng bảo hòa vào khoảng 15 triệu tấn/năm.
2.2.2. Xu hướng tăng trưởng lượng cầu về thép xây dựng.
- Chính sách hạ tầng và tốc độ phát triển ngành xây dựng: Đây là hai nguồn cầu
về thép xây dựng, tăng trưởng cao của các lĩnh vực này sẽ tạo nên tốc độ phát triển
tương đương của ngành thép. Trong năm 2010, tăng trưởng ngành xây dựng Việt Nam
là 10%. Theo dự báo của BMI, giá trị đầu tư hạ tầng cũng như giá trị xây dựng có thể
đạt tốc độ tăng trên 20% năm 2011. Giả sử tỷ lệ tương đương về giá trị thép trong giá
trị xây dựng và đầu tư hạ tầng khoảng 20%, nhu cầu tiêu thụ thép có khả năng phát
triển mạnh với mức tăng trên 20% trong 3 năm tới và vẫn duy trì trên 10%/năm trong
dài hạn.
- Tiềm năng tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu
thụ thép chung bao gồm cả thép xây dựng và thép công nghiệp. Theo đó, ngành thép
sẽ có tiềm năng tăng trưởng rất lớn trong dài hạn tương ứng với tiềm năng kinh tế của
Việt Nam. Theo dự phóng của Bộ Công thương, nhu cầu thép dẹt có thể tăng
10%/năm và thép dài khoảng 7%/năm trong dài hạn. Về ngắn hạn, tăng trưởng thép
cách doanh nghiệp thép nội địa do khác phân khúc, đặc biệt không cạnh tranh với phân
khúc lớn về thép xây dựng.
2.4. Quan hệ cung cầu về thép xây dựng.
So sánh chênh lệch giữa tổng công suất cung như trên với nguồn cầu hiện tại
(xấp xỉ 6 triệu tấn) tạo ra khoảng thừa cung đáng kể ở mảng thép xây dựng. Tuy nhiên,
xem xét công suất khả dụng, áp lực này có thể thấp hơn. Cụ thể, loại trừ công suất các
nhà máy cũ, lạc hậu khoảng 750.000 – 1.000.000 tấn, công suất có thể hoạt động
khoảng 7,2 triệu tấn, gồm nhà máy có công nghệ hiện đại (5,7 triệu tấn), nhà máy có
công nghệ trung bình (1,5 triệu tấn). Ngành thép sẽ tồn tại áp lực cung ngắn hạn. Tuy
nhiên, áp lực này sẽ gây tác động ở việc giảm tỷ lệ công suất hoạt động các công ty
hơn là cạnh tranh giá, do đòi hỏi vốn lưu động lớn nên các doanh nghiệp thường có xu
hướng sản xuất theo nhu cầu thị trường hơn là cạnh tranh giá cả. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp nhóm công nghệ hiện đại sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt hơn. Về dài hạn,
nguồn cung trên vẫn thấp hơn nhu cầu dài hạn là 15 triệu tấn.
2.5. Chính sách thuế.
Ngành thép là lĩnh vực mang tính toán cầu do sự chi phối chặt chẽ từ thị trường
thế giới đến thị trường trong nước, đặc biệt về giá cả. Trong đó, thương mại trong khu
vực ở thị trường thép khá lớn. Là công cụ được sử dụng thường xuyên trong việc điều
tiết cung cầu trong nước, chính sách thuế và các cam kết quốc tế là yếu tố quan trọng
tác động ngành và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn.
Ba cam kết lớn nhất ngành thép đang tham gia là CEPT/AFTA với khu vực ASEAN,
ACFTA với ASEAN + Trung Quốc, WTO với các nước trên thế giới. Trong đó lộ
trình giảm thuế trong các cam kết như sau:
Học viên: Lương Văn Sỹ 6
Biểu đồ 1: Cơ cấu sản xuất thép
năm 2010
Biểu đồ 1: Diễn biến giá thép trong nước
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô Lớp : CH K9 VungTau
Cam kết CEPT/AFTA ACFTA WTO
Khu vực ASEAN ASEAN + Trung Quốc Thế giới
doanh nghiệp trong ngành. Tuy
nhiên, nếu xét tình hình giá của
những mặt hàng khác như dầu
thô có thể thấy giá dầu cũng có
sự biến động khá tương đương.
