TIỂU LUẬN THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT ĐỐI VỚI NỀN Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI SỐ 5: HVTH: ĐẬU CAO SANG
NHÓM: 6
STT: 90
LỚP: K20 – ĐÊM 1
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA TP.HCM 05/2011
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1 Mục Lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2
I. Thế nào là "Âm dương" 2
II. Thuyết Âm – Dương 2
III. Thế nào là “Ngũ hành” 3


Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn Đề tài:
Kể từ sau khi xuất hiện tác phẩm “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” và với ảnh
hưởng mạnh mẽ của tác phẩm này, thuyết Âm dương - Ngũ hành ngày càng được
các nhà tư tưởng phát triển và vận dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có
lĩnh vực Y học ở Trung Quốc và một số nước phương Đông khác. Y học cổ truyền
phương Đông đã dựa trên cơ sở lý luận thuyết Âm dương - Ngũ hành để phòng trị
bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người. Chính vì thế, việc tìm hiểu học thuyết
Âm dương - Ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học
cũng như nền Y học Phương Đông.
2. Mục tiêu của Đề tài:
Trên cơ sở làm sáng tỏ thuyết Âm dương Ngũ hành của triết học Phương
Đông và ảnh hưởng của nó đối với nền y học, đề tài còn đi sâu nghiên cứu các ứng
dụng thực tế của nó trong việc điều trị và chẩn bệnh hiện nay. Đồng thời làm rõ mô
hình kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền Đông Phương.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Thuyết Âm dương – Ngũ hành và sự ảnh hưởng của nó đến nền y học
Phương Đông. Sự kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền Đông Phương.
4. Phương Pháp Nghiên Cứu:
4.1. Cơ sở phương pháp luận:
Đề tài được triển khai dựa trên nội dung của thuyết Âm dương - Ngũ hành và
giá trị của nền y học Phương Đông và y học hiện đại.
4.2. Các phương pháp cụ thể:
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, các phương pháp nghiên cứu
đã được sử dụng như: Phương pháp lịch sử, Phương pháp phân tích tổng hợp,…

nhất, giao cảm với nhau mà Âm và Dương có động, mà động thì sinh ra biến; biến
tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cửu được. Như vậy, sự
thống nhất và tác động của hai lực lượng, khuynh hướng đối lập Âm và Dương tạo
ra sự sinh thành biến hóa của vận vật; nhưng vạn vật khi biến tới cùng thì quay trở
lại cái ban đầu.
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 3

Âm và Dương tác động chuyển hóa lẫn nhau, Dương cực thì Âm sinh, Dương
tiến thì Âm lùi, Dương thịnh thì Âm suy… và ngược lại.
III. Thế nào là “Ngũ hành”:
Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế
giới này đều do năm yếu tố ban đầu là “nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại” tức Ngũ
hành “thủy, hỏa, thổ, mộc, kim”.
Ngũ hành tương sinh: thuộc lẽ thiên nhiên, nhờ nước cây xanh mọc lớn lên
(thủy sinh mộc), cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hỏa, tro tàn tích lại đất vàng
thêm (hỏa sinh thổ), lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim), kim loại vào lò
chảy nước đen (kim sinh thủy).
Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc
thổ), đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thủy), nước dội nhiều nhanh dập lửa
ngay (thủy khắc hỏa), lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hỏa khắc kim), thép cứng rèn
dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc).
IV. Thuyết Ngũ hành:
Học thuyết Ngũ hành chủ yếu nói về mối quan hệ phức tạp thể hiện ở quy
luật sinh - khắc - chế - hoá và bổ sung cho thuyết Âm Dương hoàn bị hơn.
Tinh thần cơ bản của thuyết Ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ
nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc
kết hợp với hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ nhằm biểu thị mọi sự biến hoá
phức tạp của sự vật.

quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Quy luật chế hoá Ngũ
hành là:
− Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc.
− Hỏa khắc kim, kim sinh thủy, thủy khắc hỏa.
− Thổ khắc thủy, thủy sinh mộc, mộc khắc thổ.
− Kim khắc mộc, mộc sinh hỏa, hỏa khắc kim.
− Thủy khắc hỏa, hỏa sinh thổ, thổ khắc thủy.
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 5

