GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
“QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ
TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI”
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
SVTH : NGUYỄN VIỆT PHONG
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 3
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 14
CHUƠNG IV : KẾT LUẬN 25
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là
“vấn đề về trị quốc”. Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào
đường lối, chiến lược trị quốc. Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳ
khác nhau (cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau. Các quan điểm được
phát triển trên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm. Mỗi
tư tưởng triết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhận
thức luận, đạo đức, chính trị, xã hội.
Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của
các nhà triết học thời kỳ cổ đại. Tuy chỉ là một mảng nhỏ trong nội dung của các
tư tưởng triết học, nhưng đây là một đề tài mang tính chất bám sát vào nội dung
chương trình học, mở rộng kiến thức về cách nhìn nhận của những nhà triết học
cổ đại của cả phương Tây lẫn phương Đông và là một vấn đề mang tính chất thực
tiễn.
Để làm rõ nội dung trị quốc, cần phải tìm hiểu sơ lược về điều kiện tự nhiên,
có hiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng
này gọi là quân tử. Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta
trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử
phải có bổn phận phải "hành đạo". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia
đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống
nhất thiên hạ).
3
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ
đức để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội. Tam cương và
ngũ thường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là
chuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọi
người tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,
thái bình.
Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh. Nhân là
tình người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằng
tình người. Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lập
thân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt”. Chính danh ở
đây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh
đó quy định. Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình. Nếu tất cả
mọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.
Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận. Lời nói
không thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọi
người nhắc lại. Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những người
sáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
3. Triết học Đạo gia
Đạo gia là một trong sáu học phái lớn trong nền triết học Trung Quốc cổ đại,
ra đời sau thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo. Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra và
Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại thăng
tiến. Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh
giá tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu
không có lợi cho nhân dân thì không làm. Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái
'dụng' của sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa'. Theo Mặc Tử thì 'muôn việc
không việc gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa,
lợi dã)
5
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo
minh ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách
mù quáng. Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình
chăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt
đối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân. Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc
là sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trong
quốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội.
Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết
trọng dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa
ra quan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương
thời và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc
qua cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan
trọng.
Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnh
đạo quốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoang
nhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc.
5. Triết học Pháp gia
Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh nhân loại, với
nhiều thành tựu vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc đứng trong hàng ngũ bốn nước
chế độ chính trị xã hội của đất nước; Nghĩa hẹp "Pháp" là những điều luật, luật
lệ, những luật lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu. Kế thừa và phát triển tư
tưởng Pháp trị của pháp gia thời trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh
công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành,
thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo
Pháp". Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia,
là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính
như: 1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ
7
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
thi hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến. Với
Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải
trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều
lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong
việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp
luật được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ". Theo Hàn Phi,
“Thuật” có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng
quan lại; Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ
ra.Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại
những kẻ bề tôi mình không cảm hóa được…
Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ
gian và dùng người.
Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi
hỏi tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về
"Thế", "Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau
trong một học thuyết duy nhất. Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử
bước triết học tách khỏi thần thoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã
hội, về lẽ sống, về chân lý, về con người…
Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất
yếu-đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại.
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau:
- Triết học thời kỳ tiền Xôcrat (thời kỳ sơ khai)
- Triết học thời kỳ Xôcrat (thời kỳ cực thịnh)
- Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá
9
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
Triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất, triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý
nhất của nhận thức nhân loại từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức
sản xuất thứ hai ở phương Tây. Vì vậy ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơ
bản của thế giới quan và là một hệ thống tập hợp các tri thức về tự nhiên, về con
người, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc nhưng cũng vô
cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ…
Đặc điểm thứ hai, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người,
khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới. Mặc dù
vậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở
khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức.
Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phátvà
biện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy
nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng. Với ý nghĩa đó, những tư
tưởng biện chứng của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên của
phép biện chứng.
2. Quan điểm Đêmocrit
Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hy
ra nhiệt làm cơ thể hưng phấn và vận động.
Quan điểm về linh hồn của Đêmôcrít là cái không bất tử, nó thể hiện cùng
với sự tồn tại của thể xác con người. Chức năng của linh hồn là khởi đầu sự vận
động và tồn tại của cơ thể con người. Các hình thức phản ánh trong hoạt động
nhận thức của con người theo Đêmôcrít được thể hiện do các cơ quan cảm giác
và nhận thức lý tính. Sự khác nhau giữa nhận thức cảm giác và lý tính là ở tính
chất, trình độ giữa chúng, tuy nhiên Đêmôcrít chưa phân biệt được sự khác nhau
cơ bản giữa hai dạng nhận thức, mà chỉ thấy sự khác nhau đơn thuần về lượng,
cũng chưa thấy được sự chuyển hóa giữa chúng, mà thực chất coi tư duy chỉ là sự
hỗn hợp cái nguyên tử trong cơ thể con người.