Điều đó cho thấy tình trạng
kinh tế vĩ mô thiếu ổn định
trong thời gian qua tạo ra sự
biến động của giá cả hàng hóa
nói chung và giá thép không
phải là ngoại lệ.
Học viên: Lương Văn Sỹ 7
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô Lớp : CH K9 VungTau
Quặng sắt là một trong những nguyên liệu đầu tiên trong quy trình sản xuất thép
và hiện quy trình này cung cấp 70% sản lượng thép trên thế giới (30% được sản xuất
từ phế liệu). Các nước sản xuất quặng sắt chính bao gồm Trung Quốc, Úc, Ấn Độ và
Brazil. Trong đó chỉ có Úc, Brazil và Ấn Độ là nước xuất khẩu chính do Trung Quốc
chủ yếu khai thác quặng để phục vụ cho thị trường nội địa. Do nắm giữ nguồn cung
nên các nước xuất khẩu quặng có khả năng chi phối nhất định lên giá quặng sắt trên
thế giới, cụ thể những thay đổi vĩ mô tại các nước này như tỷ giá, lạm phát, lãi suất,
đều có thể gây biến động lên giá quặng thế giới và giá thép đầu ra. Trong năm tới, dự
báo tác động từ các thị trường này sẽ tiếp tục duy trì do kinh tế vĩ mô còn nhiều vấn
đề.
Sản xuất thép là ngành thâm dụng vốn rất lớn, bao gồm vốn vay để đầu tư tài sản
cố định và vốn vay ngắn hạn tài trợ vốn lưu động. Vì thế, lãi suất có tác động nhiều lên
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và gián tiếp ảnh hưởng đến giá thép. Cụ thể
trong trường hợp lãi suất tăng và cầu giảm, doanh nghiệp nắm giữ hàng tồn kho nhiều
sẽ chịu áp lực tài chính lớn từ chi phí lãi vay cao hơn và cũng như dòng tiền hoàn trả
nợ vay. Do đó, các công ty sẽ tìm cách đẩy hàng nhanh để thu hồi vốn làm cung tăng
đột ngột và gây áp lực giảm lên giá bán. Đây cũng là yếu tố làm cho giá thép dễ biến
lý, định hướng của Nhà nước, do đó nó chịu sự tác động của những quy luật vốn có
của kinh tế thị trường như: qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật cung – cầu ,
giá cả do thị trường quyết định, thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối
các nguồn lực kinh tế vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Phướng hướng quản lý và điều hành về giá, chúng ta cần thực hiện tự do hóa thị
trường và giá cả. Đây là quan điểm mang tính tiền đề. Bởi vì, có thực hiện phát triển
sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường thì nền sản xuất hàng hoá mới phát triển thực
sự theo đúng nghĩa của nó, đảm bảo sự hoạt động khách quan của các qui luật vốn có
của nó. Không tự do hoá thị trường thì không làm bộc lộ đầy đủ những mâu thuẫn vốn
có, những hạn chế nội tại của kinh tế thị trường mà chính sách và cơ chế quản lý giá
của Nhà nước lại phải hướng vào giải quyết những vấn đề đó.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: “Tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật về kinh tế thị trường, tạo lập đồng bộ và vận hành thống suất các loại
thị trường, để các giao dịch thị trường diễn ra phù hợp với các nguyên tắc của thị
trường. Phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ theo hướng đẩy mạnh tự do hoá thương
mại và đầu tư phù hợp với các cam kết song phương, đa phương của nước ta và theo
thông lệ quốc tế, tạo sự phát triển mới, nhanh toàn diện thị trường dịch vụ; thúc đẩy
cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng; tôn trọng quyền định
giá và cạnh tranh về giá cả của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, thực hiện
quản lý Nhà nước về giá đối với một số hàng hoá, dịch vụ độc quyền phù hợp với cơ
chế thị trường và nguyên tắc của hội nhập quốc tế”.