V. Mối quan hệ giữa Âm dương và Ngũ hành:
Thời Chiến quốc, Trâu Diễn đã kết hợp hai học thuyết này để giải thích các
sự vật, sự việc, qua đó giúp lĩnh vực khoa học tự nhiên được phát triển. Cuối thời
Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa
thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.
− Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp Âm dương, Ngũ hành giữa
con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí.
− Hướng thứ hai: Tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học
Âm dương Ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học.
Từ đó, các nhà y học phương Đông đã vận dụng hai học thuyết này như một
lý luận cơ bản cho nền y học phương Đông. Các nhà y học phương Đông cho rằng:
“Cơ thể con người có rất nhiều bộ phận (tạng phủ kinh lạc ), mỗi bộ phận đều có
Dương và Âm được phân loại vào Ngũ hành, cho nên chỉ dùng riêng một học thuyết
để giải thích và phân tích vấn đề của con người có lúc sẽ không được toàn diện. Chỉ
khi nào kết hợp cả hai học thuyết thì mới có thể thu được kết quả đầy đủ. Như Ngũ
tạng, Lục phủ thì tạng là âm, phủ là dương, muốn giải thích sự phát triển của tạng
(phủ) thì dùng học thuyết Âm dương để thuyết minh. Nếu nói về quan hệ sinh lý
bệnh lý giữa tạng phủ thì dùng học thuyết Ngũ hành để thuyết minh vì giữa ngũ tạng
có quan hệ tương sinh tương khắc, hợp lại là quy luật chế hoá, tương thừa tương

lạc là đường qua lại vận hành khí huyết trong cơ thể, có tác dụng nối liền bên trong
và bên ngoài, che phủ toàn thân. Dưới tình hình bệnh lý, công năng hệ thống kinh
lạc xảy ra biển đổi, sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh và đặc trưng cơ thể tương ứng.
Thông qua những biểu hiện này, có thể chẩn đoán bệnh tật tạng phủ trong cơ thể.
II. Sự vận dụng thuyết Âm dương – Ngũ hành vào lĩnh vực y học của người
Phương Đông:
2.1. Âm dương Ngũ hành và Cơ thể:
2.1.1. Âm dương và cơ thể:
a. Trên là Âm, dưới là Dương:
Theo cách phân chia này thì đầu là “Âm” và chân là “Dương”.
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 7

Người khỏe mạnh, trên mát (âm), dưới ấm (dương), tức Thủy giao xuống
dưới, Hỏa giao lên trên, gọi là Thủy hỏa ký tế.
Ngược lại, khi bị bệnh thì trên nóng (dương) dưới lạnh (âm), tức là Thủy hỏa
không tương giao với nhau gọi là Thủy hỏa vị tế.
b. Bên trái là Dương, bên phải là Âm:
Theo các nhà nghiên cứu, khi chuyển động trái đất tạo nên một dòng điện gọi
là địa từ lực lôi cuốn mọi vật - địa từ lực này mang đặc tính âm. Lực của trái đất là
Âm, do đó sẽ hút lực Dương, vì thế có thể coi như chân trái mang đặc tính Dương.
Điều này rất có giá trị trong việc điều trị bằng châm cứu khi phải chọn huyệt để
châm.
c. Trong (Bụng, Ngực) là Âm, Ngoài (Lưng) là Dương:
“Thiên Ngũ Tạng Sinh Thành Luận” ghi: "Phù ngôn chi Âm dương, Nội vi
Âm, ngoại vi Dương, Phúc vi Âm, Bối vi Dương" (Nói về Âm dương, trong thuộc
Âm, ngoài thuộc Dương, bụng thuộc Âm, lưng thuộc Dương).
d. Âm dương và Tạng Phủ
(2)

Ứng dụng Ngũ hành vào mặt sinh lý con người là đem ngũ tạng sánh với Ngũ
hành, dựa vào đặc tính sinh lý của ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành.
Can và Hành mộc: tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của
Can là một vị tướng, vì thế dùng hành Mộc ví với can.
Tâm và Hành hỏa: Lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và
lưỡi, vì thế dùng hành Hỏa ví với Tâm.
Tỳ và Hành thổ: Đất là mẹ đẻ của muôn vật giống là con người sinh tồn
được là nhờ vào các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế dùng Hành thổ ví với
Tỳ.
Phế và Hành kim: Kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người
phát ra tiếng nói nhờ Phế, vì thế dùng hành Kim ví với Phế.
Thận và Hành thủy: Nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ,
giống như nước uống vào thì một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường
tiểu bài tiết ra ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận.
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 9

