Âm dương Ngũ hành trong Y học
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1. Thế nào là "Âm dương": 4
1.1. Thế nào là "Âm dương": 4
1.2. Thuyết Âm – Dương: 4
1.2. Thuyết Âm – Dương: 4
1.3. Thế nào là Ngũ hành: 4
1.3. Thế nào là Ngũ hành: 4
1.4. Thuyết Ngũ hành: 5
1.4. Thuyết Ngũ hành: 5
1.5. Mối quan hệ giữa Âm dương và Ngũ hành: 6
1.5. Mối quan hệ giữa Âm dương và Ngũ hành: 6
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH ĐỐI VỚI LĨNH
VỰC Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG 8
2.1. Nguồn gốc Y học Phương Đông: 8
2.1. Nguồn gốc Y học Phương Đông: 8
2.2. Sự vận dụng thuyết Âm dương – Ngũ hành vào lĩnh vực y học của người Phương Đông: 8
2.2. Sự vận dụng thuyết Âm dương – Ngũ hành vào lĩnh vực y học của người Phương Đông: 8
2.2.1.Âm dương Ngũ hành và Cơ thể: 8
2.2.1. Âm dương Ngũ hành và Cơ thể: 8
2.2.2.Âm dương Ngũ hành và Sinh lý(3): 10
2.2.2. Âm dương Ngũ hành và Sinh lý(3): 10
2.2.3.Âm dương Ngũ hành và Bệnh lý: 12
2.2.3. Âm dương Ngũ hành và Bệnh lý: 12
2.2.4.Âm dương Ngũ hành và Chẩn bệnh: 14
2.2.4. Âm dương Ngũ hành và Chẩn bệnh: 14
2.2.5.Âm dương Ngũ hành và Dược liệu: 16
2.2.5. Âm dương Ngũ hành và Dược liệu: 16
2.2.6.Âm dương Ngũ hành và Châm Cứu: 17
2.2.6. Âm dương Ngũ hành và Châm Cứu: 17
2. Mục tiêu của Đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: trên cơ sở làm sáng tỏ thuyết Âm dương
Ngũ hành của triết học Phương Đông và ảnh hưởng của nó đối với nền y học, đề tài
còn đi sâu nghiên cứu các ứng dụng thực tế của nó trong việc điều trị và chẩn bệnh
hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Thuyết Âm dương – Ngũ hành và sự ảnh hưởng của nó đến nền y học
Phương Đông.
4. Phương Pháp Nghiên Cứu:
4.1. Cơ sở phương pháp luận:
Đề tài được triển khai dựa trên nội dung của thuyết Âm dương - Ngũ hành và
giá trị của nền y học Phương Đông.
4.2. Các phương pháp cụ thể:
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, các phương pháp nghiên cứu
đã được sử dụng như: Phương pháp lịch sử, Phương pháp phân tích tổng hợp,…
5. Kết cấu của đề tài: Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Ảnh hưởng của Âm dương Ngũ hành đối với Y học
Chương 3: Âm dương Ngũ hành và biện chứng trong Y học
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 3
Âm dương Ngũ hành trong Y học
1.1. Thế nào là "Âm dương":
Âm và Dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian
cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như
trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và Dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống
nhất, trong Dương có mầm mống của Âm và ngược lại. (Hình 1- Trang 35)
Âm là phạm trù đối lập với Dương, phản ánh những yếu tố (sự vật, hiện
tượng, tính chất, quan hệ …) và khuynh hướng như: giống cái, đất, mẹ, vợ, nhu,
thuận, tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn, tĩnh, tiêu cực,…
Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc
thổ), đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thủy), nước dội nhiều nhanh dập lửa
ngay (thủy khắc hỏa), lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hỏa khắc kim), thép cứng rèn
dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc).
1.4. Thuyết Ngũ hành:
Học thuyết Ngũ hành chủ yếu nói về mối quan hệ phức tạp thể hiện ở quy
luật sinh - khắc - chế - hoá và bổ sung cho thuyết Âm Dương hoàn bị hơn.
Tinh thần cơ bản của thuyết Ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ
nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc
kết hợp với hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ nhằm biểu thị mọi sự biến hoá
phức tạp của sự vật.
Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng, đem
Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa
lẫn nhau.
Mộc sinh Hoả = Can sinh Tâm
Hoả sinh Thổ = Tâm sinh Tỳ
Thổ sinh Kim = Tỳ sinh Phế
Kim sinh Thuỷ = Phế sinh Thận
Thuỷ sinh Mộc = Thận sinh Can.
Trong luật tương sinh của Ngũ hành còn hàm ý là hành nào cũng có quan hệ
về hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Trong
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 5
Âm dương Ngũ hành trong Y học
quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn
lẫn nhau.
Luật tương khắc:
Mộc khắc Thổ = Can khắc Tỳ
Thổ khắc Thuỷ = Tỳ khắc Thận
Thuỷ khắc Hoả = Thận khắc Tâm
Hoả khắc Kim = Tâm khắc Phế
Dương và Âm được phân loại vào Ngũ hành, cho nên chỉ dùng riêng một học thuyết
để giải thích và phân tích vấn đề của con người có lúc sẽ không được toàn diện. Chỉ
khi nào kết hợp cả hai học thuyết thì mới có thể thu được kết quả đầy đủ. Như Ngũ
tạng, Lục phủ thì tạng là âm, phủ là dương, muốn giải thích sự phát triển của tạng
(phủ) thì dùng học thuyết Âm dương để thuyết minh. Nếu nói về quan hệ sinh lý
bệnh lý giữa tạng phủ thì dùng học thuyết Ngũ hành để thuyết minh vì giữa ngũ tạng
có quan hệ tương sinh tương khắc, hợp lại là quy luật chế hoá, tương thừa tương
vũ”.
(1)
Vì thế, Y học phương Đông cũng như các lĩnh vực khác đều phải theo Âm
dương để phân rõ Ngũ hành và theo Ngũ hành để phân biệt Âm dương. Họ đã vận
dụng kết hợp cả Âm dương, Ngũ hành khi bàn đến thực tế lâm sàng mới có thể phân
tích sâu sắc kỹ càng hơn về những vấn đề trong Y học và các lĩnh vực khác. Có thể
thấy trên cơ bản Âm dương hợp với Ngũ hành thành một khâu hoàn chỉnh, giữa Âm
dương với Ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời nhau.
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 7
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ
HÀNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG
2.1. Nguồn gốc Y học Phương Đông:
Đông y bắt nguồn từ lưu vực sông Hoàng Hà Trung Quốc, hình thành hệ
thống học thuật về nhận thức lý luận trong nền y học phương Đông: Âm dương, Ngũ
hành. Âm dương, Ngũ hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, việc chữa bệnh nhằm
lập lại trạng thái cân bằng của các yếu tố đó. Các nhà y học phương Đông dựa vào
hai học thuyết Âm dương và Ngũ hành đã dưa ra 3 học thuyết sau:
− Học thuyết vận khí lại được gọi là ngũ vận (mộc vận, hỏa vận, thổ vận,
kim vận, và thủy vận) lục khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa), là học thuyết nghiên
cứu và tìm hiểu ảnh hưởng của biến đổi về thiên văn, khí tượng, khí hậu của giới tự
nhiên đối với sức khoẻ và bệnh tật của cơ thể. Học thuyết này là lịch pháp thiên văn
c. Trong (Bụng, Ngực) là Âm, Ngoài (Lưng) là Dương:
“Thiên Ngũ Tạng Sinh Thành Luận” ghi: "Phù ngôn chi Âm dương, Nội vi
Âm, ngoại vi Dương, Phúc vi Âm, Bối vi Dương" (Nói về Âm dương, trong thuộc
Âm, ngoài thuộc Dương, bụng thuộc Âm, lưng thuộc Dương).