11
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, Đêmôcrít thể hiện lập trường của tầng lớp
dân chủ chủ nô, ông đấu tranh bảo vệ nền dân chủ Aten. Ông coi chế độ nô lệ là
hợp đạo lý, nền tảng của nó là nhà nước của giai cấp chủ nô. Ông có những quan
điểm tiến bộ về mặt đạo đức. Phẩm chất con người theo ông không phải ở lời nói
mà ở việc làm. Mục tiêu của con người, theo ông là hướng tới tự do và hạnh
phúc, nhưng hạnh phúc không phải là sự giàu có, mà là sự thanh thản tâm hồn
được tự do. Về vấn đề tôn giáo, Đêmôcrít và các nhà nguyên tử luận nghiêng về
lập trường vô thần.
3. Quan điểm Platon
Platon (427-347) tên thật là Aristoclès. Sinh trong một gia đình dòng dõi quý
tộc tại Athènes. Ông đã từng theo học với Socrate và trở thành một người đệ tử,
một người bạn trung thành đắc lực cho Socrate. Việc Socrate mất đã tác động
mạnh mẽ tới tâm thức Platon và từ đó ông thù ghét tư tưởng dân chủ, thù ghét
quần chúng và cả giai cấp quý tộc của ông. Ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị
cho nhân loại cả về triết học lẫn chính trị. Trong những tác phẩm của ông, nổi
tiếng và đặc biệt nhất là tác phẩm Cộng Hoà (Republic). Có thể nói đó là một
trong đất liền để tránh giao thương buôn bán mà chỉ phát triển về nông, thủ công
nghiệp là đủ.
Và tất nhiên, xã hội đó là một xã hội quý tộc dân chủ, tất cả mọi tài năng đều
có cơ hội phát triển đồng đều, dù là con vua hay con chúa cũng bắt đầu ngang
nhau. Trong chế độ này hoàn toàn không có giai cấp, không có vấn đề cha truyền
con nối, nếu không có năng lực thì sẽ bị đào thải, dù là con vua.
Một nền thể chế chính trị hay xã hội nếu làm cho trọn vẹn quá trình đào tạo
“chất liệu cấu tạo triết lý chính trị” như vậy tất nhiên đã bảo đảm được phần nội
lực bên trong từ đó tiến lên xây dựng quốc gia xã hội không còn là chuyện khó.
13
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN
I.Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Trung Quốc
Trung Hoa cổ đại là một trong những trung tâm văn hóa, khoa học và triết học cổ
xưa, phong phú và rực rỡ nhất không chỉ của nền văn minh phương Đông mà của
cả nhân loại.
Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thế kỷ III TCN kéo dài đến thế kỷ II
TCN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền và bạo
lực, mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến. Trong khoảng 2000 năm lịch sử ấy,
lịch sử Trung Hoa được chia thành 2 thời kỳ lớn:
• Thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu)
• Thời Xuân Thu-Chiến Quốc
Chính sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học trong các thời kỳ này, đặc biệt là
thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc đã tạo tiền đề cho sự ra đời hàng loạt các hệ thống
triết học với những nhà triết gia vĩ đại mà tên tuổi của họ gắn liền với lịch sử của
nhân loại.
1.Tư tưởng trị quốc Nho gia:
Quan điểm về chính trị- đạo đức của Nho gia được thể hiện ở những tư tưởng
phức trói buộc con người vào vòng nghèo đói và tệ nạn 'giả nhân giả nghĩa'.
Ông phê bình Nho học như sau:
'Ðạo Nho có bốn điều đủ làm mất thiên hạ: Nho sinh cho trời
không minh, cho quỷ không thiên, trời quỷ không bằng lòng,
cái đó đủ mất thiên hạ. Lại chôn cất hậu, để trở lâu, làm ra quan
quách thật nặng, chế ra áo khâm thật nhiều, đưa ma như thể dọn
nhà, ba năm khóc lóc, phải nâng mới dậy, phải gậy mới đi, tai
không nghe gì, mắt không thấy gì, cái đó đủ mất thiên hạ. Lại
đàn hát, trống múa, tập làm âm nhạc, cái đó đủ mất thiên hạ. Lại
cho số mạng là có, nghèo giàu, thọ yểu, trị loạn, yên nguy, đều
có khuôn sẵn, không thể thêm bớt, người trên làm theo ý ấy, ắt
không nghe đến chính trị, người dưới làm theo ý ấy, ắt không
thiết gì làm việc, cái đó đủ mất thiên hạ.'