2.3. Âm dương Ngũ hành và Bệnh lý:
2.3.1. Âm dương và Bệnh lý:
a. Quá trình phát sinh bệnh:
Mỗi hiện tượng đều có 2 mặt: một Dương (hưng phấn) và một Âm (ức chế).
Nếu một trong hai tác động trên mạnh hoặc suy kém khác thường làm cho mất trạng
thái quân bình, Âm dương sẽ dẫn tới tình trạng bệnh lý gọi là thiên suy hoặc thiên
thắng (Xem hình 4, phụ lục 7)
− Thiên Thắng: Dương thắng quá, gây chứng nhiệt (sốt, tiểu đỏ ). Âm thắng
gây chứng hàn (lạnh, tiêu chảy ).
− Thiên Suy: Dương hư (lão suy, hưng phấn, thần kinh giảm ). Âm hư (mất
nước, ức chế thần kinh giảm ).
Tuy nhiên, nếu Âm suy quá thì Âm bị bệnh sinh ra chứng nội nhiệt, gọi là

xáo trộn ở các Hành, Tạng phủ, cơ quan.
2.4. Âm dương Ngũ hành và Chẩn bệnh:
Trong điều trị bệnh, việc chuẩn đoán chính xác triệu chứng là yếu tố then
chốt dẫn đến cách chữa bệnh hữu hiệu.
2.4.1. Âm dương và Chẩn bệnh:
Việc chẩn đoán bệnh tật cần phải dựa vào sự biến hoá của Âm dương vì Âm
dương mất điều hoà là gốc của sự biến hoá bệnh lý. Dù dùng cách biện chứng nào
(theo tạng phủ, theo kinh lạc, theo khí huyết tân dịch, theo lục kinh, theo vệ khí dinh
huyết, theo tam tiêu) cũng đều quy về bát cương là biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực và
Âm dương (tổng cương). Biểu chứng, nhiệt chứng, thực chứng đều thuộc về Dương.
Lý chứng, hàn chứng, hư chứng đều thuộc về Âm. Cho nên bệnh tình tuy thiên biến
vạn hoá song không ra ngoài phạm vi của Âm dương.
2.4.2. Ngũ hành và Chẩn bệnh:
Căn cứ vào các triệu chứng xuất hiện qua Ngũ hành như: Ngũ sắc, Ngũ vị,
Ngũ quan, Ngũ chí để tìm ra tạng phủ tương ứng bệnh.
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 11

Theo y học phương Đông, Ngũ hành gồm 5 yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa,
Thổ gắn liền với 5 cơ quan: trán, mũi, cằm, 2 má và gắn liền với sự vận động đang
xảy ra bên trong cơ thể như: tim, phổi, thậm chí cả trí não và trạng thái tinh thần
− Trán:Trán (nhân tố Hỏa) liên quan mật thiết đến tim, ruột non và yếu tố tinh
thần.
− Mũi:Mũi (nhân tố Thổ) là cơ quan biểu hiện tình trạng sức khỏe của dạ dày,
lá lách và tuyến tụy.
− Cằm: Cằm (nhân tố Thủy) liên quan đến thận và bàng quang, bao gồm cả hệ
thống hormon và các tuyến trên cơ thể.
− Má phải: Má phải (nhân tố Kim) kết nối với phổi và ruột già.
− Má trái: Má trái (nhân tố Mộc) gắn liền với gan, túi mật.

chiều ly tâm). Các kinh Dương ở tay, đi xuống, tức từ các ngón tay đi
vào ngực, nách (theo chiều hướng tâm).
• Các kinh âm ở chân, đi lên, tức từ các ngón chân đi lên đầu mặt (theo
chiều hướng tâm). Các kinh dương ở chân đi xuống, tức từ đầu mặt đi
xuống chân (theo chiều ly tâm).
− Theo nguyên tắc trong ngoài:
Âm trong, Dương ngoài thì các kinh ở phía trong chân, tay thuộc âm (Phế,
Tâm, Tâm bào, Thận, Can, Tỳ) và các kinh ở phía ngoài chân tay thuộc dương (Đại
trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang, Đởm, Vị). Ngoài ra, bụng thuộc Âm
nên Nhâm mạch thuộc âm, lưng thuộc dương nên Đốc mạch thuộc Dương.
b. Âm dương Và Huyệt:
Để phân biệt huyệt vị theo Âm dương, có thể theo một số nguyên tắc sau:
Bên trái là Dương, bên phải là Âm, do đó các huyệt bên trái mang đặc tính dương
(hưng phấn) gọi là Dương huyệt. Các huyệt bên phải mang đặc tính âm (ức chế) gọi
là âm huyệt. Việc phân biệt âm huyệt, dương huyệt có giá trị rất lớn trong việc chọn
huyệt điều trị cho thích hợp. Thí dụ bệnh Phế (xem phụ lục 4).
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 13