Ngay từ trong bào thai, sự sắp xếp theo thứ tự trên cũng khá rõ: Bào thai
nam: Dương khí tụ ở lưng nên thường quay lưng ra, do đó bụng người mẹ thường có
dạng tròn và cứng. Trái lại, bào thai nữ: Âm khí tụ ở ngực nên thường quay mặt ra
ngoài, do đó bụng người mẹ thường có dạng hình bầu dục (gáo nước) và mềm.
d. Âm dương và Tạng Phủ
(2)
:
“Thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận" ghi: "Lục phủ giai vi dương, Ngũ
tạng giai vi âm" (Lục phủ thuộc dương, Ngũ tạng thuộc âm). Như thế Tâm, Can, Tỳ,
Phế, Thận thuộc Âm, còn Tiểu Trường, Đởm, Vị, Đại Trường, Bàng quang, Tam
Tiêu thuộc Dương. Tâm Bào, được coi như một tạng mới, nên thuộc âm.
Có thể tạm hiểu như sau: theo "Kinh Dịch" mỗi vật thể, hiện tượng đều do 2
yếu tố: THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên. Xét một vật nào
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 9
Âm dương Ngũ hành trong Y học
đó, có thể có hình dạng (thể) là Âm nhưng lại có công dụng là Dương hoặc ngược
lại “Thể” là Dương nhưng “Dụng” là Âm.
2.2.1.2. Ngũ hành và Tạng phủ:
Nếu đem đồ hình Thái cực áp dụng vào khuôn mặt và nhìn từ sau ra trước ta
thấy:
− Trán thuộc Tâm.
− Cằm thuộc Thận.
− Má bên trái thuộc Can.
− Má bên phải thuộc Phế.
− Mũi thuộc Tỳ (trung ương).
Việc phân chia này giúp ích rất nhiều trong việc chẩn bệnh, Thí dụ: Nhìn thấy
Ứng dụng Ngũ hành vào mặt sinh lý con người là đem ngũ tạng sánh với Ngũ
hành, dựa vào đặc tính sinh lý của ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành.
Can và Hành mộc: tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của
Can là một vị tướng, vì thế dùng hành Mộc ví với can.
Tâm và Hành hỏa: Lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và
lưỡi, vì thế dùng hành Hỏa ví với Tâm.
Tỳ và Hành thổ: Đất là mẹ đẻ của muôn vật giống là con người sinh tồn
được là nhờ vào các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế dùng Hành thổ ví với
Tỳ.
Phế và Hành kim: Kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người
phát ra tiếng nói nhờ Phế, vì thế dùng hành Kim ví với Phế.
Thận và Hành thủy: Nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ,
giống như nước uống vào thì một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường
tiểu bài tiết ra ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận.
b. Quan điểm hiện đại:
Dựa theo công năng cơ thể, tìm sự tương ứng với hành nào đó trong Ngũ
hành để giải thích sự biến chuyển của Ngũ hành.
Hành Mộc và sự vận động: Đó là sự vận động của các cơ bắp, các sợi cơ ở
khắp cơ thể.
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 11
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Hành Hỏa và sự phát nhiệt: Đó là sự sản sinh nhiệt năng do sự chuyển hóa
của các tế bào.
Hành Thổ và sự bài tiết: Đó là sự vận động đưa chất ra ngoài cơ thể.
Hành Kim và sự hấp thụ: Đó là sự vận động thu hút các chất vào cơ thể.
Hành Thủy và sự tàng trữ: Đó là sự vận động tàng trữ các chất trong cơ thể
để dùng khi cần thiết.
c. Giữa 2 quan niệm cổ điển và hiện đại có một số điều khác biệt:
Nếu đứng về quan niệm cổ điển, mỗi hành chỉ ảnh hưởng đến một ngũ tạng.
Thí dụ: Can Mộc, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ, Phế Kim và Thận Thủy.
28)
c. Âm dương thực giả:
Trên lâm sàng, nhiều hội chứng dễ gây lẫn lộn Âm dương nếu không chẩn
bệnh một cách kỹ lưỡng. Đó được gọi là các hội chứng chân giả.
− Dương cực tựa Âm: Do nhiệt độc tới chỗ cùng cực, phục vào trong cơ thể gây
ra người lạnh, hôn mê giống như âm chứng, chỉ khác ở chỗ là trong lạnh nhưng
không thích đắp ấm, thần khí tuy hôn mê nhưng sắc mặt vẫn tươi, mạch tuy Trầm
nhưng Hoạt và có lực Khi trị liệu phải dùng thuốc Hàn.