Mặc Tử lại phê phán Lão giáo là sách lược bất động không đem đến
thực lợi cho nhân dân. Ông quan niệm rằng 'trời yêu cả thiên hạ, làm lợi cho
vạn vật, tỉ mỉ như cái múp sợi lông' khác với chủ trương của Lão, Trang là 'thiên
địa bất nhân (không thương thiên hạ).' Ông suy luận rằng việc quốc trị không thể
không làm (vô vi) như Lão hay Trang chủ trương, và khi làm thì phải chú trọng
vào phương tiện để đạt cho được cứu cánh chứ không chỉ bám vào cứu cánh mà
quên đi phương tiện như Khổng hay Mạnh.
15
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
lý tưởng chính trị thì Mặc Tử nhấn mạnh đến pháp thuật chính trị cần thiết để an
bang tế thế. Ðối với ông, phương tiện cũng không kém cứu cánh; nếu chỉ bàn
mông lung về lý tưởng mà không có chương trình hành động cụ thể thì cũng khó
đạt được lý tưởng.
'Mặc Tử hỏi một nhà Nho: ''Sao lại làm nhạc?'' Người ấy đáp:
''Nhạc để làm nhạc.''
Thuế má 'dụng' được cho nên là việc 'phải,' và vì 'phải' nên 'dụng' được. Trong
khi đó, theo Mặc Tử, nhạc không 'dụng' được cho nên không 'phải;' và vì không
'phải' do đó không nên 'dụng'. Mọi việc vì vậy có ba 'biểu' tức là 'gốc,' 'nguyện'
(nguồn) và 'dụng.'
'Thế nào gọi là ba (3) biểu? Nghĩa là có cái làm gốc, có cái làm
nguyện, có cái để dụng. Gốc ở chỗ nào? Trên thì gốc ở việc của
Thánh vương đời xưa. Nguyện (nguồn) ở chỗ nào? Dưới thì dò
xét sự thật ở trước tai mắt trăm họ. Dụng ở chỗ nào? Ðưa ra là
việc hình chính xem có lợi cho nhà nước trăm họ hay không.'
Khi biết rõ được hai biểu ban đầu (gốc và nguồn) của vấn đề thì sau đó
ứng dụng (hành động) vào thực tế để đánh giá thực lợi; chỗ 'dụng' của vạn vật sẽ
đem đến ích lợi thực sự cho nhân dân. Ðây là chủ trương ứng dụng hay thực lợi
của Mặc Tử; những phù phiếm bề ngoài không đem lại lợi lộc thực sự cho nên
không cần đến. Chủ nghĩa ứng dụng của Mặc Tử được diễn tả như sau:
'Lời nói đủ để cải cách hành vi thì tôn trọng. Không đủ tăng tiến
hành vi thì không nên tôn trọng. Không đủ để tăng tiến hành vi
mà tôn trọng, đó là miệng phóng túng vậy.'
Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại
thăng tiến, và nếu không đưa đến kết quả này thì trở nên vô dụng và không được
tôn trọng. Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để
đánh giá tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng
nếu không có lợi cho nhân dân (chứ chưa nói đến việc có hại) thì không làm.
Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái 'dụng' của sự việc cũng không nên quên đi
'nghĩa'. Theo Mặc Tử thì 'muôn việc không việc gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc
quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa, lợi dã).
'Nay bảo một người nào rằng: 'Cho anh cái mũ cái dép mà chặt
tay chân của anh, anh có lấy không?' Chắc chắn không lấy. Tại
sao? Bởi vì mũ dép không quý bằng chân tay.
Lại bảo: 'Cho anh cả thiên hạ mà giết thân anh, anh có lấy
không?' Chắc chắn không lấy. Tại sao? Bởi vì thiên hạ không
a. Một số nét về tư tưởng trị quốc Pháp gia :
18
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông
đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế”để xây dựng và
phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với
đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và
công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra
một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật
phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật Với những tư tưởng đó, học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi
là “học thuyết của đế vương”.
b. Những khác biệt với tư tưởng trị quốc Nho gia,Đạo gia và Mặc gia
Khổng Tử là người đặc biệt nệ cổ, thường coi xưa hơn nay; tâm nguyện của ông
là làm sao để xã hội có thể trở về trạng thái xưa cũ. Mặc Tử, ông tổ phái Mặc gia,
cũng rất đề cao quá khứ. Theo ông, một trong ba tiêu chuẩn của chân lý (phép
“Tam biểu”), là lời nói của thánh nhân đời xưa, hay những gì đã từng được nói
đến trong quá khứ. Hàn Phi đã phê phán một cách hết sức sắc sảo loại quan
điểm này: “Khổng Tử, Mặc Tử đều nói đến Nghiêu, Thuấn nhưng chủ trương
của hai người khác nhau. Họ đều tự cho mình là Nghiêu, Thuấn chân chính.