2.6.2. Ngũ hành và Châm cứu:
Các kinh thư cổ đã áp dụng Ngũ hành vào một số huyệt vị nhất định là Tỉnh,
Vinh (Huỳnh), Du, Kinh, Hợp, gọi là Ngũ du huyệt.
Sự sắp xếp thứ tự của Ngũ du không thay đổi nhưng thứ tự của Ngũ hành lại
thay đổi tùy thuộc vào Âm dương của đường kinh. Kinh âm khởi đầu bằng Mộc,
kinh dương bắt đầu bằng Kim, sau đó cứ theo thứ tự tương sinh mà sắp xếp huyệt.
Ngũ Du Tỉnh Vinh (Huỳnh)

Du Kinh Hợp
Kinh Âm Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy

Thí dụ: Mộc sinh Hỏa thì thay vì tả Mộc lại tả Hỏa. Do đó, trong châm cứu,
thay vì Tả Huyệt Đại Đôn (Mộc huyệt của can) lại Tả huyệt Hành gian (Hỏa
huyệt của Can).
b. Tương khắc:
Dùng quy luật tương khắc để điều chỉnh rối loạn giữa các hành, ví dụ: người
bệnh xuất huyết.
Huyết màu đỏ thuộc Hỏa, có thể dùng những vị thuốc màu đen (hoặc sao
cháy thành than) như Cỏ mực, Trắc bá, để chữa, vì màu đen thuộc Thủy, Thủy
khắc Hỏa.
2.8. Âm dương Ngũ hành và Phòng Bệnh:
2.8.1 Âm dương và Phòng Bệnh:
Dương sinh dương, cơn nóng giận, tức tối sẽ sinh nóng giận tức tối khác,
cần làm âm hóa chúng bằng những tư tưởng và hành động âm như nghĩ đến những
sự yên tĩnh, hoà bình, dùng những lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, đến những nơi
thanh tĩnh, yên lặng,
Âm sinh âm, sự chán nản, buồn phiền, sẽ dẫn đến chán nản buồn phiền
khác. Cần làm dương hóa chúng bằng những tư tưởng và hành động dương như hoạt
động tích cực, hăng say, dùng những lời nói quyết đoán phấn khởi,
2.8.2 Ngũ hành và Phòng Bệnh:
Dựa vào Ngũ hành vận khí để biết được đặc điểm của bệnh tật từng năm để
dự phòng.
Dựa vào màu sắc, khí, vị của thức ăn, mà biết bệnh gì nên ăn hoặc kiêng
những gì.
2.9. Điều hòa Âm dương Ngũ hành:
2.9.1 Thế nào là điều hòa Âm dương và Ngũ hành:
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 15

Âm dương đối lập nhưng vận động thống nhất, có mức độ, có trật tự, hợp

Chương 3: MÔ HÌNH KẾT HỢP Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ Y
HỌC CỔ TRUYỀN ĐÔNG PHƯƠNG
I. Vai trò Phương pháp luận
Cốt tủy của một nền y học, cái làm cho một nền y học có giá trị độc đáo,
chính là phương pháp luận, là y lý của nó. Thật vậy, như chúng ta đã biết phần
đông những cây thuốc, con thuốc, huyệt vị châm cứu không thuộc riêng của dân
tộc nào, và ngày nay hầu như ai cũng biết dùng. Nhưng mỗi dân tộc, mỗi khoa
học sử dụng chúng một cách khác nhau, và vì cách sử dụng khác nhau đó mà
mỗi nền y học có một sắc thái riêng. Cái sắc thái khác nhau đó chính là ở phương
pháp tư tưởng, ở y lý.
Nếu như có nhiều con đường đi tới La Mã, thì cũng có nhiều con đường đi tới
một mục đích chung của Y học. Nói cách khác, có nhiều cách nhìn, nhiều cách
vận dụng, nhiều phương pháp chẩn đoán và trị liệu khác nhau. Y học cổ truyền
dân tộc vốn đã có phương pháp đặc biệt của mình.
Nhiệm vụ khoa học trong mỗi y học là qua thực tiễn nghiên cứu của mình mà tìm
ra được những qui luật, và vận dụng được những qui luật đó để cải tạo hiện thực.
Do đó, Y lý là phần tinh hoa nhất, là đỉnh cao nhất của mỗi nền y học. Nếu
không có qui luật thì chúng ta mới chỉ có kinh nghiệm rải rác về các sự kiện mà
chưa mang tính chất khoa học, và chỉ khi nào có qui luật thì nền y học mới mang
tính chất khoa học mà thôi.
Ðã có nhiều người có quan điểm "khứ y tồn dược" chỉ chú ý vận dụng các
phương tiện của y học cổ truyền, nhưng không mấy lưu tâm, thậm chí coi thường
quá trình tư duy quyết định những thành công đó. Như vậy là họ chưa thấy được
khía cạnh khoa học trong y học cổ truyền, chưa biết thừa kế cái quí nhất của y
học cổ truyền là phương pháp luận, là y lý của người xưa, cái mà từ đó nẩy sinh
ra biết bao thắng lợi của nền y học dân tộc và phương đông nói chung.
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 17