− Âm cực tựa Dương: Do hàn tà đến chỗ cùng cực, đẩy Dương hỏa ở trong ra
ngoài gây ra mình nóng, buồn phiền, khát nước, giống như Dương chứng nhưng chỉ
khác ở chỗ mình nóng mà thích đắp chăn ấm, miệng khát mà uống nước lạnh vào lại
mửa ra ngay. Mạch thường Trầm Tế, không lực Khi trị liệu, phải dùng thuốc
nhiệt (ôn nóng), nếu dùng lầm thuốc hàn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
d. Âm Thăng Dương Giáng:
Huyết thuộc Âm, phải thăng (đi lên), nếu huyết hư không đi lên được phần
trên không được huyết nuôi dưỡng gây chóng mặt, hoa mắt nguyên nhân do âm
hư, cần bổ âm.
Khí thuộc Dương, phải giáng (đi xuống), khí không làm tròn chức năng thay
vì đi xuống lại đi lên gọi là khí nghịch, gây ra chứng hen suyễn, khó thở, nguyên
nhân do khí nghịch, cần điều chỉnh ở khí.
2.2.3.2. Ngũ hành và Bệnh lý:
Ứng dụng Ngũ hành vào bệnh lý, chủ yếu vận dụng quy luật Sinh Khắc,
Tương Thừa, Tương Vũ, Phản sinh khắc để giải thích các quan hệ bệnh lý khi một
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 13
Âm dương Ngũ hành trong Y học
cơ quan, tạng phủ nào đó có sự xáo trộn gây ra mất thăng bằng thái quá (hưng phấn)
hoặc bất cập (ức chế). Ngoài ra, có thể dùng các biểu hiện của Ngũ hành để tìm ra sự
xáo trộn ở các Hành, Tạng phủ, cơ quan.
Tuy nhiên, một hành nào đó có sự thay đổi cũng dẫn tới cả năm hành thay đổi
theo, nhất là trong các hội chứng bệnh. Do đó, mối quan hệ giữa các hành là mối
Thổ gắn liền với 5 cơ quan: trán, mũi, cằm, 2 má và gắn liền với sự vận động đang
xảy ra bên trong cơ thể như: tim, phổi, thậm chí cả trí não và trạng thái tinh thần
− Trán:
Trán (nhân tố Hỏa) liên quan mật thiết đến tim, ruột non và yếu tố tinh thần.
Khi khám vùng trán, nhìn thấy trán màu đỏ hoặc lờ mờ những mạch máu đỏ
xuất hiện bất thường, chứng tỏ tim của bạn có vấn đề; da trán đổi màu cũng cho thấy
cảm xúc thay đổi gần đây như bạn đang đau buồn hoặc mất kiểm soát vì điều gì
phiền lòng trong cuộc sống. Điều này rất dễ nhận ra với những người hay có tâm
trạng dễ xáo trộn, họ sẽ có những nếp nhăn trên trán, giữa 2 lông mày.
− Mũi:
Mũi (nhân tố Thổ) là cơ quan biểu hiện tình trạng sức khỏe của dạ dày, lá
lách và tuyến tụy.
Dấu hiệu bất thường qua các mụn hai bên cánh mũi, nó cho thấy bữa ăn của
bạn ngày hôm trước như bạn ăn quá nhiều đồ cay, rán kỹ, đồ béo hoặc đồ có chứa
nhiều đạm, kết quả là bạn sẽ bị khó tiêu hóa, táo bón hoặc tiêu chảy.
Các mao mạch vỡ hoặc màu đỏ chạy dọc trên sống mũi có thể chỉ ra rằng bạn
lạm dụng rượu hoặc đơn giản bạn đang lo lắng quá mức và stress.
− Cằm:
Cằm (nhân tố Thủy) liên quan đến thận và bàng quang, bao gồm cả hệ thống
hormon và các tuyến trên cơ thể, da quanh cằm và miệng có những mảng tối màu
chỉ ra vấn đề về thận và bàng quang, mụn trứng cá trên cằm cũng chứng tỏ hormone
mất cân bằng. Vấn đề này thường do cơ thể đang tạo ra quá nhiều hormone sinh dục.