Nghiêu, Thuấn không sống lại, vậy ai sẽ quyết định đạo Nho hay đạo Mặc là
đúng với Nghiêu, Thuấn? Đời Ân, đời Chu đã hơn bảy trăm năm, đời Ngu, đời
Hạ trước đấy đã hơn hai ngàn năm mà còn không quyết định được cái đúng của
đạo Nho và đạo Mặc. Nay lại muốn nghiên cứu cái đạo của Nghiêu, Thuấn cách
đây đã ba ngàn năm, chẳng phải là không thể nào làm được sao? Nếu như không
tham nghiệm được mà lại quyết định ngay thì đó là ngu. Nếu không thể quyết
định được mà lại theo ngay thì đó là dối trá. Cho nên chuyện nêu cao các tiên
vương, quyết định theo Nghiêu và Thuấn nếu như không phải là ngu thì cũng là
1. Đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp luật với việc cai trị dựa vào các hình phạt
nghiêm khắc.
2. Quan niệm về pháp luật của Pháp gia nói chung và Hàn Phi nói riêng quá máy
móc và cứng nhắc, hoàn toàn không có tính đàn hồi trong việc sử dụng pháp luật.
20
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
3. Coi các điều khoản pháp luật chính thức là hình thức duy nhất phù hợp với pháp
luật, hoàn toàn bỏ qua nhân tố luật tập quán.
4.Giải thích mục tiêu pháp luật quá chú trọng đến phương diện vật chất; thực ra,
luật pháp cần phải giúp phát triển một cách bình đẳng các lợi ích khác nhau.
5. Ở họ, có lòng nhiệt huyết cải cách mù quáng, song lại quá thiếu ý thức lịch sử,
dường như là muốn sáng tạo lại lịch sử
II.Tư tưởng triết học Đêmocrit,Platon và nét khác biệt:
Nổi bật nhất trong triết học của Đêmôcrít là học thuyết về nguyên tử. Khái
niệm nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm về “tồn tại” và “không
tồn tại”. Trái với quan niệm của Platon thì tồn tại theo Đêmôcrít là cái xác định
được, cái đa dạng, cái có ngoại hình…
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, Đêmôcrít thể hiện lập trường của tầng lớp
dân chủ chủ nô, ông đấu tranh bảo vệ nền dân chủ Aten. Ông coi chế độ nô lệ là
hợp đạo lý, nền tảng của nó là nhà nước của giai cấp chủ nô. Ông có những quan
điểm tiến bộ về mặt đạo đức. Phẩm chất con người theo ông không phải ở lời nói
mà ở việc làm. Mục tiêu của con người, theo ông là hướng tới tự do và hạnh
phúc, nhưng hạnh phúc không phải là sự giàu có, mà là sự thanh thản tâm hồn
được tự do. Về vấn đề tôn giáo, Đêmôcrít và các nhà nguyên tử luận nghiêng về
lập trường vô thần.
Đối lập với chủ nghĩa duy vật Hi Lạp cổ đại là chủ nghĩa duy tâm trong triết
học mà đại biểu lớn nhất là Platôn.
Platôn là người dầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên của chủ
đời sống xã hội ngày nay.
23
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA Đề Tài : QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. - Triết học Mác- Lênin (Đề cương bài giảng & hướng dẫn ôn tập), Nxb
thống kê, 2002
2. - Triết học, phần I, đại cương về lịch sử triết học (dùng cho học viên cao
học & nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), trường đại
học kinh tế Tp. Hcm, 2010
3. . Triết học Phần I Đại cương về Lích sử Triết học - TS. Bùi Văn Mưa
(chủ biên), 2010
4. Triết học và Bức tranh VẬt lý học về Thế giới- TS. Bùi VĂn Mưa - NXB
Đại học Quốc gia TPHCM 2008
5. Dương Thành Lợi: Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương
6.
cat=48&id=344&pcat=&vientriet=articles_deltails
7.
8. />24
SVTH : Nguyễn Việt Phong – K20 – ĐÊM 1 - NHÓM 5 – STT 74