Thật ra, không được loại trừ bất cứ sự kiện nào phát hiện được, sự kiện nào,
triệu chứng nào cũng đều là những tư liệu quí báu. Vấn đề quan trọng là phải có
một cách nhìn thống nhất và toàn diện về mọi tư liệu đó. Mỗi một tư liệu mới
xuất hiện là một thử thách mới đối với phương pháp nhận thức của chúng ta, chứ
không phải vì phương pháp nhận thức của mình mà thâu nhận hay loại bỏ sự
kiện hiện thực đó.
2.1.2. Kết hợp lâm sàng và cận lâm sàng
Việc kết hợp lâm sàng và cận lâm sàng không phải là việc đơn giản mà là
một cuộc đấu tranh giữa phép biện chứng và phép siêu hình.
Trên thực tế, đã có nhiều người đánh giá thấp vai trò lâm sàng và chỉ tin vào thực
nghiệm mà thôi. Những người này đã rơi vào chủ nghĩa cơ giới, phủ định sự
khác biệt về chất giữa sự sống và sự chết, qui một cách máy móc các hiện tượng
của sự sống thành các qui luật hóa học.
Ngược lại, có khá nhiều ngươì đánh giá thấp vai trò thực nghiệm và chỉ chú
trọng đến lâm sàng. Những ngươì này đã rơi vào phương pháp trực giác, duy tâm
chủ quan.
Trong công tác kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại, đã có nhiều thầy
thuốc tây coi thường giá trị lâm sàng của Ðông y. Ngược lại cũng có nhiều thầy
thuốc ta vì quá tin yêu Ðông y mà bất bình trước yêu cầu xét nghiệm khách quan.
Thật ra, cả hai quan điểm trên đều phiến diện, vì những tư liệu lâm sàng và cận
lâm sàng không đối lập nhau, trái lại bổ sung cho nhau làm sáng tỏ thêm nhiều
mặt của đối tượng nghiên cứu.
2.1.3. Kết hợp tư liệu của các khoa học khác
Sức khỏe của con người quan hệ mật thiết với rất nhiều yếu tố tự nhiên giới
và xã hội. Tách con người ra khỏi tự nhiên và xã hội, tách y học ra khỏi các khoa
học khác, tức mới chỉ nhìn một bộ phận trong toàn bộ hoạt động tác động qua lại
lẫn nhau giữa con người và hoàn cảnh của nó. Do đó, kết hợp những tư liệu lâm
sàng và cận lâm sàng trong y học là chưa đủ mà còn phải kết hợp nhiều tư liệu
của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội khác nữa, như vật lý học, hóa học,

ngũ hành, tạng tượng, kinh mạch, thiên nhân tương hợp vẽ ra được bức tranh
của vũ trụ và con người, trong đó nêu ra được trạng thái biến dịch, giao dịch theo
những qui luật bất dịch của giới tự nhiên
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 20