Nhìn vào nhân trung, nếu đường ngang trên nhân trung đổi màu chỉ ra vấn đề viêm
dạ con hoặc u xơ tử cung.
− Má phải:
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 15
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Má phải (nhân tố Kim) kết nối với phổi và ruột già, vấn đề với phổi và các
ruột già thường biểu hiện qua sự biến màu da trên má bằng mụn trứng cá nhẹ xuất
hiện hay má hơi đỏ một cách bất thường, cơ thể đang nhiễm lạnh, hô hấp có vấn đề
chỉ dùng cho bệnh nhiệt, ôn, hỏa viêm là thuốc có tính hàn; tính hàn thuộc âm dược,
tính nhiệt là dương dược.
Vị đạm, tính bình là chỉ những vị thuốc không có vị cay, chua, đắng, ngọt,
mặn và cũng không nóng, không lạnh.
b. Cách sử dụng thuốc theo học thuyết Âm dương:
Bệnh có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó là thuốc có tính hàn và
ngược lại, tùy theo mức độ nhiệt, hàn mà dùng thuốc hàn, nhiệt mạnh hay yếu, liều
ít hay nhiều. Thí dụ cách sử dụng thuốc (xem phụ lục 3 – Trang 30)
2.2.5.2. Ngũ hành và Dược liệu:
Y học cổ truyền dùng Ngũ hành áp dụng vào việc sử dụng thuốc đối với bệnh
tật của tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa Vị, Sắc,… đối với tạng phủ, đây là nền
tảng của việc “Quy Kinh”
(4)
.
Việc áp dụng màu sắc của Ngũ hành vào dược liệu cũng đang được các nước
phương Tây quan tâm đến và áp dụng việc dán nhãn vào các loại thực phẩm căn cứ
theo các giá trị dinh dưỡng:
− Nhãn xanh đậm trên các sản phẩm sữa chỉ rõ rằng các loại thực phẩm đó
tốt cho xương và răng.
− Màu vàng dán vào bánh mì và các loại ngũ cốc chỉ rõ rằng những loại
này là thức ăn cung cấp năng lượng.
− Màu xanh lục dán vào rau quả là bổ mắt.
− Màu đỏ dán vào cá và thịt chỉ rõ những loại này bổ máu và cơ.
2.2.6. Âm dương Ngũ hành và Châm Cứu:
2.2.6.1. Âm dương và Châm Cứu:
a. Âm dương và Kinh Lạc:
− Theo nguyên tắc thăng giáng:
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 17
Âm dương Ngũ hành trong Y học
• Các kinh âm ở tay, đi lên, tức đi từ vùng nách, ngực lên ngón tay (theo
Nếu chỉ phân chia như trên sẽ không đủ để giải quyết vấn đề mâu thuẫn thống
nhất là Âm dương ngay trong mỗi hành và trong mỗi hành đều có Âm dương, do đó,
mỗi huyệt của Ngũ du cũng đều có Âm dương. Vì vậy, cùng một huyệt, cùng một
tên, một chức năng nhưng lại có 2 công dụng khác nhau là Dương Hỏa (hưng phấn
Hỏa) và Âm hỏa (ức chế Hỏa),
2.2.7. Âm dương Ngũ hành và Điều trị:
2.2.7.1. Âm dương và Điều trị:
Điều trị bệnh là lập lại sự quân bình Âm dương bằng nhiều phương pháp
khác nhau, các y sĩ thường dùng châm cứu và cho thuốc uống để chữa bệnh.
− Nguyên tắc chung:
Bệnh do dương thịnh phải làm suy giảm phần dương (Tả dương), bệnh do âm
thịnh phải làm suy giảm phần âm (Tả âm).
− Về thuốc:
• Bệnh về Âm dùng thuốc Dương (ôn, nhiệt) để chữa.
• Bệnh về Dương, dùng thuốc Âm (Hàn, lương) để chữa.
− Về châm cứu:
• Bệnh nhiệt dùng châm, Bệnh hàn dùng cứu.