Để thực hiện phát triển sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, đòi hỏi phải thể
chế hoá mọi điều kiện, đảm bảo cho sự hoạt động khách quan của nền kinh tế thị
trường. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
theo luật pháp. Đồng thời, cũng phải thấy được vai trò của Nhà nước trong việc quản
lý thị trường và giá cả. Nhà nước không can thiệp trực tiếp, can thiệp sâu vào công
việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng nhà nước có định hướng (có ngành
nghề phải yêu cầu bắt buộc) và chỉ dẫn các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh
cũng như quyết định mức giá để đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người tiêu
dùng.
tính bền vững, đảm bảo môi trường, cân đối năng lượng. Tiếp theo, thay đổi quy mô
sản xuất hài hòa, đa dạng về chủng loại đáp ứng mọi nhu cầu.
Quy hoạch phát triển ngành thép phải đẩy mạnh đầu tư luyện phôi từ phế liệu
hoặc quặng sắt để đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thép trong nước và dần dần thay
thế hoàn toàn nhập khẩu phôi thép.
3.2.3. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống bán lẻ hiệu quả.
Theo nhận định, một trong những nguyên nhân dẫn đến giá thép tăng cao, bất
hợp lý là hệ thống phân phối thép. Bởi vì nguồn cung về thép xây dựng vượt khá xa
nhu cầu, nhưng nguồn cung thép ở một số địa phương vào một số thời điểm vẫn thiếu
hụt. Hiện các doanh nghiệp lớn sản xuất thép ở trong nước, nhất là VNSteel mới chủ
yếu đầu tư phát triển hệ thống phân phối bán sỉ và một vài hệ thống phân phối thép
đến chân công trình, trong khi chưa xây dựng được hệ thống bán lẻ phù hợp. Do vẫn
phụ thuộc nhiều vào hệ thống bán lẻ sẵn có của tư nhân nên các doanh nghiệp sản xuất
thép không thể điều tiết và kiểm soát giá thép bán ra trong hệ thống.
Bên cạnh đó, hệ thống phân phối có cấu trúc bất hợp lý, vẫn tồn tại nhiều cấp
trung gian là một nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong quản lý thị trường, khả năng dự
báo thị trường, chưa xây dựng được một số nhà phân phối lớn, chuyên nghiệp đủ sức
bình ổn được thị trường.
3.2.4. Hoàn thiện công cụ quản lý và nâng cao năng lực kiểm soát, điều tiết giá của cơ
quan Nhà nước.
Học viên: Lương Văn Sỹ 10
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô Lớp : CH K9 VungTau
Nhà nước xây dựng môi trường pháp lý về giá cả nhằm tạo lập thị trường và cạnh
tranh, nghiên cứu sửa đổi những nội dung không còn phù hợp của Pháp lệnh Giá, tiến
tới xây dựng Luật Giá.
Các cơ quan quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý
những vi phạm về giá cả: vi phạm quy định về bình ổn giá; vi phạm quy định về hiệp
thương giá; vi phạm qui định về khung giá, mức giá của cơ quan có thẩm quyền; vi
phạm quy định về lập phương án giá; vi phạm quy định về niêm yết giá; vi phạm quy
định về các hành vi bị cấm quy định tại điều 28 Pháp lệnh Giá; vi phạm quy định về sử
tư, phát triển kinh - tế xã hội.
Diễn biến giá thép trong nước thường liên thông từ ảnh hưởng giá cả thế giới.
Giá thép chịu ảnh hưởng đáng kể bởi biến động của tỷ giá, lãi suất, lạm phát, chính
sách tài chính, tiền tệ. Ngoài ra, ngành bất động sản và chính sách xây dựng cơ sở hạ
tầng có vai trò quan trọng đối với nguồn cầu thép xây dựng nên những biến động cung
cầu trong ngành này sẽ gây tác động trực tiếp đến thị trường thép.
Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế ngày càng mở rộng, thị trường trong nước và
và thị trường thế giới ngày càng gắn liền chặt chẽ với nhau. Nhà nước cần thực hiện
tốt tự do thương mại và bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnh
tranh hàng hóa của nước ta, giữ vững được độc lập chủ quyền, bảo vệ được lợi ích
quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Thực hiện bình ổn giá thép xây dựng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam,
Nhà nước cần đảm bảo sự hoạt động khách quan của các qui luật vốn có của kinh tế thị
trường như: quy luật cung – câu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh , đồng thời Nhà
nước phải hoàn thiện các chính sách, công cụ quản lý để quản lý và điều tiết đảm bảo
ổn định giá cả, tạo tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội.
Học viên: Lương Văn Sỹ 12