Từ quan sát, trực giác, từ vận động luận và mâu thuẫn luận bước đầu của
khoa học tự nhiên, Y học cổ truyền phương Ðông đã vẽ ra được một bức tranh
thủy mạc về toàn thể con người với những nét chấm phá đơn sơ của 5 khí Mộc
Hỏa Thổ Kim Thủy, 12 tạng tượng, 18 kinh mạch Bức tranh trên tuy cơ bản là
đúng đắn, nhưng lại thiếu quá nhiều chi tiết:
- Nói đến khí hóa nhưng không biết cái gì đang biến hóa, và biến hóa như thế
nào.
- Nói đến tạng phủ nhưng không biết đầy đủ cái gì trong phủ tạng.
- Nói đến kinh nguyệt nhưng không biết rõ cơ sở vật chất của chúng là gì
Chừng nào chúng ta chưa đi sâu vào các chi tiết cụ thể thì mới chỉ thấy rừng
mà không thấy cây nên chưa thể có một bức tranh toàn diện về con người. Muốn
nhận thức các chi tiết ấy, cần phải có khả năng phân tích mổ xẻ của khoa học tự
nhiên.
Có thể nói, Y học cổ truyền đông phương đã vẽ ra được một bức tranh triết
học về con người trong vũ trụ với những khái niệm, những qui luật chung và
thiếu rất nhiều chi tiết cụ thể, thiếu rất nhiều qui luật riêng để trở thành một bức
tranh khoa học toàn diện. Ðó là mặt giới hạn do điều kiện lịch sử qui định.
Nếu y học cổ truyền dân tộc và Ðông y nói chung không còn dựa trên những
phương pháp luận riêng của Âm dương, Ngũ hành, Tạng tượng, Kinh lạc thì sẽ
không còn cái chất y học cổ truyền đông phương nữa, thì một cách nhìn, một
cánh cửa bị khép lại. Nhưng nếu y học cổ truyền không được kết hợp với y học
hiện đại để bổ túc những mặt khiếm khuyết của mình về tư liệu cũng như về
phương pháp thì vĩnh viễn là y học cổ điển không một bước để chuyển thành y

nghiên cứu, tùy từng bước phát triển của khoa học kỹ thuật mà đã có nhiều phương
pháp và phương tiện kỹ thuật khác nhau: Phương pháp quan sát tự nhiên, phương
pháp thực nghiệm, phương pháp thống kê, phương tiện kính hiển vi, điện tâm đồ,
điện não đồ, X quang, các xét nghiệm sinh hóa, sinh vật lý phương pháp và
Âm dương Ngũ hành trong Y học
Nhóm 6 – K20 – Đêm 1
Trang 22

phương tiện càng tinh vi chính xác thì kết luận càng mang tính chất khoa học cao
đáng tin cậy.
Y học dân tộc cổ truyền với phương pháp luận của mình đã có khả năng đưa ra
nhiều giả thuyết được xác minh bằng thực tiễn lâm sàng lặp đi lặp lại nhiều lần. Do
phương pháp và phương tiện kỹ thuật có nhiều mặt hạn chế nên y học cổ truyền
không thể đi sâu vào trong "hộp đen" bí ẩn của con người và tự nhiên giới mà chỉ
nghiên cứu những đại lượng vào và những đại lượng ra, chỉ thâu thập được những sự
kiện, những hiện tượng bên ngoài rồi suy đoán những hiện tượng, những hiện tượng
bên trong bản thân hộp đen đó. Vai trò lý luận Ðông y trở nên hết sức quan trọng bởi
trong nội dung lý thuyết đã bao hàm nội dung thực tiễn, làm cho lý luận và thực tiễn
gắn quyện vào nhau.
Tính khoa học trong y học dân tộc cổ truyền có giá trị nhất định trong điều kiện
lịch sử của nó nhằm giải quyết những yêu cầu lịch sử của nó. Ðối với ngày nay, y
học dân tộc cổ truyền đã mở ra cho chúng ta vô số đề tài để tiếp tục nghiên cứu
chứng minh (mà sự đề xuất giả thuyết nghiên cứu thì còn khó hơn nhiều so với thực
hiện nghiên cứu khoa học). Tuy nhiên những nhà y học vẫn có quyền không tin vào
lý thuyết, giả thuyết đề ra chừng nào chúng ta chưa chứng minh thực tiễn của nó trên
cơ sở những phương pháp nghiên cứu khoa học đúng đắn.Mặt khác, cũng cần nhấn
mạnh thêm mối quan hệ biện chứng giữa lý thuyết và thực tiễn. Nhiều khi lý thuyết
đi trước chứng minh khoa học về nó nhiều năm.
V. Thừa kế phát huy y lý cổ truyền dân tộc
5.1. Hiện đại hóa hệ thống lý luận Y học cổ truyền:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status