• Bệnh thuộc Tạng (âm) dùng các Du huyệt ở lưng (dương) để chữa.
• Bệnh thuộc Phủ (dương), dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (âm) để
chữa.
2.2.7.2. Ngũ hành và Điều trị:
Trong việc điều trị, cần nắm vững quy luật Sinh Khắc của Ngũ hành thì việc
trị liệu mới đạt được hiệu quả cao.
a. Tương sinh:
Cần nhớ nguyên tắc: "Hư bổ mẫu, Thực tả tử".
− Hư bổ mẫu: phải nhớ chính xác “cái sinh ra nó” để bổ cho mẹ nó thì mẹ nó
giúp cho nó và như thế nó sẽ lành bệnh.
− Thực Tả Tử là điều trị ở tạng phủ hoặc kinh được “nó sinh ra”.
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 19
Âm dương Ngũ hành trong Y học
dự phòng.
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 20
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Dựa vào màu sắc, khí, vị của thức ăn, mà biết bệnh gì nên ăn hoặc kiêng
những gì.
Việc áp dụng Ngũ hành cho từng trường hợp, từng sự việc để tìm ra mối quan
hệ gây rối loạn dẫn đến xáo trộn bệnh lý. Công việc này đòi hỏi phải đào sâu vào
từng hành để tìm ra những mối quan hệ giữa các rối loạn với các hành về phương
diện y học cổ truyền lẫn y học hiện đại, nắm được phương pháp lý luận biện chứng,
sẽ giúp rất nhiều trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh.
2.2.9. Điều hòa Âm dương Ngũ hành:
2.2.9.1. Thế nào là điều hòa Âm dương và Ngũ hành:
Âm dương đối lập nhưng vận động thống nhất, có mức độ, có trật tự, hợp
thời. Nếu hoạt động của Âm dương không đúng độ, thời điểm, chỗ nương tựa, mất
đi sự điều hòa, dẫn đến Âm dương thất điều (thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu
dương). Biểu tượng của thái cực là do âm ngư và dương ngư kết hợp mà thành, sử
dụng chữ S để chia thành 2 phần, nó biểu thị Âm dương là sự chuyển hóa 2 chiều
mất đi rồi phát triển không ngừng.
Theo học thuyết Ngũ hành, một tạng trong cơ thể có mối quan hệ mật thiết
với 4 tạng còn lại giống như một hành trong Ngũ hành cũng có mối quan hệ mật
thiết với 4 hành còn lại, có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau hay kìm chế lẫn nhau theo qui
luật tương sinh, tương khắc. Đó là hoạt động điều hòa cân bằng trong điều kiện bình
thường.
2.2.9.2. Vì sao phải điều hòa Âm dương và Ngũ hành:
Cân bằng Âm dương là nền móng của hoạt động sống. Nếu Âm dương cân
bằng, cơ thể con người khỏe mạnh; nếu Âm dương mất cân bằng, cơ thể con người
sinh ra bệnh tật. Chúng ta muốn biết được quá trình phát triển của bệnh, đi sâu vào
nghiên cứu bản chất của bệnh thì phải đi sâu vào nghiên cứu sự biến đổi Âm dương
trong cơ thể. Vận dụng qui luật và hình thức thay đổi vận động đối lập, thống nhất
của Âm dương để có phương pháp chẩn đoán, tìm hiểu, phòng tránh và điều trị
quan hệ giữa con người với trời đất: coi con người và hoàn cảnh là một khối thống
nhất, con người chẳng qua là cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại, con người không
thể tách rời giới tự nhiên mà sinh sống được, con người với giới tự nhiên là tương
ứng. Tự nhiên có âm dương ngũ hành thì con người có “thủy hỏa” ngũ tạng. “ Âm
dương là quy luật của trời đất tuy không thấy được nhưng chúng ta có thể hiểu được
nó thông qua sự biểu hiện của thủy hỏa khí huyết, trong đó hỏa khí thuộc dương,
thủy huyết thuộc âm”. Dùng các quy luật âm dương ngũ hành để giải thích mối quan
hệ giữa các phú tạng trong cơ thể. Vận dụng sự kết hợp giữa học thuyết âm dương
với học thuyết ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên cũng như các biểu
hiện trong cơ thể con người và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Đây là một
quan điểm hoàn chỉnh và là một điển hình của phép biện chứng thô sơ.
Thuyết âm dương - Ngũ hành đã được các nhà tư tưởng Việt Nam tích cực
tiếp nhận và vận dụng hết sức sáng tạo trong thực tiễn. Một trong những tấm gương
tiêu biểu của sự vận dụng sáng tạo thuyết âm dương - ngũ hành vào việc phát triển
nền y học nước ta là đại danh y, nhà lý luận y học Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu
Trác, với tác phẩm y học đồ sộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh.
Y học cổ truyền Việt Nam được hình thành ngay từ buổi đầu dựng nước và
ngày càng phát triển trong cuộc đấu tranh chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức
khoẻ nhân dân. Cũng như y học cổ truyền Trung Quốc, cơ sở để xây dựng lý luận y
học cổ truyền Việt Nam không tách rời thuyết âm dương - ngũ hành. Thuyết này
được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và nhiều nhà tư tưởng vận dụng để triển khai
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 23
Âm dương Ngũ hành trong Y học
các vấn đề y học cổ truyền cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn lâm sàng. Song
sự vận dụng đó thường mang tính phiến diện, hoặc không để lại trước tác cho đời
sau, hoặc có để lại nhưng đã thất truyền. Chỉ đến khi bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh
của Lê Hữu Trác xuất hiện, thuyết âm dương - Ngũ hành mới thực sự được đề cập
một cách sâu sắc, toàn diện để xem xét mọi vấn đề của y học đương thời với tư cách
là một cơ sở triết học quan trọng của y học. Đây là tác phẩm y học đầu tiên trong
lịch sử y học Việt Nam đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa việc xây dựng và phát triển
nhưng trong quá trình tồn tại và sinh hoạt, các mặt âm dương, khí huyết trong cơ thể
con người trở nên "thiên lệch" thì bệnh tật bắt đầu nảy sinh. Theo ông, Thuỷ hoả là
gốc sinh ra con người, Thuỷ hoả phải cân bằng mà không nên chểnh lệch, nên giao
hợp mà không nên phân chia. Đó là nguyên tắc tương giao tương hợp giữa Thủy và
Hoả trong giới tự nhiên mà cả Kinh Dịch và Nội kinh đều phải thừa nhận.
Dựa trên quan niệm Thuỷ hoả hay quan niệm tâm thận như trên, ông đã đề ra
một đường lối tổng quát về điều trị bệnh tật nói chung, đó là đường lối bổ thận. Ông
đã sử dụng hai bài bổ thận trong cổ phương là “Lục vị" và "Bát vị" để điều chỉnh âm
dương (Thuỷ hoả). Nhờ đó, ông đã điều trị có hiệu quả nhiều bệnh hiểm nghèo.
Quan niệm của Hải Thượng Lãn Ông về Thuỷ hoả với phương hướng điều trị
lấy việc bồi bổ cơ thể làm chính mà trước hết là bổ thận, đã trở thành luồng tư tưởng
quán xuyến trong hầu hết các chương mục của bộ Hải thượng Y tông tâm lĩnh.
Chính trên cơ sở khoa học đó mà ông có nhiều sáng kiến và chế tạo ra nhiều phương
thuốc độc đáo phù hợp với thực tiễn lâm sàng ở Việt Nam.
Hải Thượng Lãn Ông đã vận dụng một cách đúng đắn thành tựu y học và triết
học phương Đông cổ đại, đặc biệt là thuyết âm dương - ngũ hành, vào thực tiễn y
học Việt Nam. Lý thuyết âm dương - ngũ hành đã được vận dụng và phát triển thêm
một bước mới. Nó không chỉ khẳng định vai trò không thể thiếu được của thuyết này
trong việc vận dụng và phát triển lý luận y học cổ truyền phương Đông, mà còn chỉ
ra vai trò to lớn của triết học đối với sự phát triển của y học cổ truyền phương Đông
nói chung và y học cổ truyền Việt Nam nói riêng.
